Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Thiết bị bưu điện - Pdf 97

Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Bước sang thế kỷ 21, xu hướng khu vực hoá và quốc tế hoá các nền kinh tế
đã được khẳng định. Bị cuốn trong vòng xoáy cạnh tranh, các doanh nghiệp
phải luôn củng cố cũng như hoàn thiện bộ máy sản xuất, quy trình quản lý,… để
có thể tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Muốn vậy đòi hỏi
doanh nghiệp phải có hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả, có lợi
nhuận và có tích luỹ.
Kế toán là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý kinh tế tài chính.
Giá thành là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trình độ quản lý, sử dụng vật tư, lao
động và là thước đo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó kế toán chi
phí sản xuất không chỉ tính đúng và đủ chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm
là một việc rất cần thiết và còn cung cấp thông tin cho công tác quản trị doanh
nghiệp. Từ đó doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn
mặt hàng sản xuất.
Chính vì nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nên sau quá trình học tập, nghiên cứu lý
thuyết ở nhà trường và thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Thiết bị bưu điện,
tìm hiểu thực tế kế toán tại công ty em đã quyết định chọn đề tài: “Kế toán tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Thiết bị
bưu điện” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
- Chương I: Những vấn đề chung về tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm.
- Chương II: Thực tế về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty Cổ phần Thiết bị bưu điện
- Chương III: Ý kiến góp phần nâng cao chất lượng công tác kế toán tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần
Thiết bị bưu điện.
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội

xuất như chi phí vật liệu, tiền công của nhân viên phân xưởng, chi phí về công cụ dụng
cụ, khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền. CPSX chung
bao gồm: CPSX chung biến đổi và CPSX chung cố định.
+ CPSX chung biến đổi là chi phí gián tiếp thường thay đổi theo số lượng sản
phẩm sản xuất, như chi phí về vật liệu gián tiếp, chi phí nhân viên gián tiếp và được
phân bổ hết vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo thực tế phát sinh.
+ CPSX chung cố định là những chi phí gián tiếp thường không biến động theo số
lượng (khối lượng) sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao máy móc thiết bị nhà
xưởng, chi phí quản lý hành chính của phân xưởng, tổ đội sản xuất. CPSX chung cố
định được phân bổ cho chi phí chế biến mỗi đơn vị sản phẩm dựa vào công suất bình
thường của máy móc thiết bị. Công suất bình thường là công suất tạo ra số lượng sản
phẩm đạt ở mức trung bình trong điều kiện sản xuất bình thường. Trường hợp mức sản
xuất thực tế thấp hơn công suất bình thường thì CPSX chung cố định được phân bổ vào
chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường, khoản
CPSX chung cố định không được phân bổ được hạch toán vào giá vốn của thành phẩm
xuất kho (được ghi nhận là CPSX kinh doanh trong kỳ).
b) Phân loại chi phí dựa vào phương pháp tập hợp chi phí (khả năng quy nạp) vào
các đối tượng chịu chi phí.
Theo tiêu thức này, CPSX được phân thành 2 loại:
- Chi phí trực tiếp là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi
phí (từng loại sản phẩm, công việc, giai đoạn công nghệ, phân xưởng sản xuất…) và
được hạch toán trực tiếp vào đối tượng chịu chi phí.
- Chi phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí, do
vậy để xác định chi phí cho từng đối tượng chịu chi phí cần phải dùng phương pháp
phân bổ gián tiếp thông qua tiêu thức phân bổ thích hợp.
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Việc phân bổ chi phí sản xuất theo tiêu thức nói trên có tác dụng trong việc xác định
phương pháp tập hợp chi phí và phân bổ chi phí cho từng đối tượng chịu chi phí để tính
được giá thành của sản phẩm.

