Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Bước sang thế kỷ 21, xu hướng khu vực hoá và quốc tế hoá các nền kinh tế
đã được khẳng định. Bị cuốn trong vòng xoáy cạnh tranh, các doanh nghiệp
phải luôn củng cố cũng như hoàn thiện bộ máy sản xuất, quy trình quản lý,… để
có thể tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Muốn vậy đòi hỏi
doanh nghiệp phải có hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả, có lợi
nhuận và có tích luỹ.
Kế toán là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý kinh tế tài chính.
Giá thành là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trình độ quản lý, sử dụng vật tư, lao
động và là thước đo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó kế toán chi
phí sản xuất không chỉ tính đúng và đủ chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm
là một việc rất cần thiết và còn cung cấp thông tin cho công tác quản trị doanh
nghiệp. Từ đó doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn
mặt hàng sản xuất.
Chính vì nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nên sau quá trình học tập, nghiên cứu lý
thuyết ở nhà trường và thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Thiết bị bưu điện,
tìm hiểu thực tế kế toán tại công ty em đã quyết định chọn đề tài: “Kế toán tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Thiết bị
bưu điện” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
- Chương I: Những vấn đề chung về tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm.
- Chương II: Thực tế về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty Cổ phần Thiết bị bưu điện
- Chương III: Ý kiến góp phần nâng cao chất lượng công tác kế toán tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Thiết bị
bưu điện.
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
xuất như chi phí vật liệu, tiền công của nhân viên phân xưởng, chi phí về công cụ dụng
cụ, khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền. CPSX chung
bao gồm: CPSX chung biến đổi và CPSX chung cố định.
+ CPSX chung biến đổi là chi phí gián tiếp thường thay đổi theo số lượng sản
phẩm sản xuất, như chi phí về vật liệu gián tiếp, chi phí nhân viên gián tiếp và được
phân bổ hết vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo thực tế phát sinh.
+ CPSX chung cố định là những chi phí gián tiếp thường không biến động theo số
lượng (khối lượng) sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao máy móc thiết bị nhà
xưởng, chi phí quản lý hành chính của phân xưởng, tổ đội sản xuất. CPSX chung cố
định được phân bổ cho chi phí chế biến mỗi đơn vị sản phẩm dựa vào công suất bình
thường của máy móc thiết bị. Công suất bình thường là công suất tạo ra số lượng sản
phẩm đạt ở mức trung bình trong điều kiện sản xuất bình thường. Trường hợp mức sản
xuất thực tế thấp hơn công suất bình thường thì CPSX chung cố định được phân bổ vào
chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường, khoản
CPSX chung cố định không được phân bổ được hạch toán vào giá vốn của thành phẩm
xuất kho (được ghi nhận là CPSX kinh doanh trong kỳ).
b) Phân loại chi phí dựa vào phương pháp tập hợp chi phí (khả năng quy nạp) vào
các đối tượng chịu chi phí.
Theo tiêu thức này, CPSX được phân thành 2 loại:
- Chi phí trực tiếp là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi
phí (từng loại sản phẩm, công việc, giai đoạn công nghệ, phân xưởng sản xuất…) và
được hạch toán trực tiếp vào đối tượng chịu chi phí.
- Chi phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí, do
vậy để xác định chi phí cho từng đối tượng chịu chi phí cần phải dùng phương pháp
phân bổ gián tiếp thông qua tiêu thức phân bổ thích hợp.
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Việc phân bổ chi phí sản xuất theo tiêu thức nói trên có tác dụng trong việc xác định
phương pháp tập hợp chi phí và phân bổ chi phí cho từng đối tượng chịu chi phí để tính
được giá thành của sản phẩm.
tượng, sau đó lựa chọn tiêu chuẩn hợp lý để tiến hành phân bổ chi phí cho các đối
tượng liên quan theo trình tự sau:
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ theo công thức
H =
C
T
H: Hệ số phân bổ chi phí
C: Là tổng chi phí cần phân bổ cho các đối tượng
T: Tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng cần phân bổ chi phí
Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể:
Ci = H x Ti
Ci: Phần chi phí phân bổ cho đối tượng i
Ti: Đại lượng tiêu chuẩn phân bổ dùng để phân bổ chi phí của đối tượng i
Sử dụng phương pháp này giảm bớt được khối lượng công việc kế toán, không
phải theo dõi chi tiết, cụ thể mỗi lần chi cho từng đại lượng. Tuy vậy, việc phân bổ gián
tiếp độ chính xác không cao, sự chính xác phụ thuộc chủ yếu vào việc lựa chọn tiêu
thức phân bổ. Vì thế, những chi phí mà tìm được tiêu thức phân bổ hợp lý thì có thể sử
dụng phương pháp này.
