LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu
sản xuất sợi tại Công ty Dệt Hà Nam”
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
1
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế nước ta đang ngày càng đổi mới và phát triển, đòi hỏi các nhà
doanh nghiệp phải chú trọng, quan tâm đến tình hình sản xuất kinh doanh của mình
một cách sâu sắc nhất là trong quá trình tạo ra sản phẩm. Một quá trình sản xuất được
tiến hành liên tục khi nó đảm bảo nguyên vật liệu (NVL) một cách đều đặn, đầy đủ về số
lượng, đúng quy cách phẩm chất và đạt tỷ lệ đúng với yêu cầu. Ngược lại nếu không cung
ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ thì toàn bộ quá trình sản xuất sẽ bị ngưng trệ gây ảnh hưởng
lớn đến việc tạo ra sản phẩm nói riêng và toàn doanh nghiệp nói chung.
Tổ chức tốt việc đảm bảo NVL sẽ góp phần sử dụng tiết kiệm NVL trong sản
xuất, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và làm tăng lợi nhuận. Để
thực hiện tốt việc sử dụng và tiết kiệm NVL, doanh nghiệp phải có một khâu hạch
toán, tổ chức NVL một cách khoa học và hợp lý. Đó là một trong những công cụ quan
trọng để quản lý tình hình tăng - giảm và bảo quản dự trữ NVL, nhằm tránh tình trạng
ứ đọng hoặc khan hiếm hay sử dụng thất thoát gây ảnh hưởng đến giá thành, tình hình
tài chính và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam từ hơn thập kỷ
qua kéo theo sự thay đổi sâu sắc trong các doanh nghiệp nhất là trong phương thức
quản lý. Đất nước đang trên đà phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần
kinh tế tự do cạnh tranh đã đặt ra cho doanh nghiệp những khó khăn, thử thách mới và
phải chấp nhận quy luật đào thải từ phía thị trường. Thế thì doanh nghiệp phải làm gì
để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Đó là câu
hỏi chung đặt ra cho mỗi doanh nghiệp.
trong doanh nghiệp.
Tìm hiểu và nghiên cứu những đặc điểm của doanh nghiệp có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu.
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
3
Phân tích đánh giá thực trạng và xu hướng hạch toán, kế toán NVL sản
xuất sợi của Công ty dệt Hà Nam .
Tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng
đến thực trạng đó và đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế
toán NVL sản xuất sợi tại Công ty dệt Hà Nam.
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu sản xuất sợi tại
Công ty dệt Hà Nam” thông qua các số liệu được thể hiện trên các phiếu nhập kho,
phiếu xuất kho, các thẻ kho và các thông tin liên quan khác.
4. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
4.1 Về nội dung
Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu sản xuất sợi là quá trình sử dụng
các kỹ thuật phân tích thích hợp để xử lý số liệu từ các phiếu nhập kho, xuất kho, các
thẻ kho…và các số liệu ở các tài liệu khác, hình thành các hệ thống, các chỉ tiêu kinh
tế nhằm đánh giá thực trạng NVL trong công ty. Do vậy hoàn thiện công tác kế toán
NVL trước hết là việc chuyển dữ liệu trên các phiếu nhập kho, xuất kho thành những
thông tin hữu ích cho đề tài nghiên cứu. Mục tiêu cơ bản cuối cùng của việc hoàn thiện
công tác kế toán NVL là đưa ra các phương pháp, biện pháp hạch toán phù hợp với
doanh nghiệp. Vì thế khi tiến hành nghiên cứu đề tài hoàn thiện công tác kế toán NVL
tại Công ty dệt Hà Nam tôi tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Xem xét một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty
dệt Hà Nam trong các năm gần đây nhất (2006, 2007, 2008)
Kế toán chi tiết NVL
Kế toán tổng hợp NVL
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận về hạch toán nguyên liệu, vật liệu trong các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty dệt Hà Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên
vật liệu sản xuất sợi tại Công ty Dệt Hà Nam.
