TIỂU LUẬN:
Bước đầu nghiên cứu áp dụng
các công cụ kinh tế cho quản lý
môi trường ở Hà nội
Lời mở đầu
Môi trường đóng một vai trò cực kỳ to lớn, nó có tính chất quyết định đối
với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế và sự sống của con người, bởi vì nó
không chỉ cung cấp các nguồn tài nguyên (đầu vào) cho các quá trình sản xuất,
cung cấp tiện nghi sinh hoạt cho con người mà còn là nơi chứa đựng và hấp thụ
những chất thải của con người thải ra.
Bảo vệ môi trường ngày nay trở thành cấp thiết đối với tất cả các quốc gia
trên thế giới. ở Việt nam, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, phương pháp:
“Mệnh lệnh – kiểm tra” đã và đang được sử dụng để thực hiện các mục tiêu về môi
trường. Song, trong cơ chế mới - cơ chế kinh tế thị trường: “Mệnh lệnh – kiểm tra”
chưa thể tạo điều kiện tốt để các doanh nghiệp lựa chọn được giải pháp tối ưu tuân
thủ qui định của nhà nước về bảo vệ môi trường.
Hiện nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, qúa
trình công nghiệp hoá và đô thị hoá diễn ra nhanh chóng đã và đang gây ô nhiễm
ngày càng tăng đối với môi trường nói chung và môi trường đô thị của thủ đô nói
cụ kinh tế cho quản lý môi trường ở Hà nội”. Chuyên đề của em gồm các phần
chính như sau:
Chương I: Cơ sở khoa học của việc sử dụng công cụ kinh tế cho quản lý môi
trường. Phần này trình bày các cơ sở phương pháp luận, cơ sở khoa học – Thực
tiễn, cơ sở pháp lý của việc ứng dụng các công cụ kinh tế, bản chất nội dung, đồng
thời giới thiệu sơ lược về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường.
Chương II: Thực trạng sử dụng công cụ kinh tế cho quản lý môi trường ở Hà nội.
Chương này nêu lên thực trạng ô nhiễm môi trường và quản lý môi trường trên địa
bàn Hà nội.
Chương III: áp dụng công cụ kinh tế cho quản lý môi trường ở Hà nội. Phần này
đưa ra những cơ sở lý luận của những kiến nghị về chính sách và các giải pháp áp dụng công cụ kinh tế để nâng cao năng lực quản lý môi trường đô thị ở Việt nam
nói chung và Hà nội nói riêng.
Chương I: Cơ sở khoa học của việc sử dụng công cụ kinh tế cho quản lý môi
trường
I. khái niệm chung về quản lý môi trường, sự cần thiết phải quản lý môi trường.
1. Khái niệm chung về quản lý môi trường.
Trước tiên chúng ta hiểu quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện
biến động của môi trường ngoài.
Quản lý môi trường là một dạng của quản lý. Đó là sự tác động liên tục, có
tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường nên cá nhân hoặc cộng
đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách
thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm
đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ
hiện hành.
Sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi
sau, vì lợi ích của cá nhân, cộng đồng địa phương, vùng, quốc gia, khu vực và
quốc tế.
II. Đối tượng, mục tiêu, nội dung và các nguyên tắc của quản lý nhà nước về môi
trường.
1. Đối tượng của quản lý môi trường.
Quản lý môi trường, trước hết là quản lý một hệ thống bao gồm các phần tử
(yếu tố) tự nhiên và nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người,
có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự
nhiên. Đó là một hệ thống bao gồm các phần tử của thế giới vô sinh và hữu sinh
hoạt động theo những qui luật khác nhau và có con người tham dự. 2. Mục tiêu của quản lý môi trường.
Mục tiêu chung, lâu dài và nhất quán của quản lý môi trường là nhằm góp
phần tạo lập sự phát triển bền vững. Đó là cách phát triển “Thoả mãn nhu cầu của
thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng thoả mãn nhu cầu của thế hệ
mai sau”. Và được xem là một tiến trình đòi hỏi sự tiến triển đồng thời của cả bốn
lĩnh vực: Kinh tế, xã hội nhân văn, môi trường và kỹ thuật với những mục tiêu cụ
thể của từng lĩnh vực. Giữa bốn lĩnh vực này có mối quan hệ tương tác rất chặt chẽ
và hành động trong lĩnh vực này có thể thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển.
