BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA
ĐỀ TÀI: Hình thành KN dạy học môn Toán cho SV ngành GDTH
MỤC LỤC
1
MƠ ĐẦU
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2. KN dạy học
1.2.1 KN
1.2.1.1 Khái niệm về KN
1.2.1.2 Phân biệt kĩ năng và kĩ xảo
1.2.2 Quá trình dạy học
1.2.3 KN dạy học
1.2.3.1 Khái niệm về KNDH
1.2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành KNDH
1.2.4 Hệ thống KN dạy học
1.2.4.1 Nhóm KN hiểu HS
1.2.4.2 Nhóm KN thiết kế kế hoạch DH
1.2.4.3 Nhóm KN tổ chức thực hiện kế hoạch DH
1.2.4.4 Nhóm KN kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động DH
1.2.5 Cấu trúc KNDH
1.2.6 Hình thành KNDH
1.3. KN dạy học môn Toán
1.3.1 Môn Toán ở tiểu học
1.3.1.1 Mục tiêu
1.3.2.2 Đặc điểm môn Toán ở TH
1.3.2 PPDH môn Toán ở TH
1.3.2.1 Khái niệm về PPDH
1.3.2.2 Các PPDH môn Toán ở TH
3.3. Quy trình hình thành KNDH môn Toán của SV ngành GDTH
3
3.3.1 Quy trình chung
3.3.2 Quy trình cụ thể
3.4. Thử nghiệm quy trình và kết quả thử nghiệm
3.5. Kết luận chương 3
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
MỞ ĐẦU
4
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đặt ra những nhu
cầu lớn về nguồn nhân lực có trình độ cao, quá trình hội nhập khu vực và quốc
tế với xu thế toàn cầu hoá đang là một thách thức lớn đối với nước ta. Nó đòi
hỏi nhà nước phải có một chiến lược phát triển nhân tài. Để thực hiện thành
công chiến lược con nguời của Đảng, ngành giáo dục nói chung, các trường sư
phạm làm công tác đào tạo đội ngũ GV đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy nội lực
nâng mình lên đáp ứng xứng đáng với đòi hỏi của đất nước.
GVTH chiếm
1
/
3
lực lượng GV của các cấp học cả nước. Để từng bước xây
dựng và nâng cao chất lượng GVTH, đòi hỏi phải đào tạo, đánh giá xếp loại
đội ngũ theo chuẩn nghề nghiệp. Chuẩn nghề nghiệp của GVTH được thể
hiện trên ba lĩnh vực: Phẩm chất đạo đức, tư tưởng, chính trị; kiến thức và KN
sư phạm. Đây cũng là căn cứ để các trường sư phạm đào tạo GVTH dựa vào đó
để thiết kế mục tiêu, xây dựng nội dung, lựa chọn phương pháp và hình thức
đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn.(bá phÇn nµy)
SV ngành GDTH.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu.
Hoạt động rèn luyện KNDH của SV ngành GDTH.
3.2 Đối tượng nghiên cứu.
Cấu trúc và quy trình hình thành KDDH môn toán cho SV ngành GDTH
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Nghiên cứu lí luận: Xây dựng cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu thực
trạng, từ đó đi đến việc xây dựng quy trình rèn luyện KNDH môn Toán cho SV.
(ViÕt l¹i)
4.2 Nghiên cứu thực trạng: Điều tra về những vấn đề liên quan .(Cô thÓ
h¬n)
6
4.3 Xây dựng quy trình hình thành KNDH môn Toán cho SV ngành
GDTH và thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi, tính hiệu quả của
quy trình .
5.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được một quy trình làm việc chi tiết cho việc hình thành
KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH thì có thể nâng cao chất lượng của quá
trình hình thành KNDH môn Toán nói riêng cũng như KNDH nói chung cho
SV ngành GDTH .
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu những tài liệu liên quan
đến vấn đề nghiên cứu nhằm thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu lí luận của đề tài .
6.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Từ việc nghiên cứu lí luận, điều tra
thực trạng lấy đó làm cơ sở để xây dựng quy trình rèn luyện KNDH môn Toán
cho SV ngành GDTH .
6.4 Thực nghiệm sư phạm: Nhằm xác định tính hiệu quả và độ tin cậy của
việc vận dụng quy trình .
7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN.
giáo dục đại học”. Tác giả nêu ra hơn 100 KN nghiệp vụ giảng dạy và giáo dục,
trong đó tập trung 50 KN cần thiết được phân chia luyện tập theo từng thời kì
thực hành, thực tập sư phạm cụ thể .