tượng, sau đó lựa chọn tiêu chuẩn hợp lý để tiến hành phân bổ chi phí cho các đối
tượng liên quan theo trình tự sau:
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ theo công thức
H =
C
T
H: Hệ số phân bổ chi phí
C: Là tổng chi phí cần phân bổ cho các đối tượng
T: Tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng cần phân bổ chi phí
Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể:
Ci = H x Ti
Ci: Phần chi phí phân bổ cho đối tượng i
Ti: Đại lượng tiêu chuẩn phân bổ dùng để phân bổ chi phí của đối tượng i
Sử dụng phương pháp này giảm bớt được khối lượng công việc kế toán, không
phải theo dõi chi tiết, cụ thể mỗi lần chi cho từng đại lượng. Tuy vậy, việc phân bổ gián
tiếp độ chính xác không cao, sự chính xác phụ thuộc chủ yếu vào việc lựa chọn tiêu
thức phân bổ. Vì thế, những chi phí mà tìm được tiêu thức phân bổ hợp lý thì có thể sử
dụng phương pháp này.
1.1.4.1 Tài khoản sử dụng
- TK 621: “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”
- TK 622: “Chi phí nhân công trực tiếp”
- TK 627: “Chi phí sản xuất chung”
- TK 154: “Chi phí sản xuất dở dang”
- TK 631: “Giá thành sản xuất”
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác như TK 155, TK 157,
TK 335, TK 338, TK 142.
1.1.4.2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
* Nội dung: Chi phí NVL trực tiếp là toàn bộ chi phí về nguyên liệu, vật

NVL còn
lại đầu kỳ
+
Trị giá thực
tế NVL đã
xuất trong kỳ
-
Trị giá
phế liệu thu
hồi
-
Trị giá NVL
không dùng hết
nhập lại kho cuối kỳ
Trình tự kế toán các nghiệp vụ chủ yếu: (Phụ lục 1)
1.1.4.3 Phương pháp tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
* Nội dung: Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công
nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ, dịch vụ.
Bao gồm tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo số tiền lương của công nhân sản xuất.
* Chứng từ sử dụng: Bảng thanh toán lương, bảng phân bổ tiền lương, bảng chấm
công, …
* Tài khoản sử dụng: TK 622: “Chi phí nhân công trực tiếp”
Bên Nợ: Chi phí nhân công trực tiếp tham gia quá trình sản xuất sản phẩm, thực
hiện dịch vụ bao gồm: Tiền lương, tiền công lao động và các khoản trích trên tiền
lương, tiền công theo quy định phát sinh trong kỳ.
Bên Có: - Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên Nợ TK 154 “ Chi phí sản
xuất, kinh doanh dở dang” hoặc vào bên Nợ TK 631 “ Giá thành sản xuất”
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường vào TK 632.
* Nguyên tắc hạch toán: Chi phí tiền lương được căn cứ vào hình thức tiền lương

* Nguyên tắc hạch toán: CPSX chung phải được tập hợp theo từng địa điểm phát
sinh chi phí như từng phân xưởng, từng tổ đội…Cuối tháng tiến hành phân bổ CPSX
chung đã tập hợp được kết chuyển thành giá thành. CPSX chung của phân xưởng sản
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
xuất sản phẩm nào thì kết chuyển tính vào giá thành của của sản phẩm đó, nếu sản xuất
nhiều loại sản phẩm thì phải phân bổ CPSX chung cho các sản phẩm liên quan. Tiêu
chuẩn phân bổ có thể là chi phí nhân công trực tiếp, chi phí NVL trực tiếp, …
Trình tự kế toán các nghiệp vụ chủ yếu: (phụ lục 3)
1.1.4.5 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp
Mục đích của kế toán tập hợp và phân bổ CPSX là phục vụ cho việc tính giá thành
sản phẩm, do vậy sau khi tập hợp CPSX theo từng khoản mục: Chi phí NVL trực tiếp,
chi phí nhân công trực tiếp, CPSX chung, kế toán phải tập hợp CPSX toàn doanh
nghiệp và chi tiết theo từng đối tượng chịu chi phí. Việc tập hợp CPSX toàn doanh
nghiệp để tính giá thành sản phẩm là tuỳ thuộc vào phương pháp kế toán hàng tồn kho.
Do đó kê toán tập hợp chi phí toàn doanh nghiệp có 2 phương pháp.
* Kế toán tập hợp chi phí toàn doanh nghiệp theo phương pháp KKTX :
Tài khoản sủ dụng: TK 154 “ Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
Bên Nợ: Phản ánh chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp; Chi phí nhân công trực
tiếp; CPSX chung phát sinh trong kỳ để sản xuất chế tạo sản phẩm.
Bên Có: - Phản ánh giá thành thực tế của sản phẩm được nhập kho hoặc mang đi bán.
- Trị giá phế liệu thu hồi, trị giá sản phẩm hỏng không sửa chữa được.
- Trị giá nguyên liệu, vật liệu, hàng hoá gia công xong nhập lại kho.
Dư Nợ: Phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ.
TK 154 phải được chi tiết theo địa điểm phát sinh: phân xưởng, tổ đội sản xuất và
theo loại, nhóm sản phẩm, từng loại, từng chi tiết , bộ phận sản phẩm.
Trình tự kế toán kế toán tập hợp CPSX toàn doanh nghiệp theo phương pháp
KKTX: (phụ lục 4)
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội

của SPDD
cuối kì
(NL,VL)
=
Chi phí của
SPDD đầu kì
(NL,VL)
+
Chi phí NVL
trực tiếp phát
sinh trong kì
Số lượng sản
phẩm hoàn thành
+
Số lượng
SPDD cuối kì
x
Số
lượng
SPDD cuối

Trường hợp doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, liên tục nhiều
giai đoạn công nghệ kế tiếp nhau thì SPDD ở giai đoạn công nghệ sau được đánh giá
theo chi phí nửa thành phẩm của giai đoạn công nghệ trước đó.
- Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, khối lượng tính toán ít, khi kiểm kê sản
phẩm làm dở thì không cần xác định mức độ hoàn thành.
- Nhược điểm: Thông tin về CPSX dở dang có độ chính xác không cao vì không
tính đến các chi phí chế biến, do đó xác định giá thành sản phẩm cũng kém
chính xác.
- Điều kiện áp dụng: Phương pháp này nên áp dụng trong trường hợp chi phí

(NCTT, SXC)
của SPDD cuối

=
Chi phí đầu kì +
CPSX phát
sinh trong kì
Số lượng SP
hoàn thành
+
Số lượng
SPDD quy đổi
x
Số lượng
SP quy đổi
cuối kì
Trong đó: Số lượng SPDD quy đổi = Số lượng SPDD x Mức dộ hoàn thành
Phương pháp này có ưu điểm là kết quả chính xác khá cao và khoa học, tuy nhiên
có nhược điểm là khối lượng tính toán nhiều và phức tạp.
1.1.5.3 Phương pháp đánh giá SPDD cuối kì theo chi phí định mức
Theo phương pháp này, kế toán căn cứ khối lượng SPDD và CPSX định mức cho
một đơn vị SP ở từng phân xưởng, giai đoạn để tính ra chi phí của SPDD cuối kì.
CPSX dở
dang cuối kì
=
Tổng số lượng
SPDD ở từng công đoạn
x
CPSX định mức ở từng
công đoạn

Giá thành toàn bộ = GTSX + Chi phí bán hàng + Chi phí quản lý doanh nghiệp
1.2.3 Đối tượng tính giá thành sản phẩm
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Đối tượng tính giá thành là căn cứ để tổ chức các bảng tính giá thành, lựa chọn
phương pháp tính giá thành thích hợp, tổ chức công việc tính giá thành hợp lý phục vụ
cho việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
Để xác định đối tượng tính giá thành cần căn cứ vào đặc điểm cơ cấu tổ
chức sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, tính chất của sản phẩm
và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Do đó đối tượng tính giá thành cụ thể
trong các doanh nghiệp là các loại sản phẩm, công việc, dịch vụ đã hoàn thành,
đã được kiểm nghiệm bàn giao hoặc nhập kho.
1.2.4 Kỳ tính giá thành sản phẩm
Là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công việc tính giá thành cho các
đối tượng tính giá thành. Trên cơ sở đặc điểm tổ chức sản phẩm, chu kỳ sản xuất sản
phẩm của doanh nghiệp mà có thể áp dụng một trong các trường hợp sau:
- Tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất ngắn và xen kẽ liên tục thì kỳ tính giá
thành hàng tháng.
- Tổ chức sản xuất mang tính thời vụ, chu kỳ sản xuất dài thì kỳ tính giá thành là
hàng quý hoặc hàng năm.
- Tổ chức sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt theo đơn đặt hàng, chu kỳ sản xuất
dài, sản phẩm hoặc hàng loạt sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ thì kỳ
tính giá thành thích hợp là khi sản phẩm hoặc hàng loạt sản phẩm đã hoàn thành
1.2.5 Phương pháp tính giá thành sản phẩm
1.2.5.1 Phương pháp tính giá thành giản đơn (trực tiếp)
Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất
sản phẩm khép kín từ khi đưa NVL vào sản xuất cho tới khi hoàn thành sản phẩm, mặt
hàng ít, khối lượng lớn, chu kỳ ngắn, kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo.
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội

Trình tự tính giá thành như sau:
- Bước 1: Tập hợp và xác định tổng CPSX cho toàn bộ quy trình sản xuất.
- Bước 2: Xác định tổng sản phẩm quy đổi dựa vào sản lượng thực tế của từng
loại sản phẩm và hệ số quy đổi của nó.
- Bước 3: Xác định hệ số phân bổ chi phí cho từng loại sản phẩm theo công thức:
Hệ số phân bổ chi
phí (giá thành) cho SP i
=
Sản lượng quy đổi của SP i
Tổng sản phẩm quy đổi
- Bước 4: Tính toán và xác định giá thành thực tế của từng loại sản phẩm theo công thức:
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Giá thành thực tế của
loại sản phẩm i
=
Tổng giá
thành thực tế
x
Hệ số phân bổ giá
thành cho sản phẩm i
1.2.5.4 Phương pháp tính giá thành theo tỉ lệ
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp cùng 1 quy trình công nghệ SXSP
đồng thời thu được một nhóm sản phẩm cùng loại nhưng có qui cách, kích cỡ, phẩm
chất khác nhau. Trong trường hợp này, đối tượng tập hợp CPSX là nhóm sản phẩm,
còn đối tượng tính giá thành là từng qui cách sản phẩm trong nhóm sản phẩm đó.
Trình tự tính giá thành như sau:
- Bước 1: Tập hợp và xác định CPSX thực tế cho toàn bộ qui trình công nghệ.
- Bước 2: Xác định tiêu chuẩn phân bổ giá thành căn cứ vào sản lượng thực tế của
từng loại sản phẩm có qui cách, kích cỡ khác nhau.

Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp có yêu cầu hạch
toán kinh tế nội bộ cao các nửa thành phẩm ở công đoạn sản xuất, có thể một phần
được chuyền cho công đoạn sản xuất sau, một phần có thể bán ra ngoài.
Theo phương pháp này kế toán phải lần lượt tính giá thành NTP của giai đoạn trước
kết chuyển sang giai đoạn sau một cách tuần tự để tiếp tục tính giá thành NTP của giai
đoạn công nghệ cuối cùng.
Giá thành
NTP giai
đoạn n
=
Giá thành
NTP giai
đoạn (n-1)
chuyển sang
+
CPSX dở
dang đầu kì
giai đoạn n
+
CPSX phát
sinh trong
kì giai đoạn
n
-
CPSX dở
dang cuối kì
giai đoạn n
Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm
Theo phương pháp này đối tượng tính giá thành là thành phẩm ở giai đoạn công

=
CPSXDD đầu kì giai
đoạn n
+
CPSXPS trong kì
giai đoạn n
Số lượng NTP (TP)
hoàn thành giai đoạn n
+
Số lượng SPDD
cuối kì giai đoạn n
đã tính đổi
x
Thành
phẩm
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
CHƯƠNG II
THỰC TẾ VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ BƯU ĐIỆN
2.1 Đặc điểm tình hình chung của Công ty cổ phần Thiết bị bưu điện
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
- Tên công ty: Công ty cổ phần Thiết bị bưu điện.
- Năm thành lập: Năm 1954 với tiền thân là Công ty là Nhà máy thiết bị Bưu
điện - đơn vị thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng Công ty Bưu chính -
Viễn Thông Việt Nam.
Năm 1954, sau khi Chính phủ tiếp quản thủ đô Hà Nội, nhà máy có tên là
Cơ xưởng Bưu Điện Trung Ương.
Ngày 15/03/1990 Ngày 15/03/1990 đổi tên là Nhà máy thiết bị Bưu Điện
theo quyết định số 202/QĐ-TCBĐ của Tổng cục trưởng Bưu điện.