Chẳng hạn néu muốn phát triển kinh tế theo kiểu bền vững, thì không thể không
chú ý đến những khó khăn nan giải về môi trường hoặc dựa vào sự huỷ hoại tài
nguyên thiên nhiên, và sự phát triển cũng không thể thành công, nêu snhư không
có sự phát triển đồng thời tài nguên nhân văn, nó cũng đòi hỏi sự chuyển dịch cơ
sở công nghiệp hiện tại, phát triển và quảng bá những kỹ thuật và công nghệ thân
thiện với môi trường, với hành tinh nói chung.
3. Nội dung của quản lý môi trường.
Quản lý môi trường được tiến hành ở cả cấp vĩ mô và vi mô.
ở cấp vĩ mô, quản lý môi trường bao gồm các nội dung sau đây:
+ Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi
lý.
+ Phải đảm bảo tính hệ thống, tính thống nhất, nhất quán và được bảo đảm
bằng pháp luật.
4.3. Các nguyên tắc quản lý môi trường. Các nguyên tắc quản lý môi trường phải phản ánh yêu cầu khách quan của
các qui luật tự nhiên, kinh tế xã hội đang chi phối quá trình quản lý môi trường.
Đối với nước ta, quản lý môi trường cần dựa và những nguyên tắc sau đây:
+ Bảo đảm tính hệ thống.
+ Bảo đảm tính tổng hợp.
+ Bảo đảm tính tập trung dân chủ.
+ Kết hợp quản lý theo nghành và quản lý theo lãnh thổ.
+ kết hợp hài hoà các lợi ích.
+ Tiết kiệm và hiệu quả.
III. Các công cụ quản lý môi trường.
1. Khái niên chung về công cụ quản lý môi trường.
Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp và phương tiện giúp cho việc
thực hiện những nội dung của quản lý môi trường được tốt hơn.
Phân loại công cụ quản lý môi trường, theo chức năng có ba loại: Công cụ
điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ. Theo bản chất gồm có các
công cụ luật pháp chính sách, công cụ kinh tế và công cụ kỹ thuật quản lý.
Xét trên giác độ kinh tế và quản lý môi trường về mặt nhà nước có thể phân
thành hai loại công cụ cơ bản:
+ Công cụ pháp lý.
+ Công cụ kinh tế.
2. Cưỡng chế hành chính bằng luật pháp và tiêu chuẩn.
2.1. Mệnh lệnh và kiểm soát (CAC).
Hai phương thức chính để kiểm soát và quản lý chất thải là mệnh lệnh và
kiểm soát và các chiến lược kinh tế. Kể từ khi khởi đầu các chính sách môi trường
soát ô nhiễm nào đó. Kết quả là, phương thức mệnh lệnh và kiểm soát ô nhiễm ít
khuyến khích đổi mới trong công nghệ kiểm soát ô nhiễm, một khi tiêu chuẩn đã đạt được rồi. Hơn nữa, phương thức này là không đủ và không hữu hiệu trong việc
giải quyết nhiều vấn đề kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải mà các nhà quản lý
môi trường gần đây đã gặp phải như: ô nhiễm không khí nguồn điểm (Nonpoint
source pollution) (Như nước thải Nông nghiệp và Đô thị), đổ bỏ chất thải rắn, các
vấn đề môi trường toàn cầu như suy giảm tầng ôzôn và sự thay đổi khí hậu.
Phương thức mệnh lệnh và kiểm soát để kiểm soát ô nhiễm mà quản lý chất
thải, chủ yếu dựa vào các công cụ pháp lý (Các tiêu chuẩn, các giấy phép, kiểm
soát việc sử dụng đất…).
