1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (NÂNG CAO)
Chuyên đề: “Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn Việt Nam -
thực trạng, chủ trương chính sách và khuyến nghị giải pháp”
GV Hướng dẫn: PGS.TS. Quyền Đình Hà
HV Thực hiện: Nguyễn Mạnh Thìn
Nhóm: 4, Lớp: Kinh tế nông nghiệp 18A
HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2010
I. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề.
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nông nghiệp,
nông thôn cũng đang trong tiến trình này. Các nguồn lực đều được ưu tiên cho công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó có nguồn nhân lực giữ vị trí
then chốt, quyết định cho sự thành bại của công cuộc đổi mới này.
Cả 3 lĩnh vực kinh tế: Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ chúng ta đều không
xem nhẹ cái nào. Tất cả đều phải phát triển, tất cả đều có yêu cầu nguồn nhân lực tốt.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn hiện nay nguồn nhân lực vừa thừa lại vừa
thiếu. Thừa là thừa lao động chân tay, lao động giản đơn; Thiếu là thiếu lao động tay
nghề cao, thiếu người quản lý, tổ chức giỏi. Cả hai điều đó đều tác động xấu và cản
trở sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn.
Để nông nghiệp, nông thôn phát triển tốt, tương xứng với kỳ vọng phát triển đất
nước, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, nghĩa là
khi đó nông nghiệp, nông thôn đạt mức độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cơ bản, lực
lượng lao động trong nông nghiệp và ở nông thôn lúc này phải đảm bảo là động lực
duy trì và phát triển.
Như vậy nông nghiệp, nông thôn nước ta phải có nguồn nhân lực tốt, điều đó
không tự nhiên có được mà phải thực hiện đào tạo. Công tác này đã và đang ở đâu?
Để trả lời một phần câu hỏi lớn này chúng ta cần nghiên cứu đề tài “Đào tạo nguồn
nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn Việt Nam - thực trạng, chủ trương chính sách
- Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích
luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer & Dornhusch,
1995). Nguồn nhân lực, theo GS. Phạm Minh Hạc (2001), là tổng thể các tiềm năng
lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động
nào đó.
- Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là
kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng
để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.
- Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong công tác kế
hoạch hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người
trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt
Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi).
Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay
nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ. Trong đó lực
lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi
lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp). Lao động dự trữ
bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không
có nhu cầu lao động.
2.1.2. Nguồn nhân lực cho nông nghiệp và nông thôn.
Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu là:
- Nguồn nhân lực cho nông nghiệp hay nguồn lực con người cho nông nghiệp
bao gồm lực lượng lao động trong nông nghiệp và lao động dự trữ cho nông nghiệp.
3
- Nguồn nhân lực cho nông thôn hay nguồn lực con người cho nông thôn bao
gồm lực lượng lao động hiện có đang phục vụ cho nông thôn và lao động dự trữ sẽ
phục vụ cho nông thôn cũng như sẽ có ở nông thôn. Nguồn nhân lực này bao gồm cả
số lượng lao động sẽ từ nông thôn chuyển cho khu vực đô thị và của khu vực đô thị
cung cấp cho nông thôn.
2.1.3. Đào tạo nguồn nhân lực, chủ trương chủ yếu cho đào tạo nguồn nhân lực cho
nông nghiệp, nông thôn.
triển nông nghiệp, nông thôn.
4
III. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
CHO NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM.
3.1. Tình hình lao động nông nghiệp, nông thôn hiện nay.
Trong những năm gần đây, dù dã có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực
song phần lớn lao động của nước ta vẫn ở nông thôn, hoạt động trong sản xuất nông
nghiệp chiếm tỷ lệ áp đảo (xem bảng 1 và 2).