O.A.Abdoullina cũng đã luận chứng và đưa ra một hệ thống các KN giảng
dạy và KN giáo dục riêng biệt và được mô tả cụ thể theo thứ bậc.
Nhìn chung những công trình nghiên cứu nói trên đã đưa ra một hệ thống
lí luận tương đối cơ bản về quá trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm. Tuy nhiên,
thời đại ngày nay đã có nhiều thay đổi lớn, đặc biệt sự phát triển của khoa học
công nghệ đã làm thay đổi chức năng và nhiệm vụ của người GV, đòi hỏi người
GV phải có những KN và năng lực mới, đồng thời một số KN và năng lực cũ
không còn phù hợp nữa cần phải có sự cải tiến, bổ sung, thay đổi sao cho phù
hợp với điều kiện hiện tại. Do đó cần có sự nghiên cứu nghiêm túc hơn về
vấn đề này.
9
Ở một số nước phương Tây, các công trình nghiên cứu của
J.Watshon(1926), A.Pojoux(1926), F.Skinner(1963) đặc biệt quan tâm đến việc
tổ chức huấn luyện các KN thực hành giảng dạy cho giáo sinh, dựa trên những
thành tựu của tâm lí học hành vi và tâm lí học chức năng .
Tại trường đại học quốc gia Ohio của Mỹ từ những thập niên 1970 đã có
những nghiên cứu triển khai trong việc xây dựng các môdun đào tạo GV kĩ
thuật - nghề nghiệp. Kết quả đưa ra được 600 KN đào tạo GV kĩ thuật- nghề
nghiệp.
Trong các báo cáo ở: “Hội thảo về canh tân việc đào tạo bồi dưỡng GV
của các nước châu Á và Thái Bình Dương” do APEID thuộc UNESCO tổ chức
tại Seoul Hàn Quốc cũng đã xác định rõ tầm quan trọng của việc hình thành tri
thức và các KN sư phạm cho SV trong quá trình đào tạo.
Tuy nhiên, việc hình thành KNDH các môn học nói chung và môn Toán
nói riêng (ở tiểu học) cho SV sư phạm thì hầu như chưa thấy tác giả nào đề
cập tới.
Ở Việt Nam, trong lĩnh vực sư phạm đã có nhiều công trình nghiên cứu
GDTH ở từng môn học cụ thể. Đó là một hệ thống thao tác liên tục với các
bước cụ thể .
Việc hình thành KNDH cho SV nói chung và SV ngành GDTH nói riêng
bước đầu đã được quan tâm và đề cập tới ở một số môn học (môn Tiếng Việt,
Đạo đức, Tự nhiên xã hội). Tuy nhiên, việc hình thành KNDH môn Toán cho
SV ngành GDTH thì chưa có tác giả và tài liệu nào đề cập tới .
1.2 KĨ NĂNG DẠY HỌC
1.2.1 Kĩ năng
1.2.1.1 Khái niệm về KN
11
Xem xét các công trình nghiên cứu từ trước đến nay, thông qua các khái
niệm chúng tôi thấy vẫn tồn tại hai quan niệm khác nhau đôi chút về KN .
Quan niệm 1: Coi KN là mặt kĩ thuật của một thao tác, hành động hay một
hoạt động nào đó. Muốn thực hiện được một hành động, cá nhân phải hiểu
được mục đích, phương thức và điều kiện để thực hiện nó. Vì vậy nếu ta nắm
được các tri thức về hành động, thực hiện nó trong thực tiễn theo các yêu cầu
khác nhau tức ta đã có KN về hành động. Theo V.A.Kruchexki thì: “KN là các
phương thức thực hiện hoạt động, những cái mà con người đã nắm vững”. Ông
cho rằng: Chỉ cần nắm vững phương thức của hành động là con người có KN,
không cần đến kết quả hoạt động của cá nhân [5,tr78]. Trong cuốn “Tâm lí học
cá nhân” .Côvaliôp.A.G cũng xem: “KN là phương thức thực hiện hành động
phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” [4,tr11] .
Khi bàn về KN, Trần Trọng Thuỷ cũng cho rằng: “KN là mặt kĩ thuật của
hành động. Con người nắm được cách thức hành động - tức kĩ thuật của hành
động là có KN” [22,tr2].
Quan niệm 2: Coi KN không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động mà
còn là một biểu hiện năng lực của con người. KN theo quan niệm này vừa có
tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt sáng tạo lại vừa có tính mục
đích. Chẳng hạn, theo N.D.Lêvitôp: KN là sự thực hiện có kết quả một động tác
nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những
1.2.1.2 Phân biệt KN và kĩ xảo.
13
Tuy có sự khác nhau đôi chút về định nghĩa, song hầu hết các nhà nghiên
cứu đều thống nhất: “Kỉ xảo là loại hành động được tự động hoá nhờ luyện tập.