1.1.4.1 Tài khoản sử dụng
- TK 621: “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”
- TK 622: “Chi phí nhân công trực tiếp”
- TK 627: “Chi phí sản xuất chung”
- TK 154: “Chi phí sản xuất dở dang”
- TK 631: “Giá thành sản xuất”
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác như TK 155, TK 157,
TK 335, TK 338, TK 142.
1.1.4.2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
* Nội dung: Chi phí NVL trực tiếp là toàn bộ chi phí về nguyên liệu, vật
NVL còn
lại đầu kỳ
+
Trị giá thực
tế NVL đã
xuất trong kỳ
-
Trị giá
phế liệu thu
hồi
-
Trị giá NVL
không dùng hết
nhập lại kho cuối kỳ
Trình tự kế toán các nghiệp vụ chủ yếu: (Phụ lục 1)
1.1.4.3 Phương pháp tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
* Nội dung: Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công
nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ, dịch vụ.
Bao gồm tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo số tiền lương của công nhân sản xuất.
* Chứng từ sử dụng: Bảng thanh toán lương, bảng phân bổ tiền lương, bảng chấm
công, …
* Tài khoản sử dụng: TK 622: “Chi phí nhân công trực tiếp”
Bên Nợ: Chi phí nhân công trực tiếp tham gia quá trình sản xuất sản phẩm, thực
hiện dịch vụ bao gồm: Tiền lương, tiền công lao động và các khoản trích trên tiền
lương, tiền công theo quy định phát sinh trong kỳ.
Bên Có: - Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên Nợ TK 154 “ Chi phí sản
xuất, kinh doanh dở dang” hoặc vào bên Nợ TK 631 “ Giá thành sản xuất”
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường vào TK 632.
* Nguyên tắc hạch toán: Chi phí tiền lương được căn cứ vào hình thức tiền lương
* Nguyên tắc hạch toán: CPSX chung phải được tập hợp theo từng địa điểm phát
sinh chi phí như từng phân xưởng, từng tổ đội…Cuối tháng tiến hành phân bổ CPSX
chung đã tập hợp được kết chuyển thành giá thành. CPSX chung của phân xưởng sản
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
xuất sản phẩm nào thì kết chuyển tính vào giá thành của của sản phẩm đó, nếu sản xuất
nhiều loại sản phẩm thì phải phân bổ CPSX chung cho các sản phẩm liên quan. Tiêu
chuẩn phân bổ có thể là chi phí nhân công trực tiếp, chi phí NVL trực tiếp, …
Trình tự kế toán các nghiệp vụ chủ yếu: (phụ lục 3)
1.1.4.5 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp
Mục đích của kế toán tập hợp và phân bổ CPSX là phục vụ cho việc tính giá thành
sản phẩm, do vậy sau khi tập hợp CPSX theo từng khoản mục: Chi phí NVL trực tiếp,
chi phí nhân công trực tiếp, CPSX chung, kế toán phải tập hợp CPSX toàn doanh
nghiệp và chi tiết theo từng đối tượng chịu chi phí. Việc tập hợp CPSX toàn doanh
nghiệp để tính giá thành sản phẩm là tuỳ thuộc vào phương pháp kế toán hàng tồn kho.
Do đó kê toán tập hợp chi phí toàn doanh nghiệp có 2 phương pháp.
* Kế toán tập hợp chi phí toàn doanh nghiệp theo phương pháp KKTX :
Tài khoản sủ dụng: TK 154 “ Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
Bên Nợ: Phản ánh chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp; Chi phí nhân công trực
tiếp; CPSX chung phát sinh trong kỳ để sản xuất chế tạo sản phẩm.
Bên Có: - Phản ánh giá thành thực tế của sản phẩm được nhập kho hoặc mang đi bán.
- Trị giá phế liệu thu hồi, trị giá sản phẩm hỏng không sửa chữa được.