2.2. Các tiêu chuẩn.
Tiêu chuẩn là phương tiện chính để trực tiếp điều chỉnh chất lượng môi
trường ở hầu hêt các nước phát triển. Chúng xác định các mục tiêu môi trường và
đặt ra số lượng hay nồng độ của các chất thải vào khí quyển, đất, nước hay được
phép tồn tại trong các sản phẩm tiêu dùng. Các loại tiêu chuẩn gồm: Các tiêu
chuẩn chất lượng môi trường xung quanh, tiêu chuẩn thải nước, khí, các tiêu chuẩn
dựa vào công nghệ, các tiêu chuẩn vận hành, các tiêu chuẩn sản phẩm và các tiêu
chuẩn về qui trình công nghệ. Các tiêu chuẩn cũng có thể bao gồm các qui cách kỹ
thuật và thiết kế của các kỹ thuật hoặc phương tiện và sự tiêu chuẩn hoá các
phương pháp lấy mẫu hoặc phân tích. Trong một số trường hợp, khi xây dựng các
tiêu chuẩn môi trường hoặc giới hạn thải bỏ đã cân nhắc đến việc chuyển các chất
thải từ một môi trường trung gian này sang sang một môi trường trung gian khác,
cũng như sự đáp ứng môi trường đối với chất ô nhiễm. Một loạt tiêu chuẩn được
dùng làm qui chế cho việc đánh giá hoặc mục tiêu hành động và kiểm soát pháp
lý. Nói chung, tiêu chuẩn là do Chính phủ trung ương xây dựng, tuy nhiên trong
một số trường hợp Chính phủ trung ương chỉ đặt ra những qui định khung để
chính quyền địa phương, khu vực thực hiện. Các tiêu chuẩn cấp bộ nghành nói
chung không kém chặt chẽ trừ các trường hợp thật đặc biệt, một số trường hợp có
đất, chiều cao, qui mô của các toà nhà hay cấu trúc khác trong những quận, huện đó (Ví dụ: Phần trăm tối đa diện tích mặt bằng có thể sử dụng được, so với tổng
diện tích lô đất) kích thước tối thiểu của lô đất được cấp và mật độ dân số. Do vậy,
khoanh vùng có thể ngăn ngừa việc bố trí các nghành công nghiệp gây ô nhiễm tại
các địa điểm không thích hợp làm ảnh hưởng tới địa phương.
Các biện pháp kiểm soát đối với việc sử dụng nước đặc biệt có thể được
tiêu dùng để giới hạn hoặc cấm việc phát triển năng lượng, khai thác tài nguyên
thiên nhiên tại bờ sông, đáy biển, các hoạt động giải trí (Câu cá, bơi, bơi thuyền)
và sử dụng có nhiều khả năng gây ô nhiễm khác, tại các vùng nước qui định.
Trong nhiều trường hợp, những qui định này tạo một bộ phận của các biện pháp
qui hoạch khu vực, hoặc qui hoạch đặc biệt, nhằm mục đích quản lý vùng ven
biển, các vườn quốc gia, các bờ biển và các khu bảo tồn.
3. Giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức.
3.1. giáo dục.
Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của quần chúng, mang tính xã hội rộng lớn,
đòi hỏi không ngừng nâng cao trình độ dân trí. Thông qua giáo dục, ý thức bảo vệ
môi trường của cá nhân và cộng đồng ngày một nâng cao. Thực tế cho thấy rằng ở
các quốc gia, các vùng, các địa phương khác nhau có những nhạn thức khác nhau
về môi trường và tầm quan trọng của nó. Cho nên, ý thức trách nhiệm bảo vệ môi
trường cũng khác nhau. Môi trường là ngôi nhà chung của nhân loại, là tài sản vô
giá của con người. Để bảo vệ môi trường tốt hơn, nâng cao không ngừng chất
lượng cuộc sống toàn diện của con người hướng tới một xã hội bền vững, cần phải
tiến hành giáo dục thường xuyên, tuyên truyền sâu rộng ở khắp mọi nơi, mọi lúc
về môi trường và bảo vệ môi trường.
Qua qúa trình đi thực tập vừa qua, theo ý kiến chủ quan của tôi thì việc giáo
dục môi trường cho mọi tầng lớp nhân dân ở Việt nam cần phải tập trung vào
những hướng chính sau đây:
+ Giáo dục môi trường và bảo vệ môi trường là môn khoa học bắt buộc đưa
vào đời sống xã hội một cánh không dễ dàng thì truyền thông môi trường cần phải được sử dụng và khai thác tối đa hiệu quả các lợi thế của nó, ngay trước mắt cũng
như thường xuyên, lâu dài để khơi dậy mọi nguồn lực trong cộng đồng cùng tham
gia vệ sinh môi trường, tức xã hội hoá công tác môi trường. Tuy nhiên, truyền
thông môi trường rất đặc biệt vì:
+ Môi trường là một hệ thống phức tạp.