Nó có đặc điểm: Không có sự kiểm soát thường xuyên của ý thức. Động tác
mang tính khái quát, không có động tác thừa, kết quả cao mà ít tốn năng lượng
thần kinh và bắp thịt”. [9,tr225]
Kĩ năng và kĩ xảo về bản chất đều là các thuộc tính kĩ thuật của hành động
cá nhân. Chúng đều được hình thành trên cơ sở các tri thức về hành động đã
được lĩnh hội và được triển khai trong thực tiễn. Tuy nhiên giữa KN và kĩ xảo
có nhiều điểm khác nhau. Sự khác nhau giữa chúng đựơc đặc trưng bởi mức độ
thuần thục, tự động hoá; bởi mức độ tham gia kiểm soát của ý thức trong quá
trình luyện tập cũng như vận hành trong thực tiễn; bởi cấu trúc và vai trò của
chúng trong quá trình hành động .
Thứ nhất so với KN, kĩ xảo thuần thục hơn, tự động hoá hơn và được giải
phóng khỏi sự kiểm soát của ý thức. Nói chung, để có kết quả cao trong hành
động mà cá nhân không bị “cộm” trong ý thức thì thao tác (với tư cách là
phương tiện) không chỉ dừng lại ở mức độ KN, nó phải vươn tới trình độ kĩ
xảo. Với tư cách đó, kĩ xảo có tính hoàn thiện cao hơn KN, được hình thành
trên cơ sở KN có trước .
Thứ hai, giữa KN và kĩ xảo có sự khác nhau về cấu trúc. Xét về mặt cấu
trúc KN nào cũng bao gồm ba thành phần :
- Tri thức về phương thức thực hiện các thao tác và hành động cấu thành
KN đó
- Mục đích tiến hành KN
- Các thao tác tương ứng kèm theo những phương tiện thực hiện chúng .
(Xem xÐt l¹i)
Ngược lại, kĩ xảo có tính cơ giới, tự động hoá, được cá nhân sử dụng một
cách tự do. Trong cấu trúc của kĩ xảo không bao gồm yếu tố cấu trúc một và hai
1.2.3 Kĩ năng dạy học
1.2.3.1 Khái niệm KNDH
Trong luận án tiến sĩ của Nguyễn Như An có đưa ra định nghĩa: “ Kĩ năng
dạy học là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác phức
tạp của một hành động giảng dạy, bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri
thức, những cách thức và quy trình đúng đắn” . Tương tự như vậy trong luận án
tiến sĩ của mình tác giả Trần Anh Tuấn cũng đưa ra định nghĩa : “Kĩ năng dạy
học là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác phức hợp
của một hành động giảng dạy bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức
chuyên môn và nghiệp vụ cần thiết cho các tình huống dạy học xác định
[23,tr.71] .
Khi bàn về khái niệm KNDH tác giả Phạm Minh Hùng cho rằng: KNDH
là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác phức tạp của
một hay nhiều hành động DH bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức,
những cách thức, những quy trình đúng đắn, đảm bảo cho hoạt động DH của
người GV đạt kết quả cao. [14,tr10 ]
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn của chúng tôi sử dụng khái niệm
KNDH theo định nghĩa của tác giả Phạm Minh Hùng .
1.3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành KNDH cho SV .
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành KNDH cho SV. Sau
đây chúng tôi sẽ trình bày một số yếu tố cơ bản nhất .
- Hệ thống tri thức là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành KN. Để
hình thành KNDH cho SV cần trang bị cho họ các loại tri thức như: Tri thức
chuyên môn; tri thức nghiệp vụ; tri thức về bản thân các KN như quy trình
tập luyện, các yêu cầu thao tác hành động.
- Hệ thống kĩ thuật, thao tác của các hoạt động và các kĩ xảo tương ứng,
hay nói cách khác đây chính là quy trình tập luyện. Nếu SV nào có hệ thống các
16
thao tác kĩ thuật, các kĩ xảo gần gủi với KNDH thì việc rèn luyện các KNDH
cho SV thuận lợi hơn.
Việc hình thành KN này cho SV trong quá trình đào tạo là rất khó. Trong
trường sư phạm, chỉ bước đầu định hình KN này cho SV mà thôi. Để có KN
hiểu học sinh, người GV phải trải qua rất nhiều kinh nghiệm trong hoạt động
nghề nghiệp .
