Tài liệu Tiểu luận "Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn Việt Nam - thực trạng, chủ trương chính sách và khuyến nghị giải pháp" - Pdf 97

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (NÂNG CAO)
Chuyên đề: “Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn Việt Nam -
thực trạng, chủ trương chính sách và khuyến nghị giải pháp”
GV Hướng dẫn: PGS.TS. Quyền Đình Hà
HV Thực hiện: Nguyễn Mạnh Thìn
Nhóm: 4, Lớp: Kinh tế nông nghiệp 18A
HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2010
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU 3
1.1. Đặt vấn đề 3
1.2. Giới hạn, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu 3
1.2.1. Giới hạn nghiên cứu 3
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.3. Phương pháp nghiên cứu 4
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1. Lý luận về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực cho nông nghiệp và nông thôn 4
2.1.1. Nguồn nhân lực 4
2.1.2. Nguồn nhân lực cho nông nghiệp và nông thôn 4
2.1.3. Đào tạo nguồn nhân lực, chủ trương chủ yếu cho đào tạo nguồn nhân lực
cho nông nghiệp, nông thôn 5
III. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
CHO NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM 6
3.1. Tình hình lao động nông nghiệp, nông thôn hiện nay 6
3.2. Xu thế vận động của lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn 9
3.3. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 10
3.3.1. Khó khăn trong phát triển nguồn nhân lực cho nông thôn, nông nghiệp và
sức ép của các khó khăn đó cho công tác đào tạo 10
3.3.2. Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực cho nông thôn, nông nghiệp.

nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn Việt Nam - thực trạng, chủ trương chính
sách và khuyến nghị giải pháp”.
1.2. Giới hạn, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu.
1.2.1. Giới hạn nghiên cứu.
Đề tài giới hạn trong phạm vi thời gian những năm gần đây, liên quan đến bức
tranh nguồn nhân lực ở nông thôn và trong nông nghiệp, thực trạng công tác đào tạo
nguồn nhân lực cho nông thôn, nông nghiệp, các thuận lợi, khó khăn và hạn chế của
nó; từ đó có những khuyến nghị về chủ trương chính sách. Không đi sâu và mở rộng
cho toàn bộ các ngành kinh tế và khu vực khác ngoài khu vực nông nghiệp và nông
thôn.
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu.
a. Mục tiêu chung: Nghiên cứu thực trạng đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp,
nông thôn nước ta, chủ trương và chính sách chính hiện tại, từ đó đề ra khuyến nghị
giải pháp chính.
b. Các mục tiêu cụ thể.
3
- Hệ thống hoá lý thuyết về nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn; đào
tạo nguồn nhân lực (cho nông nghiệp, nông thôn).
- Thực trạng nguồn nhân lực trong nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay.
- Xu thế vận động của nguồn nhân lực trong khu vực nông nghiệp nông thôn.
- Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn.
- Chủ trương và chính sách chủ yếu đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực
cho nông nghiệp, nông thôn. Khuyến nghị giải pháp chính.
1.2.3. Phương pháp nghiên cứu.
- Khai thác các nguồn số liệu có sẵn đã qua xử lý (thu thập số liệu thứ cấp) từ
các nguồn khác nhau để mô tả thực trạng (thống kê mô tả).
- Xây dựng khung lý thuyết để khái quát vấn đề.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
2.1. Lý luận về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực cho nông nghiệp và nông thôn.
2.1.1. Nguồn nhân lực.

cho nông nghiệp, nông thôn.
Theo giáo trình kinh tế lao động “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị
kiến thức nhất định và chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm
nhận được một số công việc nhất định. Đào tạo gồm đào tạo kiến thức phổ thông và
đào tạo kiến thức chuyên nghiệp”.
Theo quá trình quản trị nhân lực đào tạo được biểu hiện là các hoạt động nhằm
giúp cho người lao động có thể thực hiện tốt hơn chức năng nhiệm vụ của mình.
