BÁO CÁO THỰC TẬP
Hoàn thiện công tác kế toán
nguyên vật liệu tại Công ty
Thăng Long (TALIMEX)
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thu Hiền
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Giang
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, chúng ta đang được chứng kiến sự chuyển
mình phát triển đi lên của nền kinh tế thế giới, và thực tế đã cho thấy một xu
thế khách quan đang diễn ra mang tính chất toàn cầu mà không một quốc gia,
không một tập đoàn, không một công ty nào lại không tính đến chiến lược
kinh doanh của mình. Đó là xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, một xu
thế
đem lại sức mạnh về tài chính; tận dụng công nghệ nhằm làm giảm chi
quản lý vật tư chặt chẽ, không có sự thất thoát lãng phí nhằm giảm giá thành
sản phẩm và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Công ty Thăng Long (TALIMEX) là một doanh nghiệp chuyên sản
xuất sản phẩm quần áo phục vụ nhu cầ
u của người tiêu dùng và để xuất khẩu
ra thị trường nước ngoài, cho nên từ khâu chọn vật liệu cho tới tuyển tay nghề
của công nhân viên đều phải được lựa chọn kỹ. Và đặc biệt công tác hạch
toán tại Công ty đòi hỏi phải chính xác và kịp thời để cung cấp thông tin cho
ban lãnh đạo Công ty.
Sau một thời gian thực tập tại phòng kế toán của Công ty Thăng Long,
em nhận thấy kế toán nguyên vật liệu t
ại Công ty giữ một vai trò quan trọng
và có nhiều vấn đề cần quan tâm. Do đó, trên cơ sở phương pháp luận đã học
và qua thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty, cùng sự giúp đỡ tận tình của các
cô chú trong phòng kế toán và ban lãnh đạo Công ty, đồng thời là sự hướng
đẫn chu đáo của cô giáo Nguyễn Thị Thu Hiền, em đã quyết định chọn đề tài:
“Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Thăng Long
(TALIMEX)”.
Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội
dung của đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kế toán nguyên vật
liệu trong các doanh nghiệp sản xuất.
Chương 2: Thực trạng về côn tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty
Thăng Long (TALIMEX).
Chương 3: Hoàn thiện công tác nguyên vậ
t liệu tại Công ty Thăng
Long (TALIMEX).
Vì thời gian và khả năng có hạn, nên bài chuyên đề của em không tránh
Có thể nói, vật liệu vô cùng quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh. Đối với những doanh nghiệp sản xuất (Công nghiệp, nông
nghiệp, xây dựng c
ơ bản vật liệu là yếu tố vô cùng quan trọng, chi phí vật liệu
thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số chi phí để tạo thành sản phẩm). Do
vậy vật liệu không chỉ quyết định đến số lượng sản phẩm mà còn ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng sản phẩm tạo ra. Nguyên vật liệu có đảm bảo quy
cách, chủng loại sự đ
a dạng thì sản phẩm sản xuất ra mới đạt yêu cầu và phục
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
vụ cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội. Như vậy vật liệu có một
giá trị vô cùng quan trọng không thể phủ nhận trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
Một hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể thực hiện
được nếu thiếu một trong ba yếu tố: Lao động, tư liệu lao động, và đối tượng
lao động. Trong đó con người với tưcách là chủ thể lao động sử dụng t
ư liệu
lao động và đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất. Trong doanh nghiệp
sản xuất công nghiệp biểu hiện cụ thể của đối tượng lao động là nguyên vật
liệu. Chi phí về vật liệu chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành sản
phẩm và là bộ phận quan trọng trong doanh nghiệp. Nó không chỉ làm đầu
vào của quá trình sản xuất mà còn là một b
ộ phận quan trọng của hàng tồn
kho được theo dõi bảo quản và lập dự phòng khi cần thiết.