- Trị giá nguyên liệu, vật liệu, hàng hoá gia công xong nhập lại kho.
Dư Nợ: Phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ.
TK 154 phải được chi tiết theo địa điểm phát sinh: phân xưởng, tổ đội sản xuất và
theo loại, nhóm sản phẩm, từng loại, từng chi tiết , bộ phận sản phẩm.
Trình tự kế toán kế toán tập hợp CPSX toàn doanh nghiệp theo phương pháp
KKTX: (phụ lục 4)
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
của SPDD
cuối kì
=
Chi phí của
SPDD đầu kì
(NL,VL)
+
Chi phí NVL
trực tiếp phát
sinh trong kì
x
Số
lượng
SPDD cuối
Số lượng sản
phẩm hoàn thành
+
Số lượng
SPDD cuối kì
Trường hợp doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, liên tục nhiều
giai đoạn công nghệ kế tiếp nhau thì SPDD ở giai đoạn công nghệ sau được đánh giá
theo chi phí nửa thành phẩm của giai đoạn công nghệ trước đó.
- Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, khối lượng tính toán ít, khi kiểm kê sản
phẩm làm dở thì không cần xác định mức độ hoàn thành.
- Nhược điểm: Thông tin về CPSX dở dang có độ chính xác không cao vì không
tính đến các chi phí chế biến, do đó xác định giá thành sản phẩm cũng kém chính xác.
- Điều kiện áp dụng: Phương pháp này nên áp dụng trong trường hợp chi phí NVL
trưc tiếp (hoặc NVL chính trực tiếp) chiếm tỉ trọng lớn trong tổng CPSX, khối lượng
SPDD cuối kì ít và không biến động nhiều so với đầu kì.
1.1.5.2 Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kì theo sản lượng tương
SP quy đổi
Số lượng SP
hoàn thành
+
Số lượng
SPDD quy đổi
Trong đó: Số lượng SPDD quy đổi = Số lượng SPDD x Mức dộ hoàn thành
Phương pháp này có ưu điểm là kết quả chính xác khá cao và khoa học, tuy nhiên
có nhược điểm là khối lượng tính toán nhiều và phức tạp.
1.1.5.3 Phương pháp đánh giá SPDD cuối kì theo chi phí định mức
Theo phương pháp này, kế toán căn cứ khối lượng SPDD và CPSX định mức cho
một đơn vị SP ở từng phân xưởng, giai đoạn để tính ra chi phí của SPDD cuối kì.
CPSX dở
dang cuối kì
=
Tổng số lượng
SPDD ở từng công đoạn
x
CPSX định mức ở từng
công đoạn
1.2 Kế toán tính giá thành sản phẩm
1.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
GTSP là CPSX tính cho một khối lượng, một đơn vị sản phẩm hoặc một công việc,
lao vụ đã hoàn thành.
GTSP là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp.GTSP có 2 chức năng chủ yếu là chức năng thước đo bù đắp chi phí và
chức năng lập giá.
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
doanh nghiệp là các loại sản phẩm, công việc, dịch vụ đã hoàn thành, đã được
kiểm nghiệm bàn giao hoặc nhập kho.
1.2.4 Kỳ tính giá thành sản phẩm
Là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công việc tính giá thành cho các
đối tượng tính giá thành. Trên cơ sở đặc điểm tổ chức sản phẩm, chu kỳ sản xuất sản
phẩm của doanh nghiệp mà có thể áp dụng một trong các trường hợp sau:
- Tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất ngắn và xen kẽ liên tục thì kỳ tính giá
thành hàng tháng.
- Tổ chức sản xuất mang tính thời vụ, chu kỳ sản xuất dài thì kỳ tính giá thành là
hàng quý hoặc hàng năm.
- Tổ chức sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt theo đơn đặt hàng, chu kỳ sản xuất
dài, sản phẩm hoặc hàng loạt sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ thì kỳ tính
giá thành thích hợp là khi sản phẩm hoặc hàng loạt sản phẩm đã hoàn thành
1.2.5 Phương pháp tính giá thành sản phẩm
1.2.5.1 Phương pháp tính giá thành giản đơn (trực tiếp)
Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất
sản phẩm khép kín từ khi đưa NVL vào sản xuất cho tới khi hoàn thành sản phẩm, mặt
hàng ít, khối lượng lớn, chu kỳ ngắn, kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo.