Với nguồn nhân lực thì đào tạo luôn đi liền với phát triển. Theo nghĩa rộng:
phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành
trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề
nghiệp của người lao động. Theo nghĩa hẹp: phát triển là các hoạt động học tập vượt
ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những
công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức hoặc phát triển
khả năng nghề nghiệp của họ (giáo trình QTNL).
Một cách định nghĩa khác : Phát triển được hiểu là quá trình làm tăng kiến thức,
kỹ năng, năng lực và trình độ của cá nhân người lao động để họ hoàn thành công việc
ở vị trí cao hơn trong nghề nghiệp của bản thân họ (theo giáo trình KTLĐ)
Phát triển xét trên phạm vi phát triển con người thì đó là sự gia tăng giá trị cho
con người về cả tinh thần, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng…lẫn thể chất. Phát triển
nguồn lực con người nhằm gia tăng các giá trị ấy cho con người, làm cho con người
trở thành những người lao động có năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng được yêu
cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội.
Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy
Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Đào tạo
nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn được cụ thể hoá là: “Tăng cường đào tạo,
bồi dưỡng kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại cho
nông dân; đào tạo nghề cho bộ phận con em nông dân để chuyển nghề, xuất khẩu lao
động; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ
sở. Hình thành chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân
lực, đảm bảo hàng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn. Thực hiện tốt việc

4767,0 4933,1 5114,0 5291,9 5371,9
Khách sạn và nhà hàng
755,3 767,5 783,3 813,9 830,9
Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc
1202,2 1208,2 1213,8 1217,4 1221,7
Tài chính, tín dụng
124,9 156,3 182,8 209,9 220,1
Hoạt động khoa học và công nghệ
25,0 24,5 26,0 26,9 26,9
Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài
sản và dịch vụ tư vấn
129,7 151,4 178,7 216,0 251,5
QLNN; bảo đảm XH bắt buộc
535,6 648,4 716,9 793,2 866,9
Giáo dục và đào tạo
1183,9 1233,7 1300,2 1356,7 1401,4
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội
344,7 359,7 372,7 384,3 399,8
Hoạt động văn hoá và thể thao
128,8 132,7 134,3 136,4 134,7
Các hoạt động Đảng, đoàn thể và hiệp hội
125,9 149,5 171,5 192,9 220,1
Hoạt động phục vụ cá nhân, công cộng và
dịch vụ làm thuê
616,1 739,5 814,2 896,7 979,2
Nguồn: Tổng cục thống kê.
6
Bảng 2. Cơ cấu lao động đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân theo ngành kinh tế.
Nghìn người
2004 2005 2006 2007 Sơ bộ 2008

Malaysia (18%); Theo số liệu tại bảng 1, tỷ lệ này có sai lệch (khoảng 57,1%) nhưng
vẫn cao hơn so với các nước đó.
7
Về năng suất lao động của lao động ngành nông nghiệp cũng rất thấp, dù đã
tăng từ 4 triệu đồng/người năm 2000 lên 12,2 triệu đồng/người năm 2008 (tăng 3.05
lần trong 8 năm), song so với bình quân của tất cả các ngành kinh tế (năm 2008: 32,9
triệu đồng/người/năm) là quá thấp, mức chênh lệch lên tới gần 2,7 lần.
Nguyên nhân lao động nông nghiệp có năng suất thấp là do sản xuất nông
nghiệp chủ yếu ở quy mô nhỏ; Trong những năm qua, mặc dù diện tích đất nông
nghiệp có tăng lên, nhưng do quá trình đô thị hoá, đất phát triển công nghiệp và các
nhu cầu khác không ngừng tăng lên, nên diện tích đất nông nghiệp tăng không đáng
kể. Trong khí đó dân số tăng nhanh làm cho đất nông nghiệp bình quân đầu người
giảm. Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp chỉ còn 1.224 m2/người (bình quân trên thế
giới là 2.500 m2/người). Thấp nhất là khu vực đồng bằng sông Hồng chỉ có 497 m2.