1.2.4.2 Nhóm KN thiết kế kế hoạch dạy học .
Một đặc điểm quan trọng của của giáo dục nhà trường là tiến hành có mục
đích, có nội dung, có chương trình, có kế hoạch, có phương pháp…dưới sự chỉ
đạo của người GV. Do đó, người GV cần phải có KN xây dựng kế hoạch dạy học.
Nhóm KN thiết kế kế hoạch dạy học bao gồm hệ thống nhóm nhỏ KN sau:
- Nhóm KN phân tích chương trình: Phân tích mục đích yêu cầu của
chương trình bao gồm các yêu cầu tổng quát về tri thức, về KN, về thái độ .
- Nhóm KN lựa chọn phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học
- Nhóm KN thiết kế bài soạn: Xây dựng được cấu trúc các hoạt động dạy
học, dự kiến được nội dung các hoạt động của thầy và trò, dự kiến phân phối
thời gian, trình bày hoạt động học tập của HS theo mẫu giáo án hợp lí.
- Nhóm KN chuẩn bị bài lên lớp: Đòi hỏi GV nắm vững nội dung tri thức
của bài giảng. Có óc tưởng tượng sư phạm và dự kiến được các tình huống,
cách xử lí tình huống có thể xẩy ra trong tiết học.
Có thể hình thành nhóm KN này cho SV ngay từ năm thứ hai, thông qua
việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên. Chuẩn bị cho bước rèn luyện
cao hơn là kiến tập và thực tập sư phạm. Trong quá trình đào tạo trường sư phạm
có thể rèn luyện cho SV nhóm KN này ở mức thành thạo cơ bản.
1.2.4.3 Nhóm KN tổ chức thực hiện kế hoạch.
Việc tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục về cơ bản là hoạt
động chủ yếu của người GV, có tác dụng quyết định đối với chất lượng hiệu
18
quả của giáo dục và dạy học. Vì vậy đây là nhóm KN cơ bản nhất cần rèn luyện
cho SV trong quá trình đào tạo. Các KN cụ thể của nhóm này bao gồm.
- KN ổn định tổ chức lớp: Là bước chuẩn bị những điều kiện khách quan,
chủ quan cho việc dạy học.
trọng, những kiến thức trọng tâm, có thể thực hiện bằng các phương pháp như:
Phát vấn; cho HS làm bài tập; sử dụng mô hình hệ thống hoá bài học; đặt những
bài tập kiểu gài bẫy cho HS.
1.2.4.4 Nhóm KN kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy học.
GV phải có biện pháp kiểm tra đánh giá một cách khách quan, trung thực,
phản ánh đúng thực lực học tập và tu dưỡng của từng HS. Kiểm tra đánh giá
phải toàn diện, tức phải xem xét cả ba mặt của tri thức, KN và thái độ của HS.
Trong dạy học nhóm KN này bao gồm một số KN cụ thể sau :
- KN ra đề thi, kiểm tra.
- KN lập biểu điểm, đáp án rõ ràng, chính xác.
- KN tổ chức thi, kiểm tra. Vừa phải đảm bảo tính nghiêm túc vừa đảm
bảo không khí tự nhiên thoải mái cho HS làm bài.
- KN cho điểm và đánh giá .
- KN trả và chữa bài .
Đây là một trong những KN quan trọng trong quá trình dạy học. Tuy nhiên
việc rèn luyện KN này cho SV ở các trường sư phạm còn hạn chế, chủ yếu sau
khi ra trường trong quá trình công tác giảng dạy GV tự mò mẫm và học hỏi ở
các đồng nghiệp có kinh nghiệm.
1.2.5 Cấu trúc của KN dạy học
Cấu trúc là toàn bộ nói chung những quan hệ bên trong giữa các thành
phần tạo nên một chỉnh thể . [28,tr128]
20
Khi nói đến một cấu trúc bất kì là chúng ta nghĩ ngay đến các thành phần
tạo nên một chỉnh thể cũng như mối liên hệ giữa chúng .
Theo tác giả Phạm Minh Hùng, cấu trúc của KNDH là tập hợp các hành
động nhất định mà nguời GV cần thực hiện thành thạo trong quá trình dạy học .
Các hành động này được sắp xếp theo một hệ thống phù hợp với nội dung cũng
như tiến trình dạy học. [14, tr11] . Đó là các hành động.
- Xác định mục đích yêu cầu (kiến thức, KN, giáo dục) và xây dựng cấu
trúc của một bài lên lớp.