Theo phương pháp này, GTSP được tính như sau:
Tổng giá
thành thực tế của
=
CPSX của
SPDD đầu kỳ
+
CPSX phát
sinh trong kỳ
-
CPSX của
SPDD cuối kỳ
- Bước 4: Tính toán và xác định giá thành thực tế của từng loại sản phẩm theo công thức:
Giá thành thực tế của
loại sản phẩm i
=
Tổng giá
thành thực tế
x
Hệ số phân bổ giá
thành cho sản phẩm i
1.2.5.4 Phương pháp tính giá thành theo tỉ lệ
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp cùng 1 quy trình công nghệ SXSP
đồng thời thu được một nhóm sản phẩm cùng loại nhưng có qui cách, kích cỡ, phẩm
chất khác nhau. Trong trường hợp này, đối tượng tập hợp CPSX là nhóm sản phẩm,
còn đối tượng tính giá thành là từng qui cách sản phẩm trong nhóm sản phẩm đó.
Trình tự tính giá thành như sau:
- Bước 1: Tập hợp và xác định CPSX thực tế cho toàn bộ qui trình công nghệ.
- Bước 2: Xác định tiêu chuẩn phân bổ giá thành căn cứ vào sản lượng thực tế của
từng loại sản phẩm có qui cách, kích cỡ khác nhau.
Tiêu chuẩn phân
bổ cho từng loại qui
cách SP
=
Số lượng SP thực
tế của từng loại qui
cách SP
x
Giá thành định
mức(giá thành đơn vị kế
NTP giai
đoạn (n-1)
chuyển sang
+
CPSX dở
dang đầu kì
giai đoạn n
+
CPSX phát
sinh trong
kì giai đoạn
n
-
CPSX dở
dang cuối kì
giai đoạn n
Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm
Theo phương pháp này đối tượng tính giá thành là thành phẩm ở giai đoạn công
nghệ cuối cùng. Do vậy để tính giá thành của thành phẩm chỉ cần tính toán xác định chi
phí ở từng giai đoạn nằm trong thành phẩm.
- Đối với chi phí bỏ một lần ngay từ đầu quá trình sản xuất:
CPSX
giai đoạn
=
CPSXDD đầu kì
giai đoạn n
+
CPSXPS trong
giai đoạn n
x
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
THỰC TẾ VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ BƯU ĐIỆN
2.1 Đặc điểm tình hình chung của Công ty cổ phần Thiết bị bưu điện
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
- Tên công ty: Công ty cổ phần Thiết bị bưu điện.
- Năm thành lập: Năm 1954 với tiền thân là Công ty là Nhà máy thiết bị Bưu
điện - đơn vị thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng Công ty Bưu chính -
Viễn Thông Việt Nam.
Năm 1954, sau khi Chính phủ tiếp quản thủ đô Hà Nội, nhà máy có tên là
Cơ xưởng Bưu Điện Trung Ương.
Ngày 15/03/1990 Ngày 15/03/1990 đổi tên là Nhà máy thiết bị Bưu Điện
theo quyết định số 202/QĐ-TCBĐ của Tổng cục trưởng Bưu điện.
15/11/2004 Công ty Cổ phần Thiết bị Bưu Điện được cổ phần hoá theo
quyết định số 46/2004/QĐ-BBCVT ngày 15/11/2004 của Bộ Bưu Chính Viễn
Thông.
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103008116 ngày 7/6/2005 do Sở
Kế Hoạch Đầu tư Hà Nội cấp.
- Trụ sở chính: 61 Trần Phú – Ba Đình – Hà Nội
- Số điện thoại: (+84)4 8455946 Fax: 04 3734 1358
Email: [email protected] Website: www.postef.com
- Loại hình doanh nghiệp: Công ty Cổ phần.
- Mã số thuế: 0100686865
Vốn là một doanh nghiệp nhà nước, công ty CP Thiết bị bưu điện là đơn vị hạch toán độc lập thuộc
tổng nhà máy bưu chính viễn thông Việt Nam. Công ty là một bộ phận cấu thành của hệ thống tổ chức và
hoạt động của tổng công ty trong các lĩnh vực khác nhau nhằm tăng cường việc tập trung phân công
chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất, thực hiện những mục tiêu kế hoạch của nhà nước do tổng công
ty giao.
