Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần thép Việt – Ý - Pdf 97

Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
Lời cảm ơn.
Đối với mỗi sinh viên nói chung và đối với cá nhân tôi nói riêng thời gian
thực tập là một thời gian vô cùng quý báu vì nó giúp tôi được tiếp xúc với thực tế
và có cơ hội củng cố những kiến thức đã được trang bị trong nhà trường.
Về thực tập tại phòng kinh doanh, công ty cổ phần thép Việt - Ý tôi đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ của các cô, các chú trong công ty đã tạo điều kiện cho
tôi trong việc tìm hiểu về công ty, thu thập số liệu và hoàn thành tốt thời gian
thực tập của mình. Vì thế, thông qua bản chuyên đề này tôi xin chân thành cảm
ơn các cô, chú các anh chị trong công ty, đặc biệt là các cô chú thuộc phòng kinh
doanh của công ty đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập.
Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo hướng dẫn
chuyên đề của tôi - TS. Nguyễn Thanh Hà đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình làm bản chuyên đề này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Vũ Thuý Quỳnh
SV: Vũ Thuý Quỳnh Lớp: Kế hoạch 46A
Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu.
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng
trở nên gay gắt. Doanh nghiệp đứng vững được trong sự cạnh tranh khốc liệt đó
là doanh nghiệp chiến thắng và có thể tồn tại được. Trong cuộc chiến đó cũng có
không ít những công ty thua cuộc, trở thành người thất bại và đang đứng bên bờ
vực thẳm của sự phá sản. Nhận thức được những hậu quả nặng nề nếu trở thành
người chiến bại, tất cả mọi doanh nghiệp đều đã và đang có rất nhiều các chính
sách cũng như các phương hướng phát triển tốt nhất cho công ty của mình, để có
thể đứng một cách vững vàng trên cuộc chiến thương trường đầy thử thách đó.
Một trong những mục tiêu mà các doanh nghiệp quan tâm chính là làm sao để
nâng cao được hiệu quả hoạt động kinh doanh cho công ty của mình. Tuy nhiên,
cổ nhân đã có câu “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Chính vì thế mà
trước khi muốn nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh thì việc nhận thức

ngày một phát triển và đang trong quá trình hội nhập như hiện nay. Chính vì thế
mà ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào ngành sản xuất này, làm cho
tính chất cạnh tranh của ngành ngày càng khốc liệt. Vì thế việc nâng cao hiệu
quả kinh doanh để nâng cao lợi thế cạnh tranh trong ngành của Công ty cổ phần
thép Việt – Ý là vấn đề sống còn trong điều kiện hiện nay. Vì thế mà việc phân
tích thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty để từ đó đề xuất một số
SV: Vũ Thuý Quỳnh Lớp: Kế hoạch 46A
Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh là một vấn đề hết sức cấp thiết. Từ
suy nghĩ đó, tôi quyết định chọn vấn đề “ Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh
doanh của công ty cổ phần thép Việt - Ý “ cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của
mình.
2. Mục đích nghiên cứu của chuyên đề.
Với đề tài này, tôi mong muốn đạt được các mục tiêu sau:
Thứ nhất là, nêu được khái niệm của hiệu quả kinh doanh và sự cần thiết
của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp.
Thứ hai là, làm rõ thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ
phần thép Việt – Ý.
Thứ ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty cổ phần thép Việt - Ý.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả kinh doanh, các nhân tố ảnh
hưởng tới hiệu quả kinh doanh và một các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
kinh doanh của một doanh nghiệp cụ thể.
Phạm vi nghiên cứu là Công ty cổ phần thép Việt - Ý thuộc Tổng công ty
Sông Đà.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích SWOT.