Quy mô của công ty là tương đối lớn thông qua chỉ tiêu vốn kinh doanh của công ty luôn trên 450 tỷ,
đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh. Việc phân bổ vốn chủ yếu là vốn lưu động chiếm trên 60% phù
hợp tính chất hoạt động SXKD, đây là điều kiện thuận lợi cho quy trình sản xuất kinh doanh.
Nguồn vốn kinh doanh của công ty có nguồn vốn chủ sở chiếm tỷ lệ khá lớn so với vốn vay và
nguồn vốn chủ sở hưu năm sau lớn hơn năm trước thể hiện tính độc lập tự chủ về vốn , chủ động tài
chính trong kinh doanh. Mặc dù trong nền kinh tế đang khủng hoảng nhưng công ty vẫn giữ được tình
hình kinh doanh tương đối ổn định. Nguồn vốn chủ sở hữu năm sau lớn hơn năm trước thể hiện ban lãnh
đạo công ty chủ ý khai thác nguồn vốn chủ sở hữu hay nói cách khác nâng cao tính tự chủ về mặt tài
chính.
Theo các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh ta có một vài nhận xét về hiệu quả hoạt động kinh doanh của
công ty :
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2009 nhỏ hơn năm trước là 98 tỷ tương ứng với tỷ lệ
giảm là 19.75%. Trong khi vốn kinh doanh giảm 1.9% mà doanh thu bán hàng giảm 19.75% có thể thấy
công ty đang sử dụng vốn kém hiệu quả.
Nhìn vào chỉ tiêu doanh thu thuần cho thấy các khoản giảm, năm 2009 nhỏ hơn năm 2008 biểu hiện
công ty cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm để giảm các sản phẩm không đủ tiêu chuẩn, giảm hàng
bán bị trả lại, giảm giá hàng bán.
Hoạt động tài chính của công ty kém hiệu quả biểu hiện thu nhỏ hơn chi dẫn đến hoạt động bị lỗ có
thể do đầu tư tài chính không đúng và lãi xuất tiền vay cao. Tuy nhiên, chỉ nhìn vào các con số của hoạt
động kinh doanh tài chính không thể đánh giá một cách toàn diện về hoạt động này trong thời kì biến
động như thời gian qua.
Chi phí bán hàng tăng cao trong khi doanh thu lại giảm chứng tỏ công tác quản lý chi phí chưa tốt và
còn có các yếu tố khách quan tác động như giá của các dịch vụ mua ngoài: điện, nước, xăng dầu, … tăng
cao.
Tóm lại ,nhìn vào chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp có tăng chứng tỏ kết quả cuối cùng
của doanh nghiệp tuy có mặt yếu mặt mạnh nhưng vẫn có kết quả kinh doanh khích lệ trong bối cảnh
kinh tế khủng hoảng như hiện nay.
2.1.3 Đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.3.1 Đặc điểm sản xuất
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531

+ Giám đốc: Là người lãnh đạo cao nhất của công ty, chịu trách nhiệm cao nhất về mọi hoạt đông
của công ty, có nghĩa vụ đối với nhà nước trong quản lý tài sản.
+ Phó giám đốc: Gồm có phó giám đốc kỹ thuật và phó giám đốc sản xuất, là người đại diện lãnh đạo
về chất lượng sản phẩm, người trợ giúp giám đốc về mặt kỹ thuật và theo dõi điều hành các công việc
dựa trên quyết định của giám đốc.
Các phòng ban: Nhà máy có 11 phòng ban, quản lý theo chức năng thông qua trưởng phòng đến từng
nhân viên.Các phòng ban bao gồm: Phòng đầu tư – phát triển, phòng vật tư, phòng công nghệ kĩ thuật,
phòng tổ chức lao động tiền lương, phòng kế toán tài chính, phòng điều động sản xuất, phòng Marketing,
phòng KCS, phòng kế hoạch kinh doanh, trung tâm bảo hành sản phẩm, phòng hành chính, bảo vệ.
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Các phân xưởng: Nhà máy gồm 10 phân xưởng được đặt tên từ 1 tới 9 và phân xưởng PVC (cứng)
và PVC(mềm), các phân xưởng có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một dây chuyền khép kín,
sản xuất hàng loạt hoặc đơn chiếc tùy theo nhu cầu của thị trường.
2.2 Tổ chức công tác kế toán của Công ty cổ phần Thiết bị bưu điện
2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán
Trong các phòng ban tổ chức thuộc bộ máy quản lý của công ty, phòng kế toán có chức năng giám
sát toàn bộ quá trình kinh doanh và tính toán kết quả kinh doanh tham mưu cho giám đốc về mọi mặt
trong quá trình kinh doanh. Mô hình kế toán của công ty được tổ chức theo mô hình kế toán tâp trung. Bộ
máy tổ chức của phòng kế toán bao gồm kế toán trưởng và các kế toán viên, các công việc của phòng kế
toán được phân chia cho các kế toán viên để tránh công việc bị chồng chéo trùng lăp.
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty (Phụ lục 09)
Kế toán trưởng kiêm trưởng phòng Kế toán tài chính: Chỉ đạo các bộ phận kế toán nghiệp vụ và ghi
chép các chứng từ ban đầu đến việc sử dụng sổ sách kế toán, thay mặt giám đốc tổ chức công tác kế toán
công ty, cung cấp thông tin kế toán tài chính và chịu trách nhiệm về các thông tin đó trước giám đốc.
Kế toán tài sản cố định: Căn cứ tình hình biến động tăng giảm tài sản cố định, trích phân bổ khấu hao
tài sản cố định.
- Kế toán tiêu thụ: Theo dõi tình hình xuất nhập, tồn kho thành phẩm, phản ánh giá trị số lượng hàng
xuất bán, tiêu thụ…
- Kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ: Theo dõi và hạch toán tình hình nhập xuất tồn kho