+ Tác động và hậu quả của hành vi không phù hợp với môi trường không
dễ dàng thấy được ngay.
+ Nhiều người gây tác động đến môi trường thường không mang lại lợi
nhuận trực tiếp.
+ Đối tượng truyền thông là những người có trình độ học vấn, chuyên
môn, kinh nghiệm sống, vị trí xã hội… rất khác nhau.
Do đó, mục tiêu của truyền thông môi trường phải gắn liền với cộng đồng
qua các nội dung cụ thể sau:
+ Thông tin cho người bị tác động bởi các vấn đề môi trường biết tình
trạng của họ quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục.
+ Huy động, các kinh ngiệm kỹ năng, bí quyết địa phương tham giavào các
chương trình, kế hoạch bảo vệ môi trường.
+ Thương lượng hoà giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp môi trường
giữa các cơ quan, trong nhân dân.
+ Tạo cơ hội cho mọi thành phần trong xã hội tham gia vào việc bảo vệ
môi trường – xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường.
+ Thông qua đối thoại thường xuyên trong xã hội khả năng thay đổi các
hành vi sẽ được hữu hiệu hơn.
Ta có sơ đồ diễn tả mối liên hệ truyền thông môi trường như sau:
Xây dựng
chương
trình
truy
ền
Trình diễn
của các
phương tiện
truyền thông
và áp d
ụng
Tạo sản
phẩm và
làm th
ử
Thiết kế
thông
đi
ệp
Lựa chọn
phương tiện
truyền thông
và kết hợp
Đánh giá Lập kế hoạch Tạo sản phẩm
Hoạt động và phân phối
1
thông môi
trư
ờng
Vấn đề
môi
trư
ờng.
Thông tin về mức độ tuân thủ môi trường của các doanh nghiệp được thu
thập đầy đủ, chính xác , toàn diện nhiều mặt mang tính hỗ trợ bổ sung cho nhau.
Và thông tin này được phổ biến cộng đồng một cách phù hợp với hoàn cảnh địa
phương và phương thức ứng xử theo truyền thống văn hoá cộng đồng tại địa
phương.
Cộng đồng có ý thức về môi trường và hiểu biết về sử dụng thông tin từ đó
chủ động tham gia vào các hoạt động tại địa phương tạo ra những thách thức cho
các doanh nghiệp phải thay đổi hành vi về môi trường trong hoạt động kinh doanh
của mình.
4. Các công cụ kinh tế.
Khác với cách tiếp cận của công cụ pháp chế. Các công cụ kinh tế lấy
nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường làm cơ sở để cân bằng phát triển sản xuất
và bảo vệ môi trường, tạo điều kiện để công tác bảo vệ môi trường trở thành động
lực phát triển sản xuất. Các công cụ kinh tế sử dụng để đạt được mục tiêu môi
trường bằng cách tạo cơ hội và điều kiện để nhà sản xuất chuyển chi phí bảo vệ
môi trường gián tiếp cho người tiêu dùng. Bằng cách đó sẽ khuyến khích các nhà
sản xuất đầu tư bảo vệ môi trường xứng với mức đầu tư phát triển sản xuất.
Để hiểu rõ hơn và phù hợp với vai trò của công cụ kinh tế trong đề tài này.
Ta đi tìm hiểu về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường.
sự lựa chọn khác nhau.
Từ những trình bày trên ta thấy:
+ Công cụ kinh tế là một trong những phương tiện chính sách được sử dụng
để đạt tới mục tiêu môi trường thành công. + Công cụ kinh tế không phải là phương tiện chính sách riêng biệt mà
chúng được sử dụng thường xuyên cung với các phương tiện chính sách khác như
đã qui định pháp lý về “Mệnh lệnh và kiểm soát – CAC”.
1.2. Tại sao phải sử dụng công cụ kinh tế?
ở Việt nam, quan niệm công cụ kinh tế như là một phương tiện chính sách
quản lý môi trường là điều hoàn toàn mới mẻ. Trước thời kỳ đổi mới, quản lý đất
nước chủ yếu bằng mệnh lệnh, chỉ huy từ một trung tâm gần giống như CAC ở các
nước tư bản. Từ khi đổi mới đến nay, mặc dù tàn dư của chế độ cũ còn khá nặng
nề nhưng chúng ta đã từng bước đổi mới, nhìn nhận khôn khéo và khách quanhơn
trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế đất nước.