Mặt khác, đất nông nghiệp lại phân bổ manh mún. Hiện nay, cả nước có tới hơn 75
triệu thửa ruộng, làm cho sản xuất nông nghiệp rất khó áp dụng những tiến bộ khoa
học kỹ thuật, cơ giới hoá, hiện đại hoá để sản xuất mang tính hàng hoá. Đồng thời
trình độ công nghệ lạc hậu, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở khu vực nông thôn
cao (xem bảng 3).
Bảng 3. Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ
tuổi năm 2008 phân theo vùng
(*)
Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
Chung Thành thị
Nông

lệ lao động làm việc trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ, đồng
thời giảm tỷ lệ lao động trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp (năm 2006, lao động
làm việc trong nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp là 23,2 triệu người (chiếm 69%).
Năm 2007 còn 21,7 triệu người (chiếm 62,5%), giảm 6,5%).
Xu thế này là tất yếu trong quá trình phát triển của các nước đang phát triển.
Việt Nam chúng ta cũng vậy. Song điều cần quan tâm ở đây là sự chuyển dịch này
diễn ra không như mong muốn. Thể hiện ở việc phần lớn lao động chuyển từ nông
thôn ra thành thị và chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ là lao động chưa
qua đào tạo, chưa có tay nghề cao; vì vậy họ là những người phải chấp nhận mức thu
nhập thấp, công việc bếp bênh không ổn định, rất dễ thất nghiệp và buộc phải quay lại
khu vực nông thôn và chấp nhận làm nông nghiệp (dù thu nhập rất thấp). Tâm lý của
các lao động chuyển từ khu vực nông nghiệp, nông thôn sang thành thị và khu vực
kinh tế phi nông nghiệp, là không ổn định, họ không dời bỏ hẳn được nông nghiệp
nông thôn. Hiện tượng này lý giải cho tỷ lệ thiếu việc làm (bán thất nghiệp) ở khu vực
nông thôn lên tới 6,1%. Theo tác giả Bùi Quang Bình - Đại học kinh tế Đà Nẵng, năm
2002 số người không có việc làm ở nông thôn (theo quy đổi) lên tới 7,5 triệu người.
Các vấn đề nói trên nói lên là sự chuyển dịch đó là không có tính bền vững, dễ đẩy xã
hội nông thôn đến sự xáo trộn và thiếu an toàn, đặc biệt nghiêm trọng hơn trong
trường hợp gặp phải các cú sốc bất thường như khủng hoảng kinh tế.
Lao đao tìm việc

Theo báo cáo ảnh hưởng của suy giảm kinh tế đến lao động, việc làm và đời sống người dân nông
thôn của IPSARD, từ đầu năm đến nay, tại An Giang, Bình Thuận, Lạng Sơn và Nam Định lao động di
cư mất việc trở về địa phương tăng đột biến, trong đó Nam Định tăng 22,5%; Lạng Sơn là 21,1%
Nếu xét theo đặc điểm địa bàn xã thì lao động di cư mất việc ở các xã trung du chiếm tỷ lệ cao nhất.
Như vậy, các xã nghèo chịu ảnh hưởng mất việc của lao động di cư cao hơn các xã trung bình. Khủng
hoảng kinh tế còn ảnh hưởng rõ nét tới vấn đề lao động xuất khẩu. Chỉ trong 4 tháng đầu năm, đã có
17,25% lao động hợp tác ở nước ngoài phải về nước trước thời hạn. Theo cơ cấu thu nhập thì xã
nông nghiệp có tỷ lệ lao động xuất khẩu mất việc cao nhất và cơ hội tìm kiếm việc làm mới cũng rất
khó đối với người nông dân. Thống kê mới nhất cho thấy, chỉ có 11,3% số lao động trở về địa phương

hội thăng tiến về nghề nghiệp cũng như phát huy được tính năng động sáng tạo; mặt
khác là do sự ít đa dạng về sản xuất và hoạt động kinh doanh, sự không hoàn thiện
của sản xuất dẫn đến việc chỉ dừng lại ở nhu cầu sử dụng lao động chân tay đơn giản,
không có nhu cầu sử dụng lao động kỹ thuật cao và phức tạp, thành ra người có kiến
thức và tay nghề ở nông thôn trở nên bị thừa một cách bất đắc dĩ.