Sau 56 năm xây dựng và phát triển nhà máy thiết bị bưu điện tự khẳng định mình bằng những bước
Hoạt động tài chính của công ty kém hiệu quả biểu hiện thu nhỏ hơn chi dẫn đến hoạt động bị lỗ có
thể do đầu tư tài chính không đúng và lãi xuất tiền vay cao. Tuy nhiên, chỉ nhìn vào các con số của hoạt
động kinh doanh tài chính không thể đánh giá một cách toàn diện về hoạt động này trong thời kì biến
động như thời gian qua.
Chi phí bán hàng tăng cao trong khi doanh thu lại giảm chứng tỏ công tác quản lý chi phí chưa tốt và
còn có các yếu tố khách quan tác động như giá của các dịch vụ mua ngoài: điện, nước, xăng dầu, … tăng
cao.
Tóm lại ,nhìn vào chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp có tăng chứng tỏ kết quả cuối cùng
của doanh nghiệp tuy có mặt yếu mặt mạnh nhưng vẫn có kết quả kinh doanh khích lệ trong bối cảnh
kinh tế khủng hoảng như hiện nay.
2.1.3 Đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.3.1 Đặc điểm sản xuất
* Nhiệm vụ, đặc điểm chính của công ty là sản xuất, lắp ráp máy móc thiết bị chuyên ngành bưu
chính, viễn thông. Kinh doanh và cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, điện tử, tin
học.
* Các ngành kinh doanh của công ty CP Thiết bị bưu điện nhà máy 1:
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
- Xuất khẩu, nhập khẩu vật tư, thiết bị chuyên ngành bưu chính, viễn thông, điện tử, tin học.
- Sản xuất, lắp ráp máy móc, thiết bị trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, phát thanh, truyền hình,
điện tử, tin học
- Kinh doanh trong các lĩnh vực: bưu chính, viễn thông, công nghiệp, nhà ở
- Kinh doanh vật tư, thiết bị chuyên ngành bưu chính, viễn thông, điện tử, tin học
- Xây lắp, lắp đặt, bảo trì, sửa chữa thiết bị bưu chính viễn thông, điện, điện tử, tin học
- Kinh doanh dịch vụ: xây lắp bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin và các dịch vụ giá trị gia
tăng khác
- Cung cấp dịch vụ: xây lắp, tư vấn, kỹ thuật trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, điện, điện tử, tin
học
- Cho thuê hoạt động; đầu tư kinh doanh bất động sản, xây dựng kinh doanh nhà, văn phòng cho
thuê.
sát toàn bộ quá trình kinh doanh và tính toán kết quả kinh doanh tham mưu cho giám đốc về mọi mặt
trong quá trình kinh doanh. Mô hình kế toán của công ty được tổ chức theo mô hình kế toán tâp trung. Bộ
máy tổ chức của phòng kế toán bao gồm kế toán trưởng và các kế toán viên, các công việc của phòng kế
toán được phân chia cho các kế toán viên để tránh công việc bị chồng chéo trùng lăp.
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty (Phụ lục 09)
Kế toán trưởng kiêm trưởng phòng Kế toán tài chính: Chỉ đạo các bộ phận kế toán nghiệp vụ và ghi
chép các chứng từ ban đầu đến việc sử dụng sổ sách kế toán, thay mặt giám đốc tổ chức công tác kế toán
công ty, cung cấp thông tin kế toán tài chính và chịu trách nhiệm về các thông tin đó trước giám đốc.
Kế toán tài sản cố định: Căn cứ tình hình biến động tăng giảm tài sản cố định, trích phân bổ khấu hao
tài sản cố định.
- Kế toán tiêu thụ: Theo dõi tình hình xuất nhập, tồn kho thành phẩm, phản ánh giá trị số lượng hàng
xuất bán, tiêu thụ…
- Kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ: Theo dõi và hạch toán tình hình nhập xuất tồn kho
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, tính giá định kỳ và đột xuất, cung cấp số liệu cho phòng Kế hoạch -
Tổng hợp.
- Kế toán tiền lương: Thanh toán tiền lương, BHXH, BHYT, BHTN.
- Kế toán thanh toán: Theo dõi thanh toán với người bán, thanh toán nội bộ, thanh toán với Ngân
sách, thanh toán các khoản thu chi tiền mặt.
