MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU: 1
B. NỘI DUNG: 1
I. Một số vấn đề lý luận về công cụ kinh tế trong quản lý môi
trường:
1
1,1. Khái niệm: 1
1.2. Các nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng các công cụ kinh
tế trong quản lý môi trường:
1
1.3. Vai trò của công cụ kinh tế trong quản lý môi trường:
4
1.4. Một số công cụ kinh tế được sử dụng trong quản lý môi
trường:
5
C. KẾT LUẬN
9
1
A. MỞ ĐẦU:
Ở Việt Nam hiện nay có thể nói rằng vấn đề môi trường đã là một vấn
đề thời sự nóng bỏng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ngày nay cùng với sự hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu đòi hỏi chúng ta
phải có những lỗi lực phát triển. Tuy nhiên cùng với những lỗi lực phát triển
ấy là vấn đề môi trường đang bị đe doạ nghiêm trọng, tình hình này đã tạo lên
những mâu thuẫn gay gắt trên con đường phát triển của đất nước, giữa bảo vệ
môi trường và phát triển kinh tế. Đứng trước thách thức đó đòi hổi nhà nước
phải có những biện pháp quản lý thích hợp để dung hoà giữa phát triển kinh tế
và bảo vệ môi trường. Trong đó công cụ kinh tế đã bắt đầu được quan tâm áp
dụng trong quản lý môi trường bước đầu áp dụng đã mang lại những kết quả
nhất định. Chính vì vậy, em xin tìm hiểu đề tài: “ Một số vấn đề lý luận (vai
1
Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật môi trường, Nxb. Cand, Hà Nội, 2011.
2
Cũng theo nguyên tắc PPP thì chính phủ sẽ không được tài trợ cho các
vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường, vì nếu Chính phủ trợ cấp sẽ làm tăng việc
gây ô nhiễm của các chủ thể hoạt động, mà người gây ô nhiễm phải đóng góp
tài chính ( có thể là tiền phí hoặc tiền thuế ) cho chính quyền, số tiền đó sẽ
được đưa vào quỹ bảo vệ môi trường và nó sẽ được tái đầu tư cho các công
trình môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm. Một khi các chủ thể hoạt động
phải đóng gáp tài chính như vậy họ sẽ phải cân nhắc giữa lợi ích và chi phí để
tứ đó điều chỉnh hành vi hoạt động của mình là có tiếp tục xả thải ra môi
trường không qua xử lý và chụi đóng góp tài chính hay là đầu tư một công
nghệ xử lý trước khi xả thải và không phài đóng góp tài chính. Chính vì vậy
mà mức đóng góp ( trả tiền cho hành vi gây ô nhiễm ) ở đây phải được xác
định đúng với giá trị lợi ích thu lại của môi trường hay nói cách khác các chi
phí mà họ bỏ ra phải bằng hoặc cao hơn chi phí xử lý hâu quả môi trường do
họ gây ra, có như vậy mới khuyến khích các doanh nghiệp hạn chế xả thải và
tự nguyện lắp đặt công nghệ xử lý trước khi xả thải.
Tuy nhiên nguyên tắc người gây ra ô nhiễm phải trả tiền cũng không
cần thiết phải tạo ra sự công bằng mặc dù nguyên tắc này quy định rằng người
gây ra ô nhiễm phải trả tiền, khi đó các chủ thể gây ra ô nhiễm (doanh nghiệp)
sẽ đối phó bằng cách nâng giá sản phẩm lên và họ đẩy chi phí phải trả cho vấn
đề môi trường sang người tiêu dùng gánh chịu. Mặt khác nguyên tắc này cũng
không cần thiết quy định nghĩa vụ pháp lý về tài chính và nó cũng không phải
là thuế môi trường - đó là một số mặt hạn chế của nguyên tắc này. Tuy nhiên
nó vẫn được các nước chập nhận rộng rãi là xuất phát từ một lý do kinh tế,
các doanh nghiệp áp dụng biện pháp bảo vệ môi trường thường có chi phí cao
hơn vì gánh chịu chi phí phòng ngừa hoặc chi phí xử lý ô nhiễm dẫn tới giá cả
cao hơn đã ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm của họ và như
vậy so với các đổi thủ kông áp dụng các biện pháp môi trường hó đã mất đi
gây ra thì ngược lại nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền lại cho rằng
những người được hưởng lợi từ môi trường phải trả một khoản tiền cho sự
hưởng lợi đó. Ta thấy rằng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền mang
tính chất khắc phục, xử lý cuối đường ống hậu quả của chủ thể hoạt động gây
ra ô nhiễm môi trường thì với nguyên tắc BPP lại mang tính chất phòng ngừa
là chính.
Thực hiện nguyên tắc BPP trong việc áp dụng các công cụ kinh tế trong
quản lý môi trướng sẽ tạo ra môt khoản thu đáng kể cho quỹ ảo vệ môi
trường. Với ý thức môi trường ngày càng cao và tốc độ ô nhiễm môi trường
nhanh chóng hiện nay thì ngày càng có nhiều người muốn hưởng thụ môi
trường trong lành từ đó họ sẽ sẵn sàng chấp nhận bỏ ra một khoản chi phí cho
việc hưởng thụ đó. Tuy nhiên khi thực hiện nguyên tắc này lại không khuyến
khích được chủ thể hành động có trách nhiệm bảo vệ môi trường trước hành
động của mình, và việc sử dụng nguyên tắc này cũng không được công bằng
trong khi có nhiều người không mong muốn trả tiền cho cải thiện môi trường
hoặc họ không có khả năng chi trả. Nhưng họ lại vẫn được hưởng ngoại ứng
tử việc chi trả của những người sẵn lọng chi trả cho việc hưởng thụ môi
trường của họ.. ở đây người được hưởng thụ môi trường cũng phải trả tiền.
1.3. Vai trò của công cụ kinh tế trong quản lý môi trường:
Trong lịch sử phát triển kinh tế của toàn cầu đã cho thấy rằng, giữa phát
triển kinh tế và bảo vệ môi trường có mối quan hệ khăng khít gắn bó không
thể tách rời. Hay nói cách khác hệ thống môi trường và hệ thống kinh tế là
hai bộ phận của một thực thể không thể tách rời. Nền kinh tế không thể hoạt
động nếu tách khỏi hệ thống môi trường, hệ thống môi trường đóng vai trò là
đầu vào quan trọng cho quá trình hoạt động sản xuất và nó là nơi tiếp nhận
mọi đầu ra của hệ kinh tế.
4
Trước đây trong quản lý môi trường các nước trên thế giới chỉ sử dụng
những quy định pháp lý để điều chỉnh hành vi liên quan tới môi trường hầu
như đã không đạt được hiệu quả như mong muốn. Mặt khác các tổ chức môi
những thông tin phản hồi nhanh hơn và nắm bắt được tính hiệu quả của việc
thực hiện quản lý sử dụng quản lý điều hành.
Tóm lại, việc kết hợp giữa các yếu tố pháp lý vào trong các công cụ
kinh tế trong quản lý môi trường đã và đang mang lại nhiều hiệu quả to lớn
trên con đường phát triển bền vững của nền kinh tế của các quốc gia và toàn
cầu.
1.4. Một số công cụ kinh tế được sử dụng trong quản lý môi trường:
Thuế tài nguyên:
2
Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/cong-cu-kinh-te-trong-quan-ly-moi-
truong.373007.html.
5