Phần III: Kết luận và kiến nghị
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
5
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN NGUYÊN LIỆU,
VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ HÀNG TỒN KHO NGUYÊN VẬT LIỆU
Nếu ta gọi vốn bằng tiền là một yếu tố tài sản lưu động thiết yếu nhất, thì hàng
tồn kho là một yếu tố tài sản quan trọng nhất, thường chiếm một giá trị lớn trong toàn
bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Theo phân loại trong hệ thống kế toán mới, hàng tồn kho ngoài các thành phần
tài sản như: Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hóa, sản phẩm còn có giá trị sản
phẩm dở dang (sản phẩm đang chế tạo) và các công trình lao vụ, dịch vụ chưa hoàn
thành (trong các đơn vị hoạt động các ngành nghề kinh doanh dịch vụ)
Yêu cầu quản lý vốn lưu động là sử dụng một số vốn vừa phải, đủ để đảm bảo
sản xuất kinh doanh liên tục, đảm bảo từ khâu dự trữ đến khâu sản xuất và lưu thông
phân phối nhịp nhàng, tăng nhanh được vòng quay của vốn trên phương châm vốn ít
mà tạo hiệu quả kinh tế cao.
Trong việc sử dụng vốn lưu động từ hao phí NVL có một ý nghĩa đặc biệt quan
trọng vì nó thường chiếm một tỷ trọng rất lớn, vì vậy việc tiết kiệm để giảm tiêu hao
NVL cho sản phẩm, cải tiến định mức tiêu hao và định mức dự trữ NVL là một yêu
cầu cần thiết và tất yếu cho tất cả các doanh nghiệp.
1.2 NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp
Khâu vận chuyển và bảo quản: Cần tổ chức tốt hệ thống kho tàng, bao bì…và
có phương tiện vận chuyển phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng loại vật tư nhằm
hạn chế tới mức thấp nhất sự hao hụt, mất mát xảy ra trong quá trình vận chuyển và
bảo quản.
Khâu sử dụng: Cần quản lý tốt việc sử dụng NVL, sao cho đúng mục đích,
đúng với đặc điểm quá trình sản xuất, đúng với định mức tiêu hao vật tư đã đặt ra,
tránh tình trạng việc sử dụng lãng phí, không đúng mục đích sản xuất.
1.2.3 Nhiệm vụ của kế toán
Để đáp ứng được yêu cầu quản lý nói chung và yêu cầu quản lý vật liệu nói
riêng, kế toán vật liệu trong các doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
Thực hiện phân loại, đánh giá vật tư phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn
mực kế toán đã quy định và phù hợp với yêu cầu quản trị doanh nghiệp, tạo điều kiện
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
7
cho bộ phận kế toán có thể theo dõi được việc dự trữ, bảo quản vật tư, phát hiện và
ngăn ngừa tình trạng thiếu hụt, mất mát hoặc những thứ vật tư kém phẩm chất đồng
thời đưa ra biện pháp xử lý kịp thời trong trường hợp thiếu hoặc thừa vật tư. Xác định
đúng số vật tư đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó phân bổ hợp lý
giá trị NVL, đã tiêu hao cho các đối tượng sử dụng.
Thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán ban đầu về vật liệu, từ khâu lập
chứng từ, luân chuyển chứng từ, mở sổ kế toán chi tiết. Tổ chức chứng từ, tài khoản
chứng từ, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho áp dụng trong
doanh nghiệp để ghi chép, phân loại, tổng hợp số liệu đầy đủ, kịp thời số hiện có và
tình hình biến động tăng giảm của vật liệu, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh, xác định đúng đắn trị giá vốn thực tế, đồng thời đảm bảo được sự thống nhất
trong công tác kế toán, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo.
Định kỳ cần tiến hành kiểm kê và đánh giá vật liệu, theo chế độ quy
định. Lập báo cáo tổng hợp tình hình hiện có về vật tư phục vụ cho công tác lập kế
hoạch thu mua, dự trữ vật tư sao cho có hiệu quả nhất. Cần thiết việc thực hiện các
1.3. PHÂN LOẠI VÀ TÍNH GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU
1.3.1 Phân loại nguyên vật liệu
Vật liệu trong các doanh nghiệp bao gồm nhiều thứ, nhiều loại khác nhau, có
giá trị, công dụng, nguồn hình thành…khác nhau. Do vậy cần thiết phải tiến hành phân
loại vật liệu nhằm tạo điều kiện cho việc hạch toán và quản lý vật liệu. Căn cứ vào vai
trò và tác dụng của vật liệu trong sản xuất, vật liệu được chia làm các loại sau:
Nguyên vật liệu chính: Là những thứ NVL mà quá trình gia công, chế biến sẽ
cấu thành nên thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm.