2.2.2 Các chính sách kế toán áp dụng tại Công ty
- Chế độ kế toán áp dụng theo quyết định 15/2006/QĐBTC ngày 20/03/2006.
- Công ty CP thiết bị bưu điện bắt đầu niên độ kế toán từ ngày 01/01 và kết
thúc vào ngày 31/12 hàng năm.
- Kỳ kế toán công ty áp dụng theo quý.
- Hình thức ghi sổ kế toán áp dụng: Nhật ký chứng từ (Phụ lục 10)
- Phương pháp khấu hao: Theo phương pháp tuyến tính.
- Phương pháp xác định giá xuất kho vật tư, hàng hoá: Bình quân gia quyền.
- Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Kê khai thường xuyên.
- Phương pháp tính thuế GTGT: khấu trừ.
- Phương thức bán hàng trong doanh nghiệp: Phương thức bán buôn.
- Công ty không kiểm kê, hạch toán đánh giá sản phẩm dở dang.
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
2.3.3 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở Công ty
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có liên quan đến việc tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm đó là khâu đầu tiên và đặc biệt quan trọng, nó ảnh hưởng đến
thông tin kê toán cung cấp từ quá trình tập hợp chi phí sản xuất. Vì vậy xác định đúng
đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý
của công ty có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức kế toán tập hợp chí phí sản xuất từ việc
hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết.
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty với đặc điểm sản
xuất hàng hóa, chi kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang hầu như không có trong ca,
trong ngày. NVL được đưa vào chế biến liên tục theo quy trình công nghệ đã quy định
không có sự gián đoạn về mặ kỹ thuật và thời gian.
Để đáp ứng nhu cầu về công tác quản lý, công tác hạch toán kế toán, công tác tính
giá thành sản phẩm ở công ty đã xác định đối tượng tập hợp chi phí từng loại sản phẩm
theo từng phân xưởng.
2.3.4 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần Thiết bị bưu điện
2.3.4.1 Kế toán chi phí NVL trực tiếp
Để có được một sản phẩm thì cần rất nhiều nguyên liệu khác nhau, do đó để quản lý
và tập hợp chính xác khoản mục chi phí NVL trực tiếp, kế toán CPSX và tính GTSP
công ty đã chia khoản này thành các loại:
- Chi phí NVL chính: Nhựa, kim loại,…
- Chi phí NVL phụ: keo dán, băng dính,…
NVL dùng cho sản xuất sản phẩm liên quan trực tiếp đến từng phân xưởng, từng
loại sản phẩm do đó công ty tổ chức tâp hợp chi phí NVL trực tiếp theo phương pháp
trực tiếp.
Nguyễn Thị Thu Trang MSV: 06A02531
Luận văn tốt nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội
xuất kho
x
Số lượng NVL
xuất kho
Trong đó:
Đơn giá thực tế bình quân
NVL xuất kho
=
Giá thực tế NVL tồn kho + Giá thực tế NVL nhập kho
Số lượng NVL tồn kho + Số lượng NVL nhập kho
VD: Căn cứ vào phiếu xuất kho số 308 ngày 02/10/2009. Xuất 150 kg Inox cho
phân xưởng sản xuất biết số inox tồn đầu tháng 10/2009 là 141kg trị giá 64 020 000đ.
(Phụ lục 12)
Đơn giá thực tế bình quân của Inox xuất kho:
(64 020 000 + 914 520 000) / (141 + 2012,6) = 454 400đ/kg
Giá trị Inox xuất kho là 454 400 x 150 = 68 100 000đ.
Phiếu xuất kho của công ty do thủ kho lập 3 liên:
+ Liên 1: Lưu lại ở bộ phận vật tư
+ Liên 2: Thủ kho giữ để lưu vào thẻ kho, định kỳ 3 đến 4 ngày thủ kho chuyển
lên phòng kế toán để tập hợp và phân bổ. Kế toán là người tính giá vào cột đơn giá và
thành tiền của phiếu xuất kho.
+ Liên 3: Giao cho người lĩnh vật tư
Cuối tháng kê toán NVL căn cứ vào phiếu xuất kho, phiếu nhập kho và các chứng
từ khác có liên quan sau đó ghi vào sổ chi tiết NVL.
Trị giá NVL tồn
kho cuối tháng
=
Trị giá NVL tồn
kho đầu tháng