1.3.1.1 Mục tiêu
Dạy học môn Toán ở cấp Tiểu học nhằm đạt được những mục tiêu sau đây:
1. Giúp cho HS có những kiến thức cơ bản, ban đầu về số học, các số tự
nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học
và thống kê đơn giản.
2. Hình thành ở HS các KN tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng
dụng thiết thực trong đời sống.
3. Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí
và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện giải quyết vấn đề đơn giản gần gủi
trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp
phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa
học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
1.3.1.2 Đặc điểm môn Toán ở tiểu học
1. Chương trình môn Toán được xây dựng theo quan điểm tích hợp. Các
mạch kiến thức được sắp xếp xen kẻ và bổ trợ cho nhau trong đó nội dung số
học là mạch kiến thức cơ bản, nó chi phối và quyết định việc lựa chọn những
nội dung toán học ở các mạch kiến thức khác để dạy ở mỗi lớp.
2. Trọng tâm môn Toán ở tiểu học là số tự nhiên, số thập phân, các đại
lượng cơ bản, một số yếu tố hình học cùng những ứng dụng thiết thực của nó
22
trong tính và đo lường, giải bài toán có lời văn cùng với sự kết hợp trong thực
hành và ở dạng đơn giản của một số yếu tố thống kê . Cụ thể:
- Dạy học số học tập trung vào dạy học số tự nhiên và số thập phân. Số tự
nhiên được dạy thông qua các vòng số và nâng dần qua các lớp từ vòng số 10,
100, 1000…100 000. Ở vòng 10 học sinh làm quen với các con số và nhận biết
chúng, đồng thời làm quen luôn các khái niệm về “phép cộng” và “phép trừ”,
“nhiều hơn” và “ít hơn”, tính giá trị biểu thức có đến hai dấu phép tính. Các
vòng số còn lại, tiếp tục được dạy với những nội dung: Giới thiệu cấu tạo thập
phân của số; đọc, viết, so sánh các số trong vòng số đó; giới thiệu các thành
phần trong các phép tính cộng và trừ; cách thực hiện phép cộng và trừ có nhớ
, m
3
và bảng đơn vị đo thể tích).
- Các kiến thức hình học được đưa vào chương trình toán cấp tiểu học bao
gồm các yếu tố hình học cơ bản và cần thiết: Điểm, đoạn thẳng, đường thẳng,
góc, đường gấp khúc, hình tròn, hình vuông, hình chử nhật, hình tam giác,
hình bình hành, hình thoi, hình thang, hình hộp chử nhật, hình lập phương,
hình cầu. Các kiến thức hình học được chọn lọc tinh giảm, sát đối tượng và
trình bày từ đơn giản đến phức tạp. Nội dung chủ yếu là giúp HS nhận biết
và vẽ được hình đã học đồng thời tính diện tích và chu vi của các hình, tính
được thể tích hình hộp chử nhật và hình lập phương. Tuy nhiên, các kiến thức
hình học không được trình bày theo từng chương riêng biệt mà được trình bày
rải rác suốt từ lớp 1 đến lớp 5, xen kẻ với các vòng số theo nguyên tắc đồng
tâm, kế thừa và phát triển.
- Nội dung giải toán có lời văn bao gồm những dạng toán cơ bản sau: Giải
bài toán bằng một phép cộng hoặc một phép trừ, chủ yếu là bài toán thêm bớt
một số đơn vị; bài toán đơn về phép cộng và phép trừ, về phép nhân và phép
chia; giải bài toán có đến hai bước phép tính với các mối quan hệ trực tiếp và
đơn giản; giải bài toán quy về đơn vị và các bài toán có nội dung hình học; giải
bài toán có ba bước phép tính, có sử dụng phân số; giải bài toán tìm hai số khi
biết tổng hoặc hiệu và tỉ số của chúng; tìm số trung bình cộng; tìm hai số khi
biết tổng và hiệu của chúng; giải bài toán về tỉ số phần phăm; các bài toán đơn
về chuyển động đều, chuyển động ngược chiều và cùng chiều.
- Yếu tố thống kê bắt đầu được dạy từ lớp 3 với những nội dung hết sức
cơ bản: Giới thiệu bảng số liệu đơn giản; tập sắp xếp bảng số liệu theo mục
đích yêu cầu cho trước; lập bảng số liệu và nhận xét bảng số liệu; giới thiệu
biểu đồ tập nhận xét biểu đồ; thực hành lập bảng số liệu và vẽ biểu đồ ở dạng
đơn giản.
24
3. Các kiến thức kĩ năng môn Toán ở tiểu học được hình thành chủ yếu