Vật liệu phụ: Là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất, được sử
dụng kết hợp với vật liệu chính để làm thay đổi màu sắc, hình dáng, mùi vị hoặc dùng
để bảo quản, phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động (dầu nhờn, hồ, keo, thuốc
nhuộm, thuốc tẩy…)
Nhiên liệu: Là những thứ vật liệu được dùng để cung cấp nhiệt lượng trong quá
trình sản xuất kinh doanh như than, củi, xăng dầu, hơi đốt…
Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa và thay thế cho
máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải…
Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần lắp,
không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ…)
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
9
Phế liệu: Là các loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất hay thanh lý tài
sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài (phôi bào, vải vụn, gạch, sắt,…)
Vật liệu khác: Bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài các thứ chưa kể trên như
bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng…
1.3.2 Tính giá nguyên vật liệu
Tính giá NVL về thực chất là việc xác định trị giá ghi sổ của vật liệu. Theo quy
định giá thực tế (giá gốc) tức là vật liệu khi nhập kho hay xuất kho đều được phản ánh
trên sổ sách theo giá thực tế.
Đối với vật liệu nhập kho thì giá gốc ghi sổ của vật liệu nhập kho
kho trong kỳ được tính theo công thức:
Giá thực tế từng loại xuất kho = Số lượng từng loại xuất kho X Giá trị bình quân
Trong đó giá trị bình quân có thể tính một trong ba cách sau:
Cách 1
Giá trị bình quân cả kỳ dự trữ =
Giá trị thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Lượng thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Cách này tuy đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không cao. Hơn nữa, công
việc tính toán dồn vào cuối tháng, gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung.
Cách 2
Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước =
Giá thực tế từng loại tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Lượng thực tế từng loại tồn kho đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Cách này mặc dù khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động của
từng loại vật liệu trong kỳ, tuy nhiên không chính xác vì không tính đến sự biến động
của giá cả vật liệu cũng như giá thành sản phẩm kỳ này.
Cách 3
Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập =
Giá thực tế từng loại tồn kho sau mỗi lần nhập
Lượng thực tế từng loại tồn kho sau mỗi lần nhập
Cách tính theo giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập lại khắp phục được nhược
điểm của cả hai phương pháp trên, vừa chính xác, vừa cập nhật. Nhược điểm của
phương pháp này là tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần.
Phương pháp nhập trước, xuất trước (FiFo)
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số vật liệu nào nhập trước thì xuất trước,
xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số hàng xuất. Nói
cách khác, cơ sở của phương pháp này là giá thực tế của vật liệu xuất trước và do vậy
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
11
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
12
Và các chứng từ khác phù hợp với tình hình và lĩnh vực hoạt động sản xuất
kinh doanh cũng như thành phần kinh tế mà doanh nghiệp đang hoạt động.
1.4.2 Các phương pháp hạch toán chi tiết
1.4.2.1 Phương pháp thẻ song song
Theo phương pháp thẻ song song , kế toán chi tiết vật liệu tại các doanh nghiệp
được tiến hành như sau:
- Ở kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập xuất, tồn vật liệu,
về mặt số lượng.
- Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng thẻ kế toán chi tiết vật liệu để phản ánh tình
hình hiện có, biến động tăng, giảm theo từng danh điểm vật liệu tương ứng với thẻ kho
mở ở kho.
Để thực hiện đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, kế toán phải
căn cứ vào các thẻ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp nhập, xuất tồn kho về mặt giá
trị của từng loại vật liệu.
Phương pháp thẻ song song mặc dầu đơn giản, dễ làm nhưng việc ghi chép còn
nhiều trùng lặp. Vì thế, chỉ thích hợp với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, số lượng
nghiệp vụ ít, tình hình nhân viên kế toán chưa cao.