Xét riêng trong lĩnh vực lao động trong nông lâm ngư nghiệp cũng bị giới hạn
bởi đặc điểm của nông nghiệp nước ta: nhỏ lẻ, manh mún và giản đơn. Thực tế nông
nghiệp nước ta vẫn rất thiếu lao động tay nghề cao cho phát triển, nhưng sự phát triển
nông nghiệp quá chậm lại làm cản trở công tác đào tạo nghề. Ví dụ đơn giản như để
có nhiều người làm cơ khí nông nghiệp thì nông nghiệp phải sử dụng nhiều máy móc
thiết bị cơ giới; để sử dụng nhiều máy móc cơ giới thì đồng ruộng phải đủ lớn về quy
mô diện tích. Song ở nước ta ruộng đất manh mún, toàn mảnh nhỏ nên không cần
máy móc, từ đó máy không có nhiều dẫn đến không có người có nhu cầu được đào tạo
về cơ khí nông nghiệp. Đây chính là nguyên nhân các cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp
10
cũng không phát triển được, điều này cũng diễn ra cả trên góc độ đào tạo tay nghề
cũng như đào tạo quản lý cho nông nghiệp, nông thôn.
Xét về đào tạo nhân lực cho công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, điều tương tự
cũng xảy ra, nhưng nguyên nhân lại ở khía cạnh khác. Để có đội ngũ đông đảo lao
động có trình độ và tay nghề cao trong hoạt động thương mại, dịch vụ thì điều cần là
thương mại và dịch vụ phải phát triển. Riêng về dịch vụ, xuất phát cho sự phát triển là
nhu cầu, nhu cầu dịch vụ lại bắt đầu từ sự phân công và chuyên môn hoá. Ở nông
thôn nói chung, trong sản xuất nông nghiệp nói riêng của nước ta thì mức độ chuyên
môn hoá còn quá thấp, phần lớn các hộ nông dân còn hoạt động sản xuất ở dạng tự
cung, tự cấp dẫn đến các nhu cầu về dịch vụ thương mại hàng hoá khó phát triển. Thu
nhập thấp của đa số cư dân nông thôn cũng cản trở dịch vụ phát triển, họ không đủ để
chi trả cho các dịch vụ về y tế, giáo dục, thông tin và bảo hiểm ở mức độ trung bình.
Điều này là một phần nguyên nhân làm cho các ngành dịch vụ này ở nông thôn phát
triển chậm, lao động hoạt động trong lĩnh vực này ở nông thôn cũng có thu nhập
không cao và luôn mong muốn chuyển từ nông thôn về làm việc tại đô thị và chuyển

các trường tuyển sinh rất khó khăn vì học sinh cho rằng sau khi tốt nghiệp các trường
này phải làm ở nông thôn, ở các vùng khó khăn nên không thích.
Các ngành về công nghiệp, xây dựng liên quan đến nông nghiệp, nông thôn
mặc dù rất dễ xin việc sau khi đào tạo nhưng cũng không có sức hấp dẫn như công
nghiệp thuỷ điện, xây dựng thuỷ lợi, cơ khí nông nghiêp vv…
Trong khi đó, lại có nghịch lý khối ngành Nông – Lâm – Ngư có những ngành đào tạo đang lâm
vào tình trạng "thoi thóp"
"Nhìn chung, tuyển sinh rất khó khăn, chất lượng đầu vào thấp, số lượng không đảm bảo”, ông Đặng Kim
Vui, Hiệu trưởng trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, khẳng định.