Bảng 1. Lao động đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm phân ngành kinh tế (2004-2008)
Nghìn người
2004 2005 2006 2007
Sơ bộ
2008
TỔNG SỐ
41586,3 42526,9 43338,9 44173,8 44915,8
Nông nghiệp và lâm nghiệp
23026,1 22800,0 22439,3 22177,4 21950,4
Thuỷ sản
1404,6 1482,4 1555,5 1634,5 1684,3
Công nghiệp khai thác mỏ
324,4 341,2 370,0 397,5 431,2
Công nghiệp chế biến
4832,0 5248,5 5655,8 5963,4 6306,2
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt
137,2 151,4 173,4 197,0 224,6
Xây dựng
1922,9 1998,9 2136,5 2267,8 2394,0
TN; sửa chữa xe có động cơ, mô tô,
xe máy và đồ dùng cá nhân và gia đình
4767,0 4933,1 5114,0 5291,9 5371,9
Nông nghiệp và lâm nghiệp 55,37 53,61 51,78 50,20 48,87
Thuỷ sản 3,38 3,49 3,59 3,70 3,75
Công nghiệp khai thác mỏ 0,78 0,80 0,85 0,90 0,96
Công nghiệp chế biến 11,62 12,34 13,05 13,50 14,04
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt 0,33 0,36 0,40 0,44 0,50
Xây dựng 4,62 4,70 4,93 5,13 5,33
TN; sửa chữa xe có động cơ, mô tô,
xe máy và đồ dùng cá nhân và gia đình 11,46 11,60 11,80 11,98 11,96
Khách sạn và nhà hàng 1,82 1,80 1,81 1,84 1,85
Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc 2,89 2,84 2,80 2,76 2,72
Tài chính, tín dụng 0,30 0,37 0,42 0,48 0,49
Hoạt động khoa học và công nghệ 0,06 0,06 0,06 0,06 0,06
Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản
và dịch vụ tư vấn 0,31 0,36 0,41 0,49 0,56
QLNN; bảo đảm XH bắt buộc 1,29 1,52 1,65 1,80 1,93
Giáo dục và đào tạo 2,85 2,90 3,00 3,07 3,12
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 0,83 0,85 0,86 0,87 0,89
Hoạt động văn hoá và thể thao 0,31 0,31 0,31 0,31 0,30
Các hoạt động Đảng, đoàn thể và hiệp hội 0,30 0,35 0,40 0,44 0,49
Hoạt động phục vụ cá nhân, công cộng và dịch
vụ làm thuê 1,48 1,74 1,88 2,03 2,18
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Qua 2 bảng số liệu cho ta thấy tổng số lao động hoạt động trong các ngành kinh
tế thuộc lĩnh vực nông nghiệp (tạm tính, gồm nông lâm nghiệp và thuỷ sản) đến 2008
là 23,647 triệu người, chiếm 52,62% trên tổng số lao động của cả nước. Về cơ cấu lao
động như vậy là quá lạc hậu so với các nước phát triển (dưới 10%).
Theo Tổ chức Lương nông LHQ (FAO), năm 2005 tỷ lệ lao động nông nghiệp
ở nước ta còn quá cao (67%), trong khi đó ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á,
tỷ lệ này thấp hơn nhiều: Thái Lan (56%), Indonesia (48%), Philippines (39%) và
Malaysia (18%); Theo số liệu tại bảng 1, tỷ lệ này có sai lệch (khoảng 57,1%) nhưng
CẢ NƯỚC 2,38 4,65 1,53 5,10 2,34 6,10
Đồng bằng sông Hồng 2,29 5,35 1,29 6,85 2,13 8,23
Trung du và miền núi phía Bắc 1,13 4,17 0,61 2,55 2,47 2,56
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 2,24 4,77 1,53 5,71 3,38 6,34
Tây Nguyên 1,42 2,51 1,00 5,12 3,72 5,65
Đông Nam Bộ 3,74 4,89 2,05 2,13 1,03 3,69
Đồng bằng sông Cửu Long 2,71 4,12 2,35 6,39 3,59 7,11
(*)
Số liệu sơ bộ. Nguồn: Tổng cục thống kê.
Đặc biệt là trình độ tay nghề của lao động nông nghiệp quá thấp. Sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học và công nghệ tác động mạnh đến nông nghiệp, nông dân, nông
thôn. Khoa học, công nghệ trực tiếp giúp nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hạ
giá thành sản phẩm, thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp... Nhưng do lao động nông
thôn Việt Nam qua đào tạo nghề còn ít nên sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào
kinh nghiệm, đa số chưa đủ khả năng tiếp thu và ứng dụng khoa học, công nghệ vào
sản xuất. Số lao động ở khu vực nông thôn qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp, chỉ 17,65%
trong năm 2006, và tăng lên 18,68% vào năm 2007. (Song theo Bộ trưởng Bộ
NN&PTNT, Cao Đức Phát, năm 2009 tỷ lệ lao động ở nông thôn đã được qua đào tạo
chỉ đạt 16%, trong tổng số 25 triệu nông dân).
7
3.2. Xu thế vận động của lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn
Với tốc độ phát triển đô thị nhanh trong những năm qua, các khu đô thị luôn
được mở rộng, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế và dịch vụ tại đô thị đã
tạo sức hút lớn đối với lao động từ nông thôn. Quá trình này diễn ra cũng đồng nghĩa
với việc lao động đang dịch chuyển rất mạnh mẽ từ lao động nông nghiệp sang lao
động công nghiệp và dịch vụ.
Theo số liệu từ năm 2007, Việt Nam có 34,8 triệu lao động ở khu vực nông
thôn (chiếm 74,5%). Tuy nhiên, tỷ lệ này đang biến đổi theo hướng tích cực, tăng tỷ
lệ lao động làm việc trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ, đồng
Sơn Tùng (theo Hanoimoi.com.vn)
cập
nhật ngày 14/07/2009
8