Ghi hàng ngày Quan hệ đối chiếu Ghi cuối tháng
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kế toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song
1.4.2.2 Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển, công việc cụ thể tại phòng kho
giống như phương pháp thẻ song song ở trên. Tại phòng kế toán, kế toán sử dụng sổ
đối chiếu luân chuyển để hạch toán số lượng và số tiền của từng thứ (danh điểm) vật
liệu theo từng kho. Phương pháp này mặc dầu đã có cải tiến nhưng việc ghi chép vẫn
còn trùng lặp.
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
từng nhóm vật liệu (nhập riêng, xuất riêng) vào bảng lũy kế nhập, xuất, tồn kho.
Tiếp đó, cộng số tiền nhập, xuất trong tháng và dựa vào sổ số dư đầu tháng sủa
từng nhóm vật liệu. Số dư này được dùng để đối chiếu với cột “số tiền” trên sổ số dư. Ghi hàng ngày Ghi định kỳ
Quan hệ đối chiếu Ghi cuối tháng
Sơ đồ 1. 3 : Sơ đồ kế toán chi tiết theo phương pháp sổ số dư
(Nguồn: PGS.TS. Nguyễn Văn Công, 2006)
1.5 HẠCH TOÁN TỔNG HỢP NGUYÊN VẬT LIỆU
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
14
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Bảng kê xuất
Kế toán tổng
hợp
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ số dư
Kế toán
tổng hợp
Phiếu giao nhận chứng từ nhâp
Bảng lũy kế nhập
,xuất, tồn vật tư
Phiếu giao nhận chứng từ xuất
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
15
Ngoài tài khoản trên, kế toán tổng hợp tăng, giảm vật tư hàng hóa còn sử dụng
nhiều tài khoản liên quan khác: TK 111, TK 112, TK 141, TK 128, TK 133, TK 621,….
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
- Trị giá thực tế NVL nhập kho do mua
ngoài, tự chế, thuê ngoài gia công, nhận
vốn liên doanh, được cấp từ các nguồn khác
- Trị giá NVL thừa phát hiện khi kiểm kê.
- Kết chuyển trị giá thực tế của NVL,
tồn kho cuối kì (trường hợp doanh nghiệp
hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp
kiểm kê định kì)
- Số dư bên Nợ: Trị giá thực tế của
nguyên liệu, vật liệu tồn kho
-Trị giá thực tế NVL xuất kho để sản
xuất, để bán, thuê ngoài gia công, chế
biến hoặc góp vốn liên doanh
- Chiết khấu hàng mua được hưởng
- Trị giá nguyên liệu, vật liệu trả lại người
bán hoặc được giảm giá
- Trị giá NVL thiếu phát hiện khi kiểm kê
- Kết chuyển trị giá thực tế của vật liêu
tồn kho đầu kì (trường hợp doanh nghiệp
hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp
kiểm kê định kì)
16
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
1.5.1.2 Nội dung phương pháp
khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng mua,
giảm giá hàng mua,hàng hàng mua trả lại
mua trả lại
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ kế toán tổng hợp tăng, giảm nguyên vật liệu
(Theo phương pháp kê khai thường xuyên)
(Nguồn: PGS.TS. Nguyễn Văn Công, 2006)
(*) Khoản chênh lệch về giá gốc vật liệu góp vốn với giá trị đầu tư được ghi nhận
được xử lý theo quy định hiện hành tùy thuộc vào lĩnh vực đầu tư (đã trình bày ở trên).
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
17
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
1.5.2 Hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ
1.5.2.1 Khái niệm, tài khoản sử dụng
1.5.2.1.1 Khái niệm
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi một cách thường
xuyên, liên tục về tình hình biến động của các loại vật tư, sản phẩm trên các tài khoản
phản ánh từng loại hàng tồn kho mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của
chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định lượng tồn kho thực tế. Từ đó xác định lượng
xuất dùng cho sản xuất kinh doanh và các mục đích khác trong kỳ theo công thức:
Giá trị vật liệu Giá trị còn lại Tổng giá trị Giá trị vật liệu
xuất trong kỳ = chưa sử dụng + vật liệu tăng - còn lại, chưa sử
trong kỳ thêm trong kỳ dụng cuối kỳ
Độ chính xác của phương pháp này không cao mặc dầu tiết kiệm được công sức
ghi chép và nó chỉ thích hợp với các đơn vị kinh doanh những chủng loại vật tư, sản
phẩm khác nhau, giá trị thấp, thường xuyên xuất dùng, bán ra.