Mùa tuyển sinh năm 2009, Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên có 13.000 thí sinh đăng ký dự thi nhưng
chỉ có khoảng 1.600 thí sinh đạt từ điểm sàn trở lên. Điểm chuẩn NV1 của trường hầu như không có
ngành nào vượt lên trên điểm sàn của Bộ. Lấy điểm thấp nhưng trường vẫn đau đầu, không tuyển đủ chỉ
tiêu do tỷ lệ đỗ “ảo” lớn. “Chúng tôi gọi 100 em nhập học nhưng có khi chỉ được vài chục em tới, thậm chí
cá biệt có ngành không được em nào”.
Trường ĐH Tây Nguyên cũng trong cảnh tương tự. Hiệu trưởng Nguyễn Xuân Thao nói: “Tuyển sinh các
ngành này năm nào cũng khó khăn và gần như không năm nào đủ chỉ tiêu. Cụ thể, các ngành ít thí sinh
nhất là Bảo vệ thực vật, Chăn nuôi thú y. Một ngành tưởng như rất được ưa chuộng là Bảo quản chế
biến nông sản cũng ế ẩm không kém. Trường mở mỗi ngành một lớp với 80 sinh viên nhưng thường chỉ
có khoảng 20 – 30 em. Cá biệt có ngành Chăn nuôi thú y chỉ có 10 sinh viên theo học”.
Là một trong những trường hàng đầu về lĩnh vực này, nhưng trường ĐH Nông nghiệp I Hà Nội cũng
không khá khẩm hơn. Năm 2009, ngành Khoa học đất chỉ có hơn 10 thí sinh đăng ký, ngành Sư phạm kỹ
thuật tuyển 100 chỉ tiêu nhưng chỉ được 50 em, ngành Cơ khí tuyển 3 lớp nhưng chỉ được 1 lớp.
Đặc biệt, ngành Công thôn của trường này đã phải “khai tử” sau 4 năm liền không mở nổi lớp do quá ít
sinh viên. Ngành này đã mở hơn chục năm nhưng số lượng sinh viên teo tóp dần. Năm 2007 chỉ có ba thí
sinh nhập học. Năm 2008, duy nhất một em tới làm thủ tục. Năm 2009, trường quyết định đóng cửa
ngành. Theo ông Nguyễn Văn Dung, Trưởng phòng Đào tạo của trường thì trong số các ngành Nông –
Lâm – Ngư, chỉ có Kinh tế phát triển nông thôn, Công nghệ sinh học là dễ tuyển sinh nhất.
(Theo Sinh viên Việt Nam)
http://vietnamnet.vn/giaoduc/201004/Gan-98-nhan-luc-nganh-nong-nghiep-chua-qua-dao-tao-904546/
Cập nhật lúc 18:40, Thứ Năm, 15/04/2010 (GMT+7)

Nông dân Việt Nam) với các tổ chức đào tạo.
Nhiều địa phương đã hỗ trợ nông dân học nghề
Công tác dạy nghề cho nông dân đã trở thành vấn đề cấp bách từ lâu, nhiều địa phương đã ý thức được
điều nay và đã có sự hỗ trợ dạy nghề cho nông dân. Điển hình tại Đà Nẵng trong năm 2008 các trung tâm
dạy nghề của TP.Đà Nẵng đã đào tạo được 5.600 lao động nông thôn dưới 35 tuổi. Toàn bộ số lao động
này đều phải chuyển đổi nghề vì chịu ảnh hưởng do di dời, giải toả để chỉnh trang thành phố. Các nghề đào
tạo chính cho số lao động này là trồng hoa, trồng nấm, xây dựng, mộc, cơ khí Toàn bộ đều được đào tạo
miễn phí bằng ngân sách nhà nước.