Do vật liệu có vai trò quan trọng như vậy nên công tác kế toán vật liệu trong
các doanh nghiệp sản xuất phải được thực hiện một cách toàn diện để tạo điều
kiện quản lý vật liệu, thúc đẩy việc cung cấp đầy đủ kịp thời, đồng bộ những
vật li
ệu cần cho sản xuất, dự trữ và sử dụng vật liệu hợp lý, tiết kiệm ngăn
lý tài sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài (phôi bào, vải vụn, gạch, sắt …);
-Vật liệu khác: bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài các thứ chưa kể trên
như bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng v.v…
1.1.3. Phương pháp tính giá nguyên vật liệu.
Tính giá vật liệu về thực chất là việc xác định giá trị ghi sổ của vật li
ệu.
Theo quy định vật liệu được tính theo giá thực tế (giá gốc). Tức là vật liệu khi
nhập kho hay xuất kho đều được phản ánh trên sổ sách theo giá thực tế.
1.1.3.1. Tính giá nguyên vật liệu nhập kho.
Giá gốc ghi sổ vật liệu trong các trường hợp cụ thể được tính như sau:
Với các vật liệu mua ngoài: giá thực tế (giá gốc) ghi sổ gồm trị giá mua
ngoài của vật liệu thu mua [là giá mua ghi trên hoá đơn của người bán đ
ã
trừ(-) các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua được hưởng,
cộng (+) các loại thuế không được hoàn lại (nếu có) và các chi phí thu mua
thực tế (chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí bao bì; chi phí của bộ phận thu
mua độc lập; chi phí thuê kho, thuê bãi; tiền phạt lưu kho, lưu hàng, lưu
bãi…)].
Như vậy, trong giá thực tế của vật liệu trong doanh nghiệp tính thuế theo
phương pháp khấu trừ không bao gồm thuế GTGT đầu vào đượ
c khấu trừ mà
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
bao gồm các khoản thuế không được hoàn lại như thuế nhập khẩu, thuế tiêu
thụ đặc biệt (nếu có).
Với vật liệu doanh nghiệp sản xuất: giá thực tế ghi sổ của vật liệu do
doanh nghiệp sản xuất khi nhập kho là giá thành sản xuất thực tế (giá thành
công xưởng thực tế) của vật liệu sản xuất ra.
Với vật liệu thuê ngoài, gia công, chế biến: giá thự
c tế ghi sổ nhập kho bao
Giá đơn vị bình
quân
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Trong đó, giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong 3 cách sau:
Cách 1: Giá đơn vị
bình quân cả kỳ dự
trữ
=
Giá thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Lượng thực tế từng loại tồn đầu kỳ và nhập trong
kỳ
Cách tính này tuy đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không cao.
Hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng, gây ảnh hưởng đến công tác
quyết toán nói chung.
Cách 2: Giá đơn vị
bình quân cuối kỳ
trước
=
Giá thực tế từng loại tồn đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước)
Lượng thực tế từng loại tồn kho đầu kỳ
(hoặc cuối kỳ trước)
Cách này mặc dầu khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến
ổn định hoặc có xu hướng giảm. c, Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO):
Phương pháp này giả định những v
ật liệu nhập kho sau cùng sẽ được xuất
trước tiên, ngược lại với phương pháp nhập trước xuất trước ở trên. Phương
pháp nhập sau xuất trước thích hợp trong trường hợp lạm phát.
d, Phương pháp trực tiếp:
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu được xác định theo đơn chiếc
hay từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập và cho tới lúc xuất kho (trừ trường hợp
điều chỉnh). Khi xu
ất kho lô nào (hay cái nào) sẽ được tính theo giá thực tế
của lô ấy hay cái ấy. Do vậy, phương pháp này còn có tên gọi là phương pháp
đặc điểm riêng hay phương pháp giá thực tế đích danh và thường sử dụng
trong các doanh nghiệp có ít loại vật liệu hoặc vật liệu ổn định, có tính tách
biệt và nhận diện được.
e, Phương pháp giá thực tế hạch toán:
Ngoài các phương pháp cơ bản trên, trong thực tế công tác kế toán, để
giảm nhẹ
việc ghi chép cũng như bảo đảm tính kịp thời của thông tin kế toán,
để tính giá thực tế của vật liệu xuất kho, kế toán còn sử dụng phương pháp giá
hạch toán.