Theo P.Samerelson và W.Nordhous trong cuốn Kinh tế học xuất bản năm
1991 thì: “ Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một
loại hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hoá khác”. Quan
điểm này thực chất là đề cập đến khía cạnh phân bổ và sử dụng nguồn lực của
nền sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất. Khi đó, sự phân bổ là tối ưu,
không có một sự phân bổ nào có thể mang lại cho nền kinh tế một kết quả tốt
hơn. Có thể nói mức hiệu quả mà tác giả đưa ra là mức hiệu quả lý tưởng và là
mức hiệu quả cao nhất mà không có mức nào cao hơn.
SV: Vũ Thuý Quỳnh Lớp: Kế hoạch 46A
Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
Cũng trong cuốn Kinh tế học xuất bản năm 1991 thì nhà kinh tế học
Manfred Kuhn lại cho rằng: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả
tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí”. Đây thực chất chỉ là một biểu hiện về
bản chất chứ không phải là khái niệm của hiệu quả kinh doanh.
Từ tất cả các quan điểm trên ta có thể đưa ra một khái niệm tương đối đầy
đủ và phản ánh được các khía cạnh của hiệu quả sản xuất kinh doanh như sau:
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung sự phát
triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác và chi phí các nguồn lực
trong quá trình sản xuất và tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh.
Như vậy, hiệu quả kinh doanh là thước đo rất quan trọng của sự tăng trưởng
kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của
doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
1.2. Bản chất của hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó phán ánh trình độ sử dụng
các nguồn lực sẵn có của DN để hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt kết quả cao
nhất với chi phí thấp nhất. Hiệu quả phải gắn liền với việc thực hiện những mục
tiêu của DN và được thể hiện qua công thức sau:
Mục tiêu hoàn thành
Hiệu quả kinh doanh (H) =
Nguồn lực được sử dụng một cách thông minh

đồng chi phí đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Cùng với một lượng chi
SV: Vũ Thuý Quỳnh Lớp: Kế hoạch 46A
Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
phí cho sản xuất doanh nghiệp nào có nhiều kết quả đầu ra hơn là doanh nghiệp
có hiệu quả kinh doanh cao hơn.
2.2. Chỉ tiêu cụ thể.
2.2.1. Lợi nhuận.
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Lợi nhuận của doanh nghiệp là biếu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm
thặng dư do kết quả lao động của người lao động mang lại.
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình
sản xuất kinh doanh. Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng hoạt
động của doanh nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản
xuất như lao động, vật tư, tài sản cố định…
Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái sản xuất mở rộng nền kinh tế
quốc dân và doanh nghiệp. Bởi vì lợi nhuận là nguồn hình thành nên thu nhập
của ngân sách nhà nước, thông qua việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp, trên cơ
sở đó giúp cho nhà nước phát triển nền kinh tế - xã hội. Một bộ phận lợi nhuận
khác, được để lại để doanh nghiệp thành lập các quỹ, tạo điều kiện mở rộng quy
mô sản xuất, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên.
Lợi nhuận là một đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người
lao động và các đơn vị ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở của chính sách phân phối đúng đắn.
Tuy nhiên, theo công thức tính lợi nhuận như trên ta có thể thấy, lợi nhuận
tăng khi hoặc doanh thu tăng hoặc chi phí giảm hoặc khi doanh thu tăng đồng
thời chi phí giảm. Doanh thu phụ thuộc vào hai yếu tố là tổng sản lượng và giá
SV: Vũ Thuý Quỳnh Lớp: Kế hoạch 46A
Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
bán. Nếu như doanh thu tăng do tổng sản lượng tiêu thụ tăng thì là một tín hiệu
tốt, khi đó lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được là tương đối hiệu quả.

x 100%
Trong đó : P là lợi nhuận đạt được trong kỳ.
DT là doanh thu trong kỳ.
Chỉ tiêu này cho thấy cho thấy cứ 100 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng
lợi nhuận. Trị số của chỉ tiêu này tính ra càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lợi của
vốn càng cao và hiệu quả kinh doanh càng lớn và ngược lại.
Thật vậy, lợi nhuận là hiệu số của doanh thu và chi phí do đó, khi tỷ suất lợi
nhuận theo doanh thu càng lớn thì thương số chi phí/doanh thu càng nhỏ và do
đó có hai trường hợp xảy ra. Một là, chi phí giảm, điều này chứng tỏ hiệu quả
kinh doanh càng tốt. Hai là, doanh thu tăng.
Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, doanh thu tăng trong một số trường hợp
thì làm cho hiệu quả kinh doanh tăng, nhưng trong một số trường hợp nó lại
không đánh giá chính xác những gì đang diễn ra ở doanh nghiệp.
Do đó khi sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá hiệu quả kinh doanh phải xem
xét tất cả các khía cạnh trên.
 Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí.
P
2
=
P
CDKD
x 100%
Trong đó: P là lợi nhuận đạt đựợc trong kỳ
CPKD là chi phí kinh doanh trong kỳ.
SV: Vũ Thuý Quỳnh Lớp: Kế hoạch 46A
Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng chi phí kinh doanh bỏ ra thì có bao
nhiêu đồng lợi nhuận thu đựơc.
Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt.
Thật vậy, chỉ tiêu này cao chứng tỏ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất

 Sức sản xuất của tài sản cố định.
Sức sản xuất của TSCĐ =
Doanh thu
TSC§ b×nh qu©n kú
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị tài sản bình quân mang lại mấy đơn vị
doanh thu thuần. Sức sản xuất của tài sản càng lớn, hiệu quả sử dụng tổng tài sản
càng tăng và ngược lại, nếu sức sản xuất của tổng tái sản càng nhỏ, hiệu quả sử
dụng tổng tài sản càng giảm.
 Sức sinh lợi của tài sản cố định.
Sức sinh lợi TSCĐ =
Lîi nhuËn
TSC§ b×nh qu©n kú
Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị nguyên giá bình quân ( hay giá còn lại bình quân
) tài sản cố định đem lại mấy đơn vị lợi nhuận thuần trước thuế. Sức sinh lợi càng
lớn thì hiệu quả sử dụng tài sản cố định càng cao và ngược lại.
2.2.6. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.
 Sức sản xuất của vốn lưu động.
Sức sản xuất của vốn lưu động =
Doanh thu
Vèn cè ®Þnh
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị tài sản lưu động bình quân đem lại mấy
đơn vị tổng doanh thu thuần. Sức sản xuất của tái sản lưu động càng lớn, hiệu
quả sử dụng tài sản lưu động càng tăng và ngược lại, nếu sức sản xuất của tài sản
lưu động càng nhỏ, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng giảm.
SV: Vũ Thuý Quỳnh Lớp: Kế hoạch 46A
Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
 Sức sinh lợi của vốn lưu động.
Sức sinh lợi của VLĐ =
Lîi nhuËn
Vèn cè ®Þnh

doanh nghiệp trong các ngành sẽ giảm sút theo.
Mức lãi suất sẽ quyết định đến cầu cho các sản phẩm của doanh nghiệp.
Thực vậy, khi lãi suất tăng lên người tiêu dùng sẽ có xu hướng để dành tức là tiết
kiệm nhiều hơn cho tương lai. Điều này làm giảm cầu về hàng hoá của doanh
nghiệp trong hiện tại và do đó hiệu quả kinh doanh giảm la tất nhiên.
Chính sách tiền tệ và tỷ gía hối đoái cũng có thể tạo ra một vận hội tốt cho
doanh nghiệp nhưng cũng có thể là nguy cơ cho sự phát triển của chúng.
Lạm phát và chống lạm phát cũng là một chỉ tiêu quan trọng cần phải phân
tích. Trên thực tế, nếu tỷ lệ lạm phát cao thì việc kiểm soát giá cả và tiền công có
thể không làm chủ được. Lạm phát tăng lên, dự án đầu tư trở nên mạo hiểm hơn,
rút cục các doanh nghiệp sẽ giảm nhiệt tình đầu tư phát triển sản xuất. Như vậy,
lạm phát cao là mối đe doạ đối với doanh nghiệp nói chung cũng như hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng.
3.1.2. Môi trường chính trị, luật pháp.
Các nhân tố chính phủ, luật pháp và chính trị tác động đến doanh nghiệp
theo các hướng khác nhau. Chúng có thể tạo ra cơ hội, trở ngại thậm chí rủi ro
cho doanh nghiệp. Chúng thường bao gồm:
SV: Vũ Thuý Quỳnh Lớp: Kế hoạch 46A
Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán về các quan điểm, chính sách lớn luôn
là sự hấp dẫn các nhà đâù tư. Hệ thống luật pháp được xây dựng và hoàn thiện sẽ
là cơ sở kinh doanh ổn định.
Các quyết định về quảng cáo đối với một số doanh nghiệp, lĩnh vực kinh
doanh sẽ là mối đe doạ, chẳng hạn các công ty rượu sản xuất rượu cao độ, thuốc
lá…
Quyết định về các loại thuế và các lệ phí có thể vừa tạo cơ hội cũng lại vừa
có thể là những phanh hãm phát triển sản xuất.
Luật lao động, quy chế tuyển dụng, đề bạt,chế độ hưu trí, trợ cấp thất
nghiệp cũng là những điều mà doanh nghiệp cần phải tính đến.
3.1.3. Môi trường văn hoá, xã hội.