1.5.2.1.2.Tài khoản sử dụng
Kế toán tổng hợp tình hình nhập, xuất vật tư theo phương pháp kiểm kê định
kỳ vẫn sử dụng TK 152, tài khoản này không phản ánh tình hình nhập- xuất vật liệu
trong kỳ mà chỉ dùng để kết chuyển trị giá vốn thực tế NVL tồn kho cuối kỳ, tồn kho
TK 151 TK 151
Giá trị vật liệu đi đường Giá trị vật liệu đi đường
đầu kỳ, chưa sử dụng cuối kỳ, chưa sử dụng
TK 152 TK 152
Giá trị vật liệu tồn kho Giá trị vật liệu tồn kho
đầu kỳ, chưa sử dụng cuối kỳ, chưa sử dụng
TK 411 TK 621
Nhận vốn góp liên doanh Xuất dùng trực tiếp
cấp phát, vốn cổ phần để chế tạo sản phẩm
TK 412 TK 627,641,642
Đánh giá tăng vật liệu Xuất dùng phục vụ cho sản xuất,
bán hàng, quản lý, xây dựng cơ bản
TK 111,112,331 TK 111,112,331,1388…
Giá trị vật liệu
mua vào trong kỳ Giảm giá hàng mua, chiết khấu
(chưa có thuế GTGT ) thương mại được hưởng và
giá trị hàng mua trả lại
TK 1331
Thuế GTGT đầu Thuế GTGT đầu vào tương ứng
vào được khấu trừ với số chiết khấu thương mại, giảm giá
hàng mua,hàng mua trả lại…
TK 515
Tổng số chiết khấu thanh toán khi mua hàng được
hưởng (tính trên tổng số tiền đã thanh toán)
Năm 2004 và năm 2005 công ty tiếp tục đầu tư thêm dây chuyền kéo sợi DECO
chất lượng cao của CHLB Đức công suất 1000 tấn sợi/năm với số vốn đầu tư 50,58 tỷ
đồng và dây chuyền kéo sợi POLYTER 100% công suất 1.400 tấn sợi/ năm, vốn đầu
tư 80 tỷ đồng.
Cuối năm 2006 Công Ty Dệt Hà Nam thành lập dây chuyền 2 tại khu công
nghiệp Châu Sơn- Phủ Lý- Hà Nam với diện tích trên 10ha, mua một dây chuyền kéo
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
20
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
sợi tại Mỹ với quy mô kéo 10 ngàn cọc sợi với số vốn đầu tư 200 tỷ đồng. Là một
công ty làm ăn có lãi, tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 1997 là 539
tỷ đồng/ năm. Đến năm 2008 đạt 671 tỷ đồng, trong đó khoảng 400 tỷ đồng là giá trị
xuất khẩu, điều này mở ra một tương lai, một định hướng mới cho ngành dệt Hà Nam.
Hiện nay công ty vẫn không ngừng trang bị các thiết bị hiện đại cho ngành sợi
với mục đích nâng cao uy tín, chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu sản phẩm
của mình trên thị trường trong nước và quốc tế, phấn đấu thực hiện tốt chính sách của
Đảng và nhà nước, tạo công ăn, việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người
lao động.
* Kết quả hoạt động kinh doanh một số chỉ tiêu các năm gần đây của công ty:
Biểu 2.1: Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
ĐVT: Triệu đồng
Năm 2006 2007 2008
2007/2006 2008/2007
+/- % +/- %
1 Doanh thu bán hàng 421.260 539.525 670.633 118.265 28 131.108 24
2 Lợi nhuận trước thuế
từ hoạt động SXKD
1.116 1.335 632 219 20 -703 -53
3 Các khoản nộp ngân sách 109 374 754 265 243 380 101
thụ hết. Để khắp phục được tình trạng này thì công ty cần phải tìm cho mình một
hướng đi mới để phát triển sản xuất kinh doang bằng cách phải vạch ra phương hướng
sản xuất mới nâng cao chất lượng sản phẩm và phải đưa ra chính sách bán hàng cho
phù hợp với tình hình thực tế.