Tại Hà Nội, trong 6 tháng đầu năm 2009, Sở Công thương Hà Nội cũng đã mở 61 lớp nghề cho 3.750 lao
động nông thôn. Ngoài ra, còn có chương trình tập huấn khởi sự doanh nghiệp, mô hình trình diễn kỹ thuật
sản xuất mới, hỗ trợ các cơ sở sản xuất nông nghiệp nông thôn đổi mới công nghệ, với tổng kinh phí gần 80
tỷ đồng, tạo điều kiện cho hàng nghìn lượt lao động tại các huyện ngoại thành tiếp cận nghề mới. Hội Nông
dân thành phố cũng đã phối hợp với các ngành chức năng mở hàng chục lớp dạy nghề và chuyển giao khoa
học kỹ thuật cho hơn 25.000 lượt hội viên nông dân.
……………………………………………
Những mô hình dạy nghề hiệu quả
Để góp phân tăng cường năng lực dạy nghề, nâng cao số lượng nông dân được tiếp cận với những ngành
nghề mới, nhiều địa phương đã có những mô hình hấp dẫn, những cách làm hiệu quả để thu hút nông dân.
Điển hình tại Thanh Hóa, địa phương này đã tăng cường liên kết dạy nghề cho nông dân theo địa chỉ. Trung
tâm dạy nghề - Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa cho biết, trong tháng 7/2009 đã liên kết các doanh nghiệp trên
địa bàn mở được 6 lớp dạy nghề miễn phí, gồm may mặc, mây tre đan xuất khẩu, gieo ươm giống cây lâm
nghiệp cho gần 200 lao động nông nghiệp. Đây là cách đào tạo nghề mới rất thiết thực, hiệu quả được
đông đảo người dân ủng hộ.
Tại tỉnh Điện Biên lại có một cách làm khác, đó là phong trào nông dân dạy nghề cho nông dân. Trên địa bàn
huyện Điện Biên (tỉnh Điện Biên), việc nông dân dạy nghề trồng ngô cho nông dân đã trở thành một phong
trào sâu rộng và thu được nhiều kết quả tích cực. Hoạt động này do Dự án ADDA của Trung ương Hội Nông
dân Việt Nam phối hợp với Đan Mạch tổ chức. Dự án đã tuyển chọn 12 nông dân ở huyện Điện Biên có khả
năng tiếp thu kiến thức để đào tạo, sau đó về địa phương tiến hành tổ chức các lớp học tập kinh nghiệm để
truyền đạt các nội dung đã học cho các nông hộ khác.
Từ các kiến thức được học, nông dân này truyền nghề cho nông dân kia đã trở thành phong trào sâu rộng ở

thôn, nông nghiệp có những đặc điểm riêng, với yêu cầu bức thiết trong giai đoạn
phát triển hiện nay, Đảng đã có Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn. Trong nghị quyết này, chủ trương về đào tạo nhân lực đã được cụ thể hoá
là: “Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông
nghiệp tiên tiến, hiện đại cho nông dân; đào tạo nghề cho bộ phận con em nông dân
để chuyển nghề, xuất khẩu lao động; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức
….tại cuộc họp ngày 10/2/(2009) tại Trụ sở Chính phủ để chuẩn bị cho Hội nghị Đào tạo nghề cho nông
dân.
Đồng chủ trì cuộc họp, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã chỉ ra những nguyên nhân chính gây nên
sự bất cập trong công tác đào tạo nghề đối với nông dân hiện nay. Đó là công tác thông tin tuyên truyền
về tận thôn, xóm, xã để bà con nông dân hiểu và tìm học các nghề cho bản thân còn rất hạn chế, vì vậy,
lao động ở nông thôn chưa tích cực tham gia học nghề.
Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề cho nông dân còn rất thiếu về số lượng, yếu về chất lượng
và cơ cấu ngành nghề đào tạo đang bị mất cân đối.
Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, nhiều địa phương hiện nay chưa quan tâm đúng
mức tới dạy nghề và dạy nghề cho lao động nông thôn, mạng lưới cơ sở cấp huyện còn mỏng (50% số
huyện chưa có trung tâm dạy nghề).