Theo phương pháp này, toàn bộ vật liệu biến động trong kỳ được tính theo
giá hạch toán (giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định trong kỳ). Cuối kỳ, kế
toán sẽ tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá th
ực tế theo công thức:
Giá thực tế từng loại xuất
=
và chính xác số lượng và giá trị vật liệu xuất
kho, kiểm tra tình hình chấp hành các định mức tiêu hao vật liệu.
- Phân bổ hợp lý giá trị vật liệu sử dụng vào các đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất kinh doanh.
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
- Tính toán và phản ánh chính xác số lượng và vật liệu tồn kho, phát hiện
kịp thời vật liệu thừa, thiếu, ứ đọng, kém phẩm chất để doanh nghiệp có biện
pháp xử lý kịp thời, hạn chế đến mức tối đa có thể xảy ra.
1.2. Tổ chức kế toán chi tiết nguyên vật liệu.
1.2.1. Phương pháp thẻ song song
Theo phương pháp thẻ song song, hạch toán chi tiết vật liệu tại các doanh
nghiệp được tiến hành như sau:
Tại kho: Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn vật
liệu về mặt số lượng.
Tại phòng kế toán: Kế toán sử dụng thẻ kế toán chi tiết vật liệu để phản
ánh tình hình hiện có, biến động tăng, giảm theo từng danh điểm vật liệu với
thẻ kho mở ở kho.
Để thực hiệ
n đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, kế toán
phải căn cứ vào các thẻ kế toán chi tiết để lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn
kho về mặt giá trị của từng loại vật liệu.
Phương pháp thẻ song song mặc dầu đơn giản, dễ làm nhưng việc ghi chép
còn nhiều trùng lặp. Vì thế, chỉ thích hợp với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, s
ố
lượng nghiệp vụ ít, trình độ nhân viên kế toán chưa cao.
Thẻ
hoặc
liệu; mỗi danh điểm ghi một dòng trong sổ. Cuối tháng, kế toán đối chiếu số
lượng vật liệu trên sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho của thủ kho; đồng
th
ời đối chiếu số tiền của từng danh điểm vật liệu với kế toán tổng hợp (theo
giá hạch toán ở các bảng tính giá).
Phương pháp này mặc dầu đã có cải tiến nhưng việc ghi chép vẫn còn
trùng lặp.
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
Sơ đồ 1.2: Kế toán chi tiết vật liệu theo phương pháp
Sổ đối chiế
u luân chuyển
1.2.3. Kế toán chi tiết vật liệu theo phương pháp sổ số dư.
Thẻ kho Chứng từ xuất
Bảng kê nhập
Sổ đối chiếu
Luân chuyển
Bảng kê xuất
Sổ kế toán tổng hợp
Chứng từ xuất
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
toán vật tư tính bằng cách lấy số lượng tồn kho * giá hạch toán).
1.3. Tổ chức kế toán tổng hợp nguyên vật liệu.
Để hạch toán vật liệu nói riêng và hàng tồn kho nói chung, kế toán có thể
áp dụng một trong 2 phương pháp: kiểm kê định kỳ và kê khai thường xuyên.
Việc sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điể
m kinh doanh của
từng doanh nghiệp, vào yêu cầu của công tác quản lý và vào trình độ cán bộ
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Sổ số dư
Kế toán tổng hợp
Phiếu giao nhận chứng từ
nhập
Bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn
vật tư
Phiếu giao nhận chứng từ
xuất
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
Ghi định kỳ
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
kế toán cũng như vào quy định của chế độ kế toán hiện hành. Hàng hoá tồn
kho của doanh nghiệp là tài sản lưu động của doanh nghiệp tồn tại dưới hình
thái vật chất, bao gồm nguyên-vật liệu, công cụ, dụng cụ, sản phẩm dở dang,
thành phẩm, hàng hoá.
1.3.1. Kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kê khai thường
tháng, chưa về nhập kho (kể cả số đang gửi kho người bán).
Bên nợ: Phản ánh giá trị hàng mua đang đi đường tăng thêm trong kỳ.
Bên có: Phản ánh giá trị hàng đi đường kỳ trước đã nhập kho hay chuyển
giao cho các bộ phận sử dụng hoặc giao cho khách hàng.