Trong hoạt động bảo vệ môi trường, khoảng 30 năm trước đây các nước tư
bản phương tây cũng chỉ áp dụng như công cụ quản lý “Mệnh lệnh và kiểm soát –
CAC” để quản lý môi trường, nhưng thực tế cho thấy chỉ bằng “Mệnh lệnh và
kiểm soát – CAC” đã không đạt được hiệu quả mong muốn. Bởi vì sự cắt giảm
dần năng lực quản lý môi trường, thêm vào đó là sự quan tâm tới môi trường mang
tính cứng nhắc, thiếu linh hoạt, CAC trở thành ưu tiên cao hơn phương tiện chính
sách thông qua giá cả.
Câu hỏi đặt ra là: Tại sao phương tiện chính sách thông qua cơ chế tài chính
lại có linh hoạt và mềm dẻo để cho mọi cá nhân, các doanh nghiệp và các công ty
có thể hưởng ứng giá mong muốn. Đó là vì ba điều thuận lợi chủ yếu:
+ Tăng hiệu quả đầu tư.
+ Khuyến khích nhiều hơn cho việc đổi mới.
+ Khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin tốt hơn.
2. Các nguyên tắc.
+ Thứ hai: Nếu thực hiện nguyên tắc PPP được dự kiến là dán đoạn quá
trình phát triển kinh tế xã hội trong một thời gian ngắn, thì những người gây ô
nhiễm vẫn có thể được trợ giúp tương tự như trên. Mặc dù nguyên tắc PPP tự nó sẽ còn phát triển tiếp tục nhưng gần đây, nó
đã được củng cố bởi bốn nguyên tắc cơ bản khác nhằm tạo ra các nguyên tắc chủ
đạo cho việc hoạch định các chính sách môi trường “ nguyên tắc phòng ngừa”, “
nguyên tắc hiệu quả kinh tế, tiết kiệm chi phí”, “nguyên tắc cấp dưới” và “nguyên
tắc hiệu quả về luật pháp”. Những nguyên tắc này đã bổ xung cho các thiếu sót của
nguuyên tắc PPP.
2.2 Nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền (BPP).
Nguyên tắc này chủ trương tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu
về môi trường. Đối nghịch với việc trực tiếp gây ô nhiễm phải trả tiền, người
hưởng thụ một môi trường đã được cải thiện cũng phải trả một khoản chi phí. Nói
cách khác là trong tất cả những ai hưởng lợi do có được môi trường trong lành,
không bị ô nhiễm thì đều phải nộp phí.
Nguyên tắc đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường với cách nhìn nhận
tương đối là việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trường cần được hỗ trợ từ
phía những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá cao chất
thải gây ô nhiễm môi trường.
Về thực chất, nguyên tắc BPP có thể được sử dụng như là một định hướng
hỗ trợ nhằm đạt được các mục tiêu môi trường, cho dù là mục tiêu bảo vệ hay là
phục hồi môi trường. Nếu mức phí có thể thu đủ để dành cho các mục tiêu môi
trường, thì lúc đó chính sách này có thể coi là chính sách có hiệu quả về môi
trường. Mục tiêu của BPP là nhằm bảo vệ môi trường, do đó nó được công chúng
ủng hộ rộng rãi.
Xét về mặt hiệu quả kinh tế, thì nguyên tắc BPP là nguyên tắc có tính phù
hợp cao, ví rằng hiệu quả kinh tế chỉ có thể đạt được nếu các nguồn lợi được sử
dụng tối ưu. Do vậy, hiệu quả kinh tế có thể đạt được nếu việc xác định mức phí,
tác bảo vệ môi trường, đền bù cho những người thiệt hại về môi trường phù hợp
với điều khoản được nêu trong luật”.
Điều 34 nêu rõ các đối tượng phải trả cho công tác bảo vệ môi trường. Các điều khoản của nghị định 175/CP đã chi tiết hoá và cụ thể hoá các điều
khoản luật bảo vệ môi trường. Đó là cơ sở cho việc nghiên cứu công cụ kinh tế và
công tác bảo vệ môi trường ở Việt nam.