có cơ hội tăng giá bán và kiếm đựoc nhiều lợi nhuận hơn, điều này cũng đồng
nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội để nâng cao hiệu quả kinh doanh
của mình hơn. Ngược lại, khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh
tranh về giá cả là đáng kể, và mọi cuộc cạnh tranh về giá cả thì đều dẫn đến sự
tổn thương.
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành sản xuất thường
bao gồm các nội dung chủ yếu như: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cầu của
ngành và các hàng rào lối ra.
Cơ cấu cạnh tranh của ngành dựa vào số liệu và khả năng phân phối sản
phẩm của doanh nghiệp trong ngành sản xuất. Cơ cấu cạnh tranh khác nhau có
SV: Vũ Thuý Quỳnh Lớp: Kế hoạch 46A
Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
các ứng dụng khác nhau cho cạnh tranh. Cơ cấu cạnh tranh thay đổi từ ngành sản
xuất phân tán tới ngành sản xuất tập trung. Thông thường ngành riêng lẻ bao
gồm một số lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có một doanh nghiệp nào
trong số đó có vị trí thống trị ngành. Trong khi đó một ngành tập trung có sự chi
phối bởi một số ít các doanh nghiệp lớn, thậm chí chỉ một doanh nghiệp duy nhất
gọi là độc quyền.
Tình trạng cầu của ngành là một yếu tố quyết định khác về tính mãnh liệt
trong cạnh tranh nội bộ ngành. Thông thường, cầu tăng tạo cho doanh nghiệp
một cơ hội lớn để mở rộng hoạt động. Ngược lại, cầu giảm dẫn đến cạnh tranh
khốc liệt để các doanh nghiệp giữ đựoc thị phần đã chiếm lĩnh. Đe doạ mất thị
trường là một điều khó tránh khỏi đối với các doanh nghiệp không có khả năng
cạnh tranh.
Hàng rào lối ra là mối đe doạ cạnh tranh nghiêm trọng khi cầu của thị trường
giảm mạnh. Hàng rào lối ra là kinh tế, là chiến lược, là tình cảm giữ doanh
nghiệp trụ lại. Nếu hàng rào lối ra cao, các doanh nghiệp có thể bị khoá chặt
trong một ngành sản xuất không ưa thích.
3.1.6. Nhà cung cấp.
Những nhà cung ứng có thể được coi là một áp lực đe doạ khi họ có khả

Khách hàng có thể vận dụng chiến lược liên kết dọc, tức là họ có xu hướng
khép kín sản xuất, tự sản xuất, gia công các bộ phận chi tiết, bán sản phẩm cho
mình. Chẳng hạn các doanh nghiệp dệt khép kín sản xuất để có sợi phục vụ cho
dệt.
SV: Vũ Thuý Quỳnh Lớp: Kế hoạch 46A
Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
Khách hàng có đầy đủ các thông tin về thị trường như nhu cầu, giá cả…của
các nhà cung cấp thì áp lực của họ càng lớn.
3.2. Các nhân tố thuộc nội bộ doanh nghiệp.
3.2.1. Nguồn nhân lực.
Nhân lực là lực lượng lao động sáng tạo của doanh nghiệp. Toàn bộ lực
lượng lao động của doanh nghiệp bao gồm: lao động quản trị, lao động nghiên
cứu và phát triển, đội ngũ lao động kỹ thuật trực tiếp tham gia vào quá trình sản
xuất tác động rất mạnh và mang tính chất quyết định đến mọi hoạt động của
doanh nghiệp.
Do vai trò ảnh hưởng có tính chất quyết định của nguồn nhân lực, doanh
nghiệp cần luôn chú trọng trước hết đến đảm bảo số lượng, chất lượng và cơ cấu
của 3 loại lao động: các nhà quản trị cao cấp, các nhà quản trị cấp trung gian và
cấp thấp và đội ngũ các thợ cả, nghệ nhân và công nhân có tay nghề cao. Bên
cạnh đó, doanh nghiệp cần phải đảm bảo được các điều kiện vật chất, kỹ thuật
cần thiết và tổ chức lao động sao cho tạo động lực phát huy hết tiềm năng của
đội ngũ lao động này.
3.2.2. Cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối
liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá, được giao những
trách nhiệm và quyền hạn nhất định và được bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện
chức năng quản trị doanh nghiệp.
Quản trị doanh nghiệp tác động mạnh mẽ đến hoạt động lao động sáng tạo
của đội ngũ lao động, đến sự đảm bảo công bằng giữa doanh nghiệp với môi
trường bên ngoài cũng như cân đối có hiệu quả các bộ phận bên trong doanh

Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay, sự phát triển nhanh
chóng mọi lĩnh vực kỹ thuật – công nghệ đều tác động trực tiếp đến hoạt động
kinh doanh của mọi doanh nghiệp có liên quan. Với trình độ khoa học kỹ thuật
hiện tại ở nước ta hiệu quả của các hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ
đã, đang và ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động của nhiều doanh
nghiệp. Nếu các doanh nghiệp nước ta muốn nhanh chóng vươn lên, tạo ra khả
năng cạnh tranh để có thể đứng vững ngay trên “sân nhà” và vươn ra thị trường
khu vực và quốc tế sẽ không thể không chú ý nâng cao nhanh chóng khả năng
nghiên cứu và phát triển, không chỉ là chuyển giao công nghệ, làm chủ công
nghệ nhập ngoại mà phải có khả năng sáng tạo được công nghệ - kỹ thuật tiên
tiến.
Kỹ thuật – công nghệ mới thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp phát triển theo hướng tăng nhanh tốc độ, đảm bảo sự ổn định bền vững trong
hoạt động kinh doanh và bảo vệ môi trường sinh thái. Vì ảnh hưởng của nó đến các
ngành, các doanh nghiệp là khác nhau nên phải phân tích tác động của nó đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp thuộc ngành cụ thể nhất định.
4. Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước và các công ty cổ
phần trong nền kinh tế thị trường.
4.1. Hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp Nhà nước.
4.1.1. Đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước.
Doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn,
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc công ích nhằn thực hiện
các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước. DNNN có tư cách pháp nhân, có
quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh
trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý.
SV: Vũ Thuý Quỳnh Lớp: Kế hoạch 46A
Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
DNNN là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra
sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cho xã hội. Tất cả các DNNN đều do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập, nhằm thực hiện các mục

nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận.
DNNN hoạt động công ích bao gồm:
- Các doanh nghiệp sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng
cho quốc phòng, an ninh và các doanh nghiệp tại các địa bàn chiến lược quan
trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng.
- Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng khác có
ít nhất 70% doanh thu từ các hoạt động trong các lĩnh vực sau đây:
+ Giao thông, công chính đô thị;
+ Quản lý, khai thác, duy tu, bảo dưỡng hệ thống cơ sở hạ tầng: hệ thống
đường sắt quốc gia, đường bộ, đường thuỷ, sân bay, điều hành bay, bảo đảm
hàng hải, dẫn dắt tàu ra vào cảng biển; kiểm định kỹ thuật phương tiện giao
thông đường bộ, đường thuỷ; kiểm tra, kiểm soát và phân phối tần số vô tuyến
điện.
+ Khai thác bảo vệ các công trình thuỷ lợi;
+ Sản xuất giống gốc cây trồng, vật nuôi;
+ Xuất bản và phát hành sách giáo khoa, sách báo chính trị. Sản xuất và
phát hành phim thời sự, tài liệu, phim cho thiếu nhi. Sản xuất và cung ứng muối
SV: Vũ Thuý Quỳnh Lớp: Kế hoạch 46A
Khoa kế hoạch phát triển Chuyên đề tốt nghiệp
ăn, chiếu bóng phục vụ vùng cao, biên giới, hải đảo. Sản xuất sản phẩm, cung
ứng dịch vụ khác theo chính sách xã hội của Nhà nước.
Đối với DNNN hoạt động công ích thì các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả kinh
tế là không quan trọng. Mà chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả của loại
hình doanh nghiệp này là tình hình thực hiện các sản phẩm, dịch vụ công ích và
tình hình chấp hành các quy định của pháp luật hiện hành.
 DNNN hoạt động kinh tế.
DNNN hoạt động kinh tế là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ
vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công
ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, không bao gồm
những doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực ở trên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status