Dư nợ: giá trị hàng đang đi đườ
ng (đầu và cuối kỳ).
Ngoài ra, trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản
liên quan khác như 133, 331, 111, 112, 632….
Căn cứ vào giấy báo nhận hàng, nếu xét thấy cần thiết, khi hàng về đến
nơi, có thể lập ban kiểm nhận để kiểm nhận vật liệu thu mua cả vể số lượng,
chất lượng, quy cách…Ban kiểm nhận căn cứ vào kết quả thực tế ghi vào
“Biên bản kiểm nh
ận vật tư”. Sau đó bộ phận cung ứng sẽ lập “Phiếu nhập
kho” vật tư trên cơ sở hóa đơn, giấy báo nhận hàng và biên bản kiểm nhận rồi
giao cho thủ kho. Thủ kho sẽ ghi số vật liệu vào phiếu rồi chuyển cho phòng
kế toán làm căn cứ ghi sổ. Trường hợp phát hiện thừa, thiếu, sai quy cách, thủ
kho phải báo cho bộ phận cung ứng biết và cùng người giao lập biên bả
n.
1.3.1.2. Phương pháp hạch toán:
a, Với doanh nghiệp áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
Đối với đơn vị tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ ( đã thực hiện
việc mua bán hàng hoá có hóa đơn, chứng từ ghi chép kiểm tra đủ). Thuế
GTGT đầu vào được tách riêng, không ghi vào giá thực của vật liệu. Như vậy,
khi mua hàng trong tổng giá thanh toán phải trả cho người bán, phần giá mua
chưa thuế được ghi tăng giá trị v
ật tư mua vào, còn phẩn thuế GTGT đầu vào
được ghi vào số được khấu trừ. Kế toán sử dụng tài khoản 133 (1331) -Thuế
GTGT đầu vào của hàng hoá dịch vụ mua ngoài).
b, Với doanh nghiệp áp dụng thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp:
Đối với cơ sở sản xuất không đủ điều kiện để tính thuế GTGT theo
ế VL xuất dùng, xuất bán, thiếu hụt trong kỳ và
tồn kho cuối kỳ.
Tài khoản này không có số dư.
Tài khoản 151: “Hàng mua đang đi trên đường”. Dùng để phản ánh trị giá
số vật liệu mà doanh nghiệp đã mua hay chấp nhận mua (đã thuộc sở hữu của
đơn vị) nhưng đang đi đường hay đang gửi tại kho người bán, chi tiết theo
từng loại, từng người bán.
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Bên nợ: giá thực tế hàng đang đi đường cuối kỳ.
Bên có: kết chuyển giá thực tế hàng đang đi đường cuối kỳ.
Dư nợ: giá thực tế hàng đang đi đường.
Tài khoản 152: “Nguyên liệu, vật liệu”. Dùng để phản ánh giá thực tế
nguyên, vật liệu tồn kho, chi tiết theo từng loại.
Bên nợ: giá thực tế vật liệu tồn kho cuối kỳ.
Bên có: kế
t chuyển giá thực tế vật liệu tồn kho đầu kỳ.
Dư nợ: giá thực tế vật liệu tồn kho.
Ngoài ra trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản
khác có liên quan như 133, 111, 112, 331….Các tài khoản này có nội dung và
kết cấu giống như phương pháp kê khai thường xuyên.
1.3.2.2. Phương pháp hạch toán
Trình tự hạch toán vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ được khái
quát theo sơ đồ. (xem sơ đồ 1.5).
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
ều sổ Nhật ký đặc biệt.
1.4.2. Hình thức Nhật ký - Sổ cái.
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
Theo hình thức này, các nghiệp vụ kế toán phát sinh được phản ánh vào
một quyển sổ gọi là Nhật ký - Sổ cái. Sổ này là sổ hạch toán tổng hợp duy
nhất, trong đó kết hợp phản ánh theo thời gian và theo hệ thống. Tất cả các tài
khoản mà doanh nghiệp sử dụng được phản ánh cả hai bên Nợ - Có trên cùng
một vài trang sổ. Căn cứ ghi vào sổ là chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp
chứ
ng từ gốc, mỗi chứng từ ghi một dòng vào Nhật ký - Sổ cái. Cuối kỳ khoá
sổ thẻ kế toán chi tiết, lập tổng hợp chi tiết để đối chiếu với Nhật ký - Sổ cái.
