Trần Phước Cường
72
CHƯƠNG 7. CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
7.1. Khái niệm cơ bản về kinh tế môi trường
“Kinh tế môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để nghiên cứu môi trường và
điều đó cũng có nghĩa là trong tính toán kinh tế phải xét đến các vấn đề môi trường".
Các vấn đề này nằm giữa kinh tế và các hệ tự nhiên nên rất phức tạp, do đó có thể
coi kinh tế môi trường là một ngành phụ trung gian giữa các ngành khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội. Những điểm cần ghi nhớ khi xem xét kinh tế môi trường:
• Tài nguyên không tái tạo như dầu mỏ, than đá, khí đốt có thể bị cạn kiệt. Do đó,
con người phải tìm tài nguyên thay thế hoặc tìm công nghệ sử dụng các loại năng lượng
được coi là vĩnh cửu (năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thuỷ triều, v.v...).
• Con người có thể kiểm soát được khả năng phục hồi tài nguyên tái tạo và khả
năng hấp thụ của môi trường.
• Nâng cao trách nhiệm đối với thiên nhiên (vai trò quản lý môi trường).
• Tìm cách kiểm soát dân số.
7.2. Áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
7.2.1. Thuế tài nguyên
Trước đây, thuế tài nguyên là loại thuế điều tiết thu nhập trong hoạt động khai thác
tài nguyên. Ngày nay, vì mục tiêu bảo vệ môi trường, thuế tài nguyên phải được xác định
nhằm hướng tới sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên. Đối với các loại tài nguyên cạn
kiệt, thuế phải được xác định căn cứ vào mức độ suy giảm tài nguyên.
Mục đích:
+ Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên.
+ Hạn chế tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng.
+ Tạo nguồn thu cho ngân sách, điều hòa quyền lợi giữa các tầng lớp dân cư về sử
dụng tài nguyên.
Các loại thuế tài nguyên:
đánh vào giá trị sản phẩm hàng hóa gây ô nhiễm trong quá trình sản xuất; 2-Thuế trực
thu: đánh vào lượng chất thải độc hại đối với môi trường do cơ sở sản xuất gây ra.
Phí môi trường: là khoản thu của nhà nước nhằm bù đắp một phần chi phí thường
xuyên và không thường xuyên về xây dựng, bảo dưỡng, tổ chức quản lý hành chính
của nhà nước đối với hoạt động của người nộp phí, ví dụ như phí xử lý nước thải, khí
thải, chôn lấp và phục hồi môi trường trên bãi rác,… Phí môi trường có vai trò quan
trọng nhất trong kiểm soát ô nhiễm công nghiệp. Phí môi trường được tính dựa vào:
lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường, mức tiêu thụ nguyên nhiên liệu gây ô nhiễm,
tổng doanh thu hoặc tổng sản lượng hàng hóa, lợi nhuận của doanh nghiệp. Thuế
và phí
môi
trường
Thuế và phí ô nhiễm không khí
Phí đánh vào người sử dụng
Thuế và phí hành chính
Thuế và phí sản phẩm
Thuế và phí chất
Thuế và phí rác thải
Thuế và phí nước
Thuế và phí tiếng
Trần Phước Cường
trên. Hiện tại chúng ta xác định các mức côta ô nhiễm là không nguy hiểm đối với môi
trường, nhưng trong tương lai điều đó không thể chấp nhận được. Vì vậy, cần nhiều công
sức để điều chỉnh côta dẫn đến chỗ các giải pháp mua hoặc bán côta rất khó thực hiện hoặc
hiệu quả thực tế nhỏ.
+ Hoạt động mua và bán côta chỉ có thể diễn ra một cách bình thường trong nền
kinh tế mở, hoạt động theo cơ chế thị trường, với một hệ thống pháp lý hoàn thiện về
Trần Phước Cường
75
quyền và nghĩa vụ cũng như khả năng quản lý môi trường tốt. Trong trường hợp khác đi,
việc trao đổi mua bán chỉ còn là hình thức hoặc kém hiệu lực, do có các gian lận trong việc
xác định côta và kiểm soát ô nhiễm.
7.2.4. Hệ thống đặt cọc - hoàn trả
Mục đích:
Thu gom những thứ mà người tiêu thụ đã dùng vào một trung tâm để tái chế hoặc
tái sử dụng một cách an toàn đối với môi trường.
Phạm vi sử dụng:
+ Các sản phẩm gây ô nhiễm nhưng có thể tái chế hoặc tái sử dụng.
+ Các sản phẩm làm tăng lượng chất thải, cần các bãi thải có quy mô lớn và tốn
nhiều chi phí tiêu hủy.
+ Các sản phẩm chứa chất độc, gây khó khăn đặc biệt cho việc xử lý.
7.2.5. Ký quỹ môi trường
Mục đích:
Làm cho người có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường luôn nhận thức
được trách nhiệm của họ, từ đó tìm ra được biện pháp thích hợp ngăn ngừa ô nhiễm, suy
thoái môi trường.
Những lĩnh vực sử dụng:
+ Khai thác khoáng sản.
+ Khai thác rừng.
+ Những lĩnh vực khác đòi hỏi phải phục hồi thành phần môi trường.
và khuyến cáo người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa vì mục tiêu bảo vệ môi trường.
Nhãn sinh thái do một cơ quan môi trường quốc gia hoặc một hiệp hội các nhà sản
xuất loại sản phẩm (nhãn sinh thái của ngành dệt của Đức) quản lý (cấp và thu hồi nhãn),
thông thường là một cơ quan quản lý môi trường.
Nhãn sinh thái đánh vào nhà sản xuất thông qua người tiêu thụ và hệ thống tiêu thụ
bằng giá của sản phẩm và số lượng của sản phẩm tiêu thụ.
- Mục đích:
Mục đích của nhãn sinh thái là đẩy mạnh việc tiêu dùng và sản xuất nhiều sản
phẩm phù hợp về mặt môi trường hơn, bằng việc cung cấp cho người tiêu dùng những
thông tin về ảnh hưởng môi trường của các sản phẩm. Trong các quan hệ thương mại quốc
tế, nhãn sinh thái tác động đến vấn đề cạnh tranh xuất khẩu, vượt qua các trở ngại thương
mại.
Nhà nước xác nhận các sản phẩm thân thiện với môi trường. Khẳng định uy tín sản
phẩm và của nhà sản xuất.
Những sản phẩm được dán nhãn:
+ Sản phẩm tái chế từ phế thải.
+ Sản phẩm thay thế cho các sản phẩm xấu ảnh hưởng tới môi trường.
+ Sản phẩm có tác động tích cực đối với môi trường trong sản xuất và tiêu dùng.