+ NVL chính bao gồm: Nhựa, Inox,, sắt, thép, hạt nhựa, …
+ NVL phụ bao gồm: Khí hàn, que hàn, kim hàn, chụp hàn sứ, trục máy mài, …
+ Nhiên liệu: Dầu hoả, dầu thuỷ lực, dầu bôi trơn, mỡ, xăng, dầu pha thuốc đặc
biệt, dầu RP7, khí aragon, khí nitơ,…
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm lương và các khoản trích theo lương của
công nhân trực tiếp sản xuất. Chi phí nhân công trực tiếp sản xuất chiếm tỷ trọng 15% -
20% trong tổng giá thành sản phẩm.
- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm chi phí phục vụ cho quá trình sản xuất ở từng bộ
phận như: Chi phí NVL, dụng cụ sản xuất dùng cho từng phân xưởng, chi phí khấu hao
từng phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác
bằng tiền. Đây là các khoản chi phí gián tiếp đối với sản xuất sản phẩm, do vậy đối
tượng chính của các khoản mục này là tất cả các phân xưởng. Chính vì vậy để xác định
lượng chi phí sản xuất chung cho từng phân xưởng, cuối mỗi tháng kế toán phải tiến
hành phân bổ chi phí này theo tiêu thức cụ thể phù hợp.
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
2.3.2 Phân loại chi phí sản xuất ở Công ty
Để phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của công ty chi phí sản xuất tại công
ty cổ phần Thiết bị bưu điện được phân loại như sau:
- Chi phí NVL trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
2.3.3 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở Công ty
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có liên quan đến việc tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm đó là khâu đầu tiên và đặc biệt quan trọng, nó ảnh hưởng đến
thông tin kê toán cung cấp từ quá trình tập hợp chi phí sản xuất. Vì vậy xác định đúng
đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý
của công ty có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức kế toán tập hợp chí phí sản xuất từ việc
hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết.
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty với đặc điểm sản

Việc theo dõi quản lý và hạch toán chi phí NVL trực tiếp của công ty được tiến
hành trong suốt quá trình sản xuất.
Sản phẩm chính của nhà máy là điện thoại bàn có dây, điện thoại không dây, bàn
phím máy tính, cáp quang,… được sản xuất từ nhiều nguyên liệu khác nhau vì vậy phải
theo dõi chi tiết việc nhậpvà xuất NVL
* Công ty xác định giá NVL xuất kho như sau:
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Tại công ty cổ phần Thiết bị bưu điện căn cứ vào kế hoạch sản xuất của từng loại
sản phẩm, định mức sử dụng NVL chính cho một đơn vị sản lượng đối với từng loại
sản phẩm mà phòng kế hoạch vật tư tiến hành viết phiếu xuất kho NVL phục vụ sản
xuất. Do đặc điểm sản xuất của công ty mà số lần xuất kho là nhiều và liên tục nhưng
số NVL nhập lại không liên tục nên công ty áp dụng phương pháp bình quân gia quyền
sau mỗi lần nhập để xác định giá trị NVL xuất kho.
Trị giá thực tế NVL xuất
kho
=
Đơn giá bình quân NVL
xuất kho
x
Số lượng NVL
xuất kho
Trong đó:
Đơn giá thực tế bình quân
NVL xuất kho
=
Giá thực tế NVL tồn kho + Giá thực tế NVL nhập kho
Số lượng NVL tồn kho + Số lượng NVL nhập kho

VD: Căn cứ vào phiếu xuất kho số 308 ngày 02/10/2009. Xuất 150 kg Inox cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status