Chương trình đào tạo nghề chưa phù hợp với thực tiễn sản xuất kinh doanh ở các vùng miền và thiếu
tính linh hoạt. Các cơ chế cứng nhắc, kém hấp dẫn nên không thu hút được giáo viên có trình độ chuyên
môn kỹ thuật cao hoặc kinh nghiệm sản xuất về dạy cho nông dân.
Theo tin từ cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Bắc Ninh:http://www.bacninh.gov.vn/Story/TinTuc-
SuKien/TinHoatDong/2009/2/16495.html thời gian đăng: Thứ Tư, 11/02/2009 - 8:14 AM
14
cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ sở. Hình thành chương trình mục tiêu quốc gia về đào
tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo hàng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao
động nông thôn. Thực hiện tốt việc xã hội hoá công tác đào tạo nghề”.
Thực hiện chủ trương này, Chính phủ đã xây dựng ““Đào tạo nghề cho lao
động nông thôn đến năm 2020”. Đề án này đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
tại quyết định số 1956/QĐ-TTg, ngày 27 tháng 11 năm 2009. Theo Đề án này, công

bước vào độ tuổi lao động của cư dân nông thôn.
Đa dạng hoá hình thức đào tạo dạy nghề như chủ trương đã đề ra, nhất là có cơ
chế ưu đãi cho các tổ chức doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề theo yêu cầu của
15
chính doanh nghiệp, thực hiện doanh nghiệp phải đào tạo lấy lao động, và phải trả
phí cho cơ sở đào tạo công nếu tuyển lao động từ các cơ sở đào tạo nhà nước. Thực
hiện được điều này sẽ tiết kiệm được ngân sách nhà nước trong đào tạo và dạy nghề,
vì lượng tiền ngân sách bỏ ra hỗ trợ doanh nghiệp trong liên kết đào tạo nghề sẽ có
thể ít hơn nhiều so với việc nhà nước phải bỏ kinh phí trực tiếp cho đào tạo, hơn nữa
là doanh nghiệp chịu trách nhiệm với chất lượng lao động của mình đào tạo ra như
vậy làm chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao hơn.
Hướng ưu tiên vào các đối tượng theo học các ngành phục vụ nông thôn, nông
nghiệp như miễn giảm học phí, tăng mức học bổng cho học sinh sinh viên. Từ đây sẽ
giải quyết được tình hình khó khăn trong tuyển sinh đầu vào cho các ngành phục vụ
nông thôn nông nghiệp, đồng thời lựa chọn được nhân tài thực sự vì tạo được sự cạnh
tranh trong công tác tuyển sinh ở các trường cao đẳng và đại học, cũng như tạo điều
kiện cho con em nông thôn có cơ hội học tập nhiều hơn.
Thứ hai: Hướng chính sách vào việc đãi ngộ nhân tài phục vụ ở nông thôn,
nông nghiệp, nhằm thu hút người giỏi quản lý và lãnh đạo về với nông thôn, từ đó
phá bỏ tính cục bộ địa phương và kích thích sự vươn của nông thôn trong phát hiện
và đào tạo nhân tài.
Chế độ đãi ngộ được phân thành hai loại: thu nhập và cơ hội thăng tiến trong
nghề nghiệp. Với thu nhập là tăng lương, tăng các khoản phúc lợi được hưởng để tạo
thu nhập cao cho cán bộ quản lý ở nông thôn, xoá bỏ sự bất hợp lý trong việc hưởng
lương cao theo thâm niên công tác, tập trung ưu tiên theo chế độ trả lương theo hiệu
quả công việc và tính sáng tạo.
Với cơ hội thăng tiến, tập trung vào việc phá bỏ tính cục bộ địa phương ở nông
thôn, (đây là điểm cố hữu trong văn hoá nông thôn), thực hiện chính sách luân chuyển
cán bộ hợp lý, kiên quyết không để tình trạng địa phương không sử dụng người tài từ
nơi khác đến trong khi không có người đủ tầm lãnh đạo địa phương mình.