Các khoản phải nộp ngân sách nhà nước: Năm 2007 tăng so với 2006 là 265
triệu tương ứng tăng 243%; năm 2008 tăng so với 2007 là 380 triệu tương ứng tăng
101%, dẫn đến các khoản phải trả của công ty tăng.
Thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng đều qua các năm là 0,3 triệu/năm
tương ứng tăng 30%. Đây là dấu hiệu tốt cho công ty, bởi họ đã biết khuyến khích
động viên người lao động làm việc tích cực hơn, tốt hơn. Từ đó sản phẩm sản xuất ra
có chất lượng hơn thu hút được nhiều khách hàng hơn.
Nguồn vốn kinh doanh của công ty cũng tăng qua các năm nhưng là sự gia tăng
không đồng đều cụ thể: Vốn lưu động năm 2007 tăng so với năm 2006 là 125.590 triệu
đồng tương ứng tăng 61%; năm 2008 tăng so với năm 2007 là 151.874 triệu đồng
tương ứng tăng 46%. Tuy nhiên vốn cố định của công ty năm 2007 lại giảm so với
năm 2006 là 2.106 triệu đồng tương ứng giảm 0,64%, nhưng tới năm 2008 lại tăng lên
so với năm 2007 là 284.789 triệu đồng tương ứng tăng 88%. Sự gia tăng này chứng tỏ
công ty đã luôn phát hiện ra những điểm yếu của mình và đã nhanh chóng khắp phục
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
22
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
bằng cách đầu tư thêm nguồn vốn cố định như nhà cửa, máy móc, thiết bị…phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh được nhịp nhàng và có hiệu quả.
Biểu 2.2: Chỉ tiêu về lao động
ĐVT: Người
Năm 2006 2007 2008
SL % SL % SL %
Tổng số lao động 995 100 1053 100 968 100
Phân theo giới tính
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
- Phân theo trình độ lao động của công ty:
+ Năm 2006 số lao động có trình độ 354 chiếm 35,6% còn lại là lao động phổ
thông. Trong đó người có trình độ đại học chiếm 15,5%, sau đại học chỉ có 01 người
chiếm 0,3%, trung cấp chiếm 84,2%
+ Năm 2007 số lao động có trình độ 416 người chiếm 39,5% còn lại là lao động
phổ thông. Trong đó người có trình độ đại học chiếm 16,3%, sau đại học chỉ có 01
người chiếm 0,3%, trung cấp chiếm 83,4%.
+ Năm 2008 số lao động có trình độ 434 người chiếm 44,83% còn lại là lao
động phổ thông. Trong đó người có trình độ đại học chiếm 17,3%, sau đại học chỉ có
01 người chiếm 0,2%, trung cấp chiếm 82,5%.
Như vậy qua các chỉ tiêu trên ta có thể thấy trình độ học vấn của cán bộ trong
Công ty chủ yếu vẫn là trình độ Trung Cấp chiếm tỷ lệ khá cao, trình độ Đại học có
tăng qua các năm nhưng vẫn không đáng kể, sau đại học không thay đổi. Từ đó cho ta
thấy công ty cần có biện pháp để nâng cao trình độ học vấn của Công ty bằng cách
tuyển dụng thêm những người có trình độ cao hơn thay thế những người có trình độ
thấp hoặc cho các cán bộ đi học thêm các lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ
nghiệp vụ để họ về phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sản xuất
cho công ty. Bởi trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay thì mỗi doanh nghiệp nói
chung và Công ty Dệt Hà Nam nói riêng cần phải có 1 đội ngũ cán bộ có trình độ hiểu
biết rộng rãi để biết cách đưa ra những tình huống và mục tiêu kinh doanh có lợi nhất
đối với tình hình thực tế, từ đó mới có thể nâng cao được thị phần và đứng vững được
trên thị trường. Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
24
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học
Biểu 2.3: Chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu
ĐVT: USD
Nguyễn Thị Kim Oanh - K39B Kế Toán
25