Tài liệu Bài tập: Phần mềm quản lý tri thức đem đến những ưu thế đặc thù nào cho các tổ chức hoạt động trên phạm vi toàn cầu - Pdf 97


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC …………………………
KHOA ………



QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Bài tập: Phần mềm quản lý tri thức đem đến những ưu thế
đặc thù nào cho các tổ chức hoạt động trên phạm vi toàn cầu.
Giáo viên hướng dẫn : ……………………
Sinh viên : …………………….
MSSV : ……………………
Lớp : …………………
thời tri thức có thể được lưu giữ theo nhiều quy trình có tổ chức, hay bằng
các sản phẩm, phương tiện. hệ thống hoặc các tài liệu.
Trên thực tế có rất nhiều cách định nghĩa về tri thứ. Nhưng để phục bài
viết này ta có thể định nghĩa định nghĩa như sau: tri thức là những ý tưởng và
những hiểu biết mà những quy trình trong một tổ chức được sử dụng để hành
động có hiệu quả nhằm thực hiện mục đích của tôt chức đó. Loại tri thức này
rất cụ thể đối với tỏ chức đã tạo ra chúng.
Tri thức có giá trị gì không? nó giúp nhà quản trị kinh doanh những gì?
Chúng ta hãy phân tích ; nền kinh tế- xã hội toàn cầu hiện nay đang phát triển
với một tốc độ chóng mặt; những cơ sở tri thứccủa các tổ chức đang nhanh
chóng trở thành thế mạnh cạnh tranh bền vững của các ổ chức đó. chính vì
thế mà nguồn tài nghuyên tri thức này cần được bảo vệ, nuôi dưỡng và chia sẻ
cho các thành viên trong tổ chức để tiêu dùng nó tạo nên một sức mạnh cộng
hưởng thật lớn, đưa tổ chức đạt được những mục tiêu đã định một cách mỹ
mãn. Gần đây, các công ty có thể thành công trên cơ sở tri thức cá nhân của
một nhóm những cá nhân được đặt đúng chỗ về chiến lược. Tuy vậy, khí đối
thủ cạnh tranh hứa hẹn nhiều dịch vụ có hàm lượng tri thức hơn thì sự cạnh
tranh sẽ mất đi. Tại sao như vậy? Bởi vì, tri thức của một tổ chức không hề
thay thế tri thức cá nhân, mà nó lại bổ sung cho tri thức cá nhân, làm cho tri
thức cá nhân rộng hơn và mạnh mẽ hơn. Do vậy việc sử dụng cơ sở tri thức
của tổ chức cùng với những tiềm năng về các kỹ năng, năng lực, sự suy nghĩ,
óc sáng tạo và ý tưởng của các cá nhân sẽ cho phép công ty cạnh tranh hiệu
quả hơn trong tương lai. Vậy giá trị của tri thức thể hiện ở đó.
Tri thức có giá trị, còn quản lý những giá trị đó hay quản lý tri thức đó
là thế nào? Chúng ta có thể hiểu: Quản lý tri thức là một tiến trình có tính hệ
thống để tìm tòi, chọn lựa, tổ chức, chắt lọc và trình bày những thông tin theo
cách có thể phát triển được sự hiểu biết của nhân viên trong công ty trong một
lĩnh vực cụ thể được quan tâm. Quản lý tri thức giúp cho tổ chức thu được sự
hiểu biết sâu sắc từ kinh nghiệm của chính bản thân tổ chức đó. Các hoạt
động quản lý tri thức cụ thể sẽ giúp cho tổ chức tập trung vào việc thu được,

tổ chức hoạt động trên phạm vi toàn cầu. Đây chính là câu trả lời của câu hỏi:
Tại sao phải quản lý tri thức?. Tại vì: Bất kỳ công ty nào khi có thể xác định
được cách thức cung cấp thông tin có tổ chứccho những người cần tin vào
thời khắc họ cần, đều có thể xác định được vị thế của mình để cạnh tranh có
hiệu quả hơn và thành công hơn. Đã có rất nhiều công ty có trong tay những
thông tin thiết yếu, song vì người nắm giữ nó chỉ có một hoặc một vài người,
đồng thời người đó lại không hay ít nỗ lực truyền đạt thông tin đó đến nhiều
người khác. Hay có thể là do sự tiết kiệm chi phí cho công ty mà không sử
dụng thông tin tri thức một cách rộng rãi toàn diện. Do đó mà việc sử dụng hệ
thống quản lý tri thức là thật cần thiết, nếu công ty nào khai thác tốt vốn tri
thức của mình sẽ có thể sử dụng thành công tài sản đó tạo ra ca cs thách thức
và cơ hội làm ăn cho công ty mình.
Phần mềm quản lý tri thức cần phải được chia sẻ. Có vậy những công ty
hoạt động trên phạm vi toan cầu sẽ thu được nhiều lợi ích.
VD: Tổng giám đốc Robert buckman của hãng Buckman Labartories đã
chia sẻ tri thức bằng cách: gửi một thư điện tử e - mail tới mọi người trên toàn
cầu kêu gọi giúp đỡ để giải quyết một đề nghị khá phức tạp của một khách
hàng. Chỉ sau vài giờ các câu trả lời đã tới tấp đến văn phòng ông, rồi nhiều ý
biến được gửi đến từ Cânda, Thuỵ Điển, Nui Di Lân, Tây Ban Nha, Men
Phig, Mexico, Nam Phi… Kết quả đạt được là ông đã bán được một lúc 6
triệu UDS. Rõ ràng: Phần mềm quản lý tri thức đã đem lại hiệu quả rất cao,
dễ nhận được sự trợ giúp nhanh chóng cảu rất nhiều đồng nghiệp từ mọi nơi
trên trái đất. Câu chuyện nay là một minh chứng cụ thể coh sự hợp tác có tổ
chức của "những con người mạch mẽ nhất, là những người trở thành một
nguồn tri thức thông qua việc chia sẻ những đièu họ hiểu biết được".
Chia sẻ tri thức là cơ sở của mọi hệ thống quản lý tri thức, bởi vì, nếu
không có một phần mềm và một cơ chế để tạo điều kiện cho lực lượng lao
động trên toàn cầu chuyển giao những điều họ biết qua lại cho nhau thì việc
quản lý tri thức trở lên vô ích.
Tạo ra một phần mềm và sử dụng cơ chế quản lý phần mềm tri thức đó

mới vừa sử dụng, vừa đóng gốp làm giàu thêm kho tàng tri thức toàn cầu.
Tóm lại, thế luỷ mà chúng ta đang sống là thế luỷ mà thông tin đang
chiếm thé thương phong. Thông tin và tri thức đong là những vũ khí cạnh
tranh nguyên tử cảu thời đại chúng ta. Vốn tri thức chính là sự giàu có mới
của các thể chế. Tri thức đang có giá trị gấp bội lần các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, gấp bội lần các nhà máy lớn, gấp bội lần những sổ sách và những
sấp tiền dày cộp.
Những ưu thế và những giá trị mà phần mềm quản lý tri thức đem đến
cho những công ty hoạt động trên phạm vi toàn cầu quả là không lường trước
được. Có điều quản lý và sử dụng nó như thế nào để vừa tạo ra lợi nhuận, vừa
tạo ra một bầu sinh thái công ty. Và trước khi làm điều này thì phải hiểu
chính xác được vốn tri thức là gì và bằng cách nào để nó chỉ có thể cải thiện
các hiệu năng của một tổ chức, mà còn dẫn tới các ý tưởng tiến bộ.

Bài 3: QUẢN LÝ RỦI RO

-Hình thức thứ nhất là: rủi ro do các điều kiện khách quan mang lại: loại
rủi ro này nằm ngoài tầm kiẻm soát của con người, ngoài ý muốn của con
người. Nó có thể xảy ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh điều kiện của con
người và xảy ra trong mọi trường hợp.
-Hình thức thứ hai là: rủi ro phát sinh ra ngay trong laong mỗi doanh
nghiệp: laọi rủi ro này xảy ra hay không? mức độ như thế nào hoàn toàn phụ
thuộc vào doanh nghiệp, phụ thuộc vào tài năng, trí tuệ, tầm kiẻm soát của
nhà lãnh đạo, của nhà hoạch định chính sách, chiến lược của riêng từng doanh
nghiệp; phụ thuộc vào cơ cấu bộ máy, chức năng hoạt động, nhiệm vj và
những công cụ sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp.
với các công ty, doanh nghiệp của Mỹ, khi thâm nhập thị trường Việt
Nam, sau khi đã tìm hiểu kỹ lưỡng thị trường Việt Nam và quyết định đầu tư,
xâm nhập vào, thì loại rủi ro vấp phải thường là loại rủi ro xuất phát từ điều
kiện khách quan.
Bốn laọi rủi ro điển hình mà doanh nghiệp Mỹ fải đối mặt khi tham gia
xam nhập thị trường Việt Nam là những loại sau.
*Thứ nhất:
Loại rủi ro mà môi trường pháp lý Việt Nam đem đến;
Trước khi đến với thị trường Việt Nam, chắc rằng các doanh nghiệp
Mỹ đã tìm hiểu độ ổn định của pháp luật Việt Nam; tìm hiểu những cơ hội và
những thách thức mà họ sẽ phải đối mặt. Nhưng luật xuất thân từ đời sống
kinh tế- xã hội mà ra, rồi luật lại quay về phục vụ cuộc sống và làm việc theo
lẽ đời; gúp điều chỉnh những hành vi không hợp lẽ đời. Luật cũng sẽ thay đổi
theo đời sống kinh tế- xã hội của con người.
Luật pháp Việt Nam là khá ổn định; tội phạm, khủng bố ở Việt Nam
hầu như không có; môi trường an ninh chính trị tươn đối tôt. Nhưng ai dám
khẳng định luật Việt Nam là vĩnh hằng.
Một ví dụ cụ thể minh chứng cho điều này:
VD: công ty TNHH Nam Thành - Hải Phòng: một công ty chuyển tải
đường bộ, sau khi đã tính toán xem xét điều kiện chuyên chở nguồn hàng,

* Thứ ba:
Việt Nam là nước có thị trường chứng khoán vô cùng non trẻ, hầu hết
các giao dịch trong dân cư diễn ra ở thị trường tự do. Chỉ có các công ty,
doanh nghiệp mới có giao dịch với ngận hàng nhưng ở mức độ còn cầm
chừng. Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam còn rất ít và hoạt động chưa bao giờ
hết công suất: công tác kiểm toán còn mới mẻ, Việt Nam chưa xây dựng được
mối quan hệ giao dịch thân thiệt giữa các công ty với các ngân hàng, với các
chuyên gia bên ngoài và các kiểm toán viên. Các công cụ mà hệ thống ngân
hàng viẹt Nam sử dụng chưa đồng bộ; loại đồng tiền chuyển đổi còn quá ít
ỏi và giá cả chưa thực sự hấp dẫn khách hàng.
Với các doanh nghiệp Mỹ thì họ đã quen giao dịch mọi thứ thông qua
ngân hàng, thông qua các loại thẻ điện tử; và tác phong làm ăn giao dịch kiẻu
công nghiệp hiện đại. Vậy khi đến với Việt Nam họ chắc chắn sẽ vấp phải
phong cách làm ăn chậm chạ, cổ hủ, tàn dư của xã hội qan liêu kiểu cũ…, như
vậy sẽ đem lại nhiều điều bực mình và phiền toái.
* Thứ tư :
Đó là vấn đề đầu ra của sản phẩm của các doanh nghiệp Mỹ dưới thị
trường Việt Nam: việc làm quen với người tiêu dùng Việt Nam không phải là
một bước đi ngắn đối với các công ty toàn cầu đang quan tâm đến việc khai
thác các thị trường mới xuất hiện. Việt Nam là nước đông dân thứ ba ở Đông
Nam Á sau Indonexia và Philipin. Tuy nhiên các thương nhân phải biết rằng
do tổng sản phẩm quốc dân theo đầu người ở Việt Nam chỉ bằng 400úD/1
năm( với khoảng 35% dân số nghèo) thì theo các chuyên gia, mục tiêu ban
đầu rất có thể là lương vào 15 đến 20 triẹu người tiuê dùng Việt Nam thuộc
tầng lớp trung lưu với thu nhập sau thuế là 100 USD/ 1 năm và có thể là cao
hơn vì số tiền gửi ở ngân hàng ngoài nước ngoài không được không được
công bố ước tính là 1 đến 2 tỷ USD /1 năm. Hơn nữa ông Peterson, Đại sứ
Mỹ đầu tiên tại Việt Nam sau chiến tranh nhiệm kỳ (1997-2001) nhận xét
rằng một bộ phận dân cư Việt Nam đã cất giấu một khoản tiền tiết kiệm
khoảng 25 tỷ USD và có thể nhiều hơn ở đâu đó bí mật chứ không phải ở các

nghiệp. Công việc này phải do nhóm các nhân viên đại diện cho tất cả các bộ
phận chức năng của tổ chức. Bản đánh giá phải được chuẩn bị kỹ càng, có
bằng chứng xác thực và được thực hiện theo định kỳ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status