3.3. Các văn bản liên quan khác.
Liên quan đến việc thực hiện áp dụng các công cụ kinh tế vào quản lý môi
trường ở Việt nam còn có nhiều văn bản khác của nhà nướcv các bộ liên quan như:
+ Quyết định số 276 ngày 28/7/1992nêu rằng tất cả các loại phí và lệ phí do
các cơ quan nhà nước thu cần được đăng ký tại cục thuế.
+ Thông tư 48TC/TCT về đăng ký thu phí và lệ phí ban hành 9/1992.
+ Nghị định số 26/CP ra ngày 26/4/1996 của chính phủ qui định sử phạt vi
phạm hành chínhvề bảo vệ môi trường.
Trong điều kiện 1 về nguyên tắc sử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi
trường, tại mục 1 và 5 nêu rõ.
“ Mọi hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các qui tấc quản lý nhà nước về bảo
vệ môi trường dưới đây gọi là vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường của các tổ
chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu tách nhiệm hình sự theo qui định của
pháp luật phải xử phạt hành chính”.
“ Việc sử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường phải căn cứ vào
tính chất mức độ thân nhân và những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để
quyết định hình thức xử phạt và các biện pháp xử lý thích hợp theo quyết định của
nghị định này”.
Các văn bản đã nêu trên tạo thêm những điều kiện thuận lợi cho việc nghiên
cứu, thực thi và áp dụng các công cụ kinh tế vào hoàn cảnh của Việt nam cho giai
đoạn từ nay đến năm 2020.
4. Các loại công cụ kinh tế.
chúng đòi hỏi một sự tập trung cao để tái sử dụng, tái quay vòng nhằm đảm bảo an toàn cho việc đặt cọc và hạn chế bớt những hàng hoá ít giá trị. Có thể dẫn ra
những chuyến tàu thuỷ vận chuyển ôtô, những công-ten-nơ thuốc trừ sâu, dầu hoả
và những hàng hoá trang thiết bị khác dễ xảy ra tai nạn thất thường để làm ví dụ.
4.4. Những chính sách khuyến khích về tài chính.
Những chính sách này nhằm khuyến khích sự giảm bớt chi tiêu trong việc
bảo vệ môi trường do chính phủ đề ra từ ngân sách nhà nước. Chẳng hạn như việc
trợ cấp, ban hành kỳ phiếu vay và cho vay, việc trợ cấp tỷ lệ lãi suất, việc bãi bỏ
hoặc giảm thuế cho một số mặt hàng nào đó.
4.5. Đầu tư cho bảo vệ môi trường.
Đây là công cụ quan trọng tạo ra nguồn kinh phí cơ hội tốt nhất cho sự phát
triển bền vững. Thực tiễn cho thấy quốc gia nào nhìn nhận sớm vấn đề này sẽ
tránh được những thiệt hại không đáng có do ô nhiễm môi trường và suy thoái môi
trường gây ra.
Đầu tư cho bảo vệ môi trường có thể được phân thành hai nhóm cơ bản:
+ Đầu tư quốc tế: Tức là đầu tư của các quốc gia, các tổ chức quốc tế và cá
nhân nước ngoài cho nước sở tại với mục tiêu bảo vệ môi trường. Ví dụ
như nguồn của UNDP, ODA, WB…
+ Đầu tư trong nước: Bao gồm việc huy động từ ngân sách nhà nước, vốn
trong dân cho mục tiêu bảo vệ môi trường, vốn từ các tổ chức phi chính
phủ ủng hộ cho mục tiêu bảo vệ môi trường. Có thể lấy ví dụ như chương
trình 327 của Việt nam là một hình thức sử dụng vốn của nhà nước cho bảo
vệ môi trường.
4.6. Các cơ chế thị trường khác.
4.6.1. Đảm bảo tài chính.
Được áp dụng khi chính phủ yêu cầu một công ty nào đó phải đảm bảo
trước chính phủ một tài sản, một giao kèo hoặc một khoản tiền mặt. Số thế chấp
(Đặt cọc) này chỉ được trả lại khi có đầy đủ chứng cớ chứng tỏ rằng công ty đã