hơn, mang tính khả thi hơn.
Mặt khác lao động dịch chuyển từ nông thôn nông nghiệp sang đô thị, công
nghiệp dịch vụ chưa bền vững, một tỷ lệ lớn lao động qua thời gian lại phải quay về
với nông thôn, nông nghiệp. Quá trình này chỉ có thể không lặp lại khi nền kinh tế đã
bền vững, nông thôn - đô thị, nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ phát triển hài hoà.
Như vậy khu vực đô thị không phải là không có trách nhiệm với công tác đào tạo
nhân lực cho khu vực nông thôn, nông nghiệp. Tại các đô thị, bản thân các ngành
công nghiệp, dịch vụ cũng phải có các phương án đào tạo lao động cho nông thôn,
nông nghiệp. Một mặt khu vực ngoài nông thôn nông nghiệp có phương án đào tạo
cho khu vực nông thôn, nông nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc đào tạo và lựa chọn
nhân lực cho khu vực của mình, mặt khác sẽ góp phần cho việc cung cấp trở lại cho
nông thôn, nông nghiệp nguồn nhân lực có đủ năng lực hoà nhập lại nông thôn cũng
như đến nông thôn, nông nghiệp để khai thác phục vụ phát triển (cả chung và riêng).
Để nâng cao tính trách nhiệm này, nhà nước phải hướng chính sách đến việc bắt
buộc khu vực đô thị, công nghiệp, dịch vụ phải có trách nhiệm đào tạo nguồn nhân
lực cho nông thôn, nông nghiệp.
V. KẾT LUẬN
Đào tạo nguồn nhân lực cho nông thôn, nông nhiệp là công việc lớn quan trọng
không thể xem nhẹ trong chiến lược phát triển đất nước nói chung, cho phát triển
nông thôn nói riêng. Tình hình nguồn nhân lực ở nông thôn, nông nghiệp hiện nay
đang tạo ra sức ép cho công tác đào tạo và định hướng chính sách rất lớn. Giải quyết
vấn đề việc làm ở nông thôn và việc làm cho lao động nông thôn, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực khu vực này là điều kiện cần để đưa đất nước phát triển; gánh nặng đó
đặt một phần lớn trong công tác đào tạo, trong tình hình công tác này còn nhiều bất
cập và yếu kém. Đảng và nhà nước đã đề ra các chủ trương và chính sách mang tính
17
định hướng chiến lược, song để đẩy mạnh hơn nữa, đạt kết quả cao hơn nữa đòi hỏi
phải có sự hoàn thiện không ngừng các chính sách về cả nội dung lẫn sự phối hợp.
Chính sách cho cho công tác đào tạo này phải kết hợp cân đối giữa đào tạo kiến thức
tay nghề đi đôi với trang bị cho lao động kiến thức xã hội - pháp luật, trong đó đào tạo

Nam, tháng 12-2008 http://nhantainhanluc.com/vn/644/1790/contents.aspx ngày
đăng 11/15/2008 12:57:40 AM
10. PGS.TS. Quyền Đình Hà, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội: “Bài giảng
Phát triển nông thôn”; Hà Nội, 2007.
11. Trần Nhật “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Đường xa gập nghềnh”.
http://www.gdtd.vn/channel/2741/2009/06/1709989/
12. Sơn Tùng (theo Hanoimoi.com.vn)
http://bmktcn.com/index.php?
option=com_content&task=view&id=2668&Itemid=224, cập nhật ngày 14/07/2009
13. http://vietnamnet.vn/giaoduc/201004/Gan-98-nhan-luc-nganh-nong-nghiep-
chua-qua-dao-tao-904546/ Cập nhật lúc 18:40, Thứ Năm, 15/04/2010 (GMT+7
19
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status