1.4.3. Hình thức Chứng từ ghi sổ.
Hình thức này thích hợp với mọi loại hình đơn vị, thuận tiện cho việc áp
dụng máy tính. Tuy nhiên, việc ghi chép bị trùng lặp nhiều nên việc lập báo
cáo dễ bị trễ
nhất là trong điều kiện thủ công, sổ sách trong hình thức này
gồm:
-Sổ cái: Là sổ phân loại dùng để hạch toán tổng hợp. Mỗi tài khoản được
phản ánh trên một vài trang sổ cái theo kiểu ít cột hoặc nhiều cột.
-Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ: Là sổ ghi thời gian, phản ánh toàn bộ chứng
từ ghi sổ đã lập trong tháng. Sổ này nhằm quản lý chặt chẽ chứng từ ghi sổ
và
kiểm tra, đối chiếu với bảng cân đối phát sinh. Mọi chứng từ ghi sổ sau khi
lập xong đều phải đăng ký vào sổ này để lấy số hiệu và ngày tháng. Số hiệu
của chứng từ ghi sổ được đánh giá liên tục từ đầu tháng (hoặc đầu năm) đến
cuối tháng (hoặc cuối năm). Ngày, tháng trên chứng từ ghi sổ tính theo ngày
ghi “Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ”.
-Bảng cân
đối tài khoản: Dùng để phản ánh tình hình đầu kỳ, phát sinh
ệu trong doanh nghiệp sản xuất.
Đối với mỗi công ty công tác kế toán nguyên vật liệu có ảnh hưởng rất lớn
đến việc sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất. Nó quyết định đến
hiệu suất cũng như lợi nhuận mà Công ty đó đạt được.
Để thực hiện được điều này, việc tăng cường công tác quản lý và hoàn thiện
công tác kế toán nguyên vật liệu là cần thiế
t vì đây là một biện pháp hữu hiệu,
quan trọng nhất góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thánh sản phẩm,
tránh mất mát hư hỏng trong quá trình sản xuất kinh doanh mà vẫn đảm bảo
chất lượng sản phẩm sản xuất ra.
Trong khâu thu mua: Công tác kế toán nguyên vật liệu cần phải chọn lọc,
chi tiết nguyên vật liệu để tránh nhập phải nguyên vật liệu không đạt yêu cầu,
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Giang- Lớp Q10K3
nhằm tăng năng suất trong quá trình sản xuất, từ đó sẽ tiết kiệm được rất
nhiều chi phí phát sinh không cần thiết.
Trong khâu dự trữ và bảo quản: Công tác kế toán nguyên vật liệu phải có hệ
thống kho được tổ chức khoa học hợp lý giúp vật tư được bảo quản chặt chẽ,
tránh được tình trạng thất thoát vật tư, gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Như
vậ
y việc sử dụng vật liệu trong quá trình sản xuất sẽ chính xác, tiết kiệm hơn
rất nhiều.
Việc cung cấp thông tin chi tiết về tình hình nhập – xuất – tồn kho của từng
loại vật liệu thông qua các sổ kế toán chi tiết vật liệu, thẻ kho, việc phản ánh
đúng nội dung các nghiệp vụ kế toán phát sinh trong kỳ… sẽ giúp cho việc
nắm bắt tình hình sản xuất của ban giám đốc dễ dàng h
ơn, nhanh nhạy hơn,
chính xác hơn và có những biện pháp kịp thời trong sản xuất, giúp cho những
nhà lãnh đạo có những hướng đi phù hợp với nhu cầu của thị trường.
chế thử máy khâu gia đình. Lúc này, xí nghiệp gồm 30 người trong đó có
nhiều kỹ sư và thợ bậc cao về cơ khí.
Trong những ngày đầu thành lâp xí nghiệp còn gặp nhiều khó khăn
như: