BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA
ĐỀ TÀI:
“Hình thành KN dạy học môn Toán cho SV ngành GDTH”
1
“Hình thành KN dạy học môn Toán cho SV
ngành GDTH” (kÜ n¨ng)
MỤC LỤC
MƠ ĐẦU
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2. KN dạy học
1.2.1 KN
1.2.1.1 Khái niệm về KN
1.2.1.2 Phân biệt kĩ năng và kĩ xảo
1.2.2 Quá trình dạy học
1.2.3 KN dạy học
1.2.3.1 Khái niệm về KNDH
1.2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành KNDH
1.2.4 Hệ thống KN dạy học
1.2.4.1 Nhóm KN hiểu HS
1.2.4.2 Nhóm KN thiết kế kế hoạch DH
1.2.4.3 Nhóm KN tổ chức thực hiện kế hoạch DH
1.2.4.4 Nhóm KN kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động DH
1.2.5 Cấu trúc KNDH
1.2.6 Hình thành KNDH
1.3. KN dạy học môn Toán
1.3.1 Môn Toán ở tiểu học
1.3.1.1 Mục tiêu
3.2.1 KN tổ chức giám sát hoạt động học tập cho HS
3.2.2 KN dự đoán và xử lí các tình huống sư phạm xẩy ra trong
giờ học Toán
3.3. Một số vấn đề cần lưu ý khi hình thành KNDH môn Toán
cho SV ngành GDTH
3.3. Quy trình hình thành KNDH môn Toán của SV ngành GDTH
3.3.1 Quy trình chung
3.3.2 Quy trình cụ thể
3.4. Thử nghiệm quy trình và kết quả thử nghiệm
3.5. Kết luận chương 3
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
4
MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đặt ra những nhu
cầu lớn về nguồn nhân lực có trình độ cao, quá trình hội nhập khu vực và quốc
tế với xu thế toàn cầu hoá đang là một thách thức lớn đối với nước ta. Nó đòi
hỏi nhà nước phải có một chiến lược phát triển nhân tài. Để thực hiện thành
công chiến lược con nguời của Đảng, ngành giáo dục nói chung, các trường sư
phạm làm công tác đào tạo đội ngũ GV đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy nội lực
nâng mình lên đáp ứng xứng đáng với đòi hỏi của đất nước.
GVTH chiếm
1
/
3
lực lượng GV của các cấp học cả nước. Để từng bước xây
dựng và nâng cao chất lượng GVTH, đòi hỏi phải đào tạo, đánh giá xếp loại
đội ngũ theo chuẩn nghề nghiệp. Chuẩn nghề nghiệp của GVTH được thể
Từ những lí do trên chúng tôi quyết định đi đến chọn đề tài nghiên cứu là :
“Hình thành KN dạy học môn Toán cho SV ngành GDTH”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Nhằm góp phần nâng cao chất lượng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho
SV ngành GDTH.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu.
Hoạt động rèn luyện KNDH của SV ngành GDTH.
3.2 Đối tượng nghiên cứu.
Cấu trúc và quy trình hình thành KDDH môn toán cho SV ngành GDTH
6
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Nghiên cứu lí luận: Xây dựng cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu thực
trạng, từ đó đi đến việc xây dựng quy trình rèn luyện KNDH môn Toán cho SV.
(ViÕt l¹i)
4.2 Nghiên cứu thực trạng: Điều tra về những vấn đề liên quan .(Cô thÓ
h¬n)
4.3 Xây dựng quy trình hình thành KNDH môn Toán cho SV ngành
GDTH và thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi, tính hiệu quả của
quy trình .
5.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được một quy trình làm việc chi tiết cho việc hình thành
KNDH môn Toán cho SV ngành GDTH thì có thể nâng cao chất lượng của quá
trình hình thành KNDH môn Toán nói riêng cũng như KNDH nói chung cho
SV ngành GDTH .
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu những tài liệu liên quan
đến vấn đề nghiên cứu nhằm thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu lí luận của đề tài .
6.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Từ việc nghiên cứu lí luận, điều tra
thực trạng lấy đó làm cơ sở để xây dựng quy trình rèn luyện KNDH môn Toán
Vào những năm 1970 nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức lao động
khoa học và tối ưu hoá quá trình dạy học đã được tiến hành, như công trình của
M.Ia.Côvaliôv, Iu.Kbabanxki, N.I.Bondurev. Đáng chú ý hơn cả là công trình
nghiên cứu của X.I.Kixêgôv: “Hình thành KN, kĩ xảo sư phạm trong điều kiện
giáo dục đại học”. Tác giả nêu ra hơn 100 KN nghiệp vụ giảng dạy và giáo dục,
trong đó tập trung 50 KN cần thiết được phân chia luyện tập theo từng thời kì
thực hành, thực tập sư phạm cụ thể .
O.A.Abdoullina cũng đã luận chứng và đưa ra một hệ thống các KN giảng
dạy và KN giáo dục riêng biệt và được mô tả cụ thể theo thứ bậc.
9
Nhìn chung những công trình nghiên cứu nói trên đã đưa ra một hệ thống
lí luận tương đối cơ bản về quá trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm. Tuy nhiên,
thời đại ngày nay đã có nhiều thay đổi lớn, đặc biệt sự phát triển của khoa học
công nghệ đã làm thay đổi chức năng và nhiệm vụ của người GV, đòi hỏi người
GV phải có những KN và năng lực mới, đồng thời một số KN và năng lực cũ
không còn phù hợp nữa cần phải có sự cải tiến, bổ sung, thay đổi sao cho phù
hợp với điều kiện hiện tại. Do đó cần có sự nghiên cứu nghiêm túc hơn về
vấn đề này.
Ở một số nước phương Tây, các công trình nghiên cứu của
J.Watshon(1926), A.Pojoux(1926), F.Skinner(1963) đặc biệt quan tâm đến việc
tổ chức huấn luyện các KN thực hành giảng dạy cho giáo sinh, dựa trên những
thành tựu của tâm lí học hành vi và tâm lí học chức năng .
Tại trường đại học quốc gia Ohio của Mỹ từ những thập niên 1970 đã có
những nghiên cứu triển khai trong việc xây dựng các môdun đào tạo GV kĩ
thuật - nghề nghiệp. Kết quả đưa ra được 600 KN đào tạo GV kĩ thuật- nghề
nghiệp.
Trong các báo cáo ở: “Hội thảo về canh tân việc đào tạo bồi dưỡng GV
của các nước châu Á và Thái Bình Dương” do APEID thuộc UNESCO tổ chức
tại Seoul Hàn Quốc cũng đã xác định rõ tầm quan trọng của việc hình thành tri
thức và các KN sư phạm cho SV trong quá trình đào tạo.
Gần đây nhất trên các số báo của Tạp chí giáo dục đã đăng một số bài về
việc hình thành KNDH ở một số môn cho SV ngành GDTH. Cụ thể, môn Đạo
đức của tác giả Phạm Minh Hùng (số 136), môn Tập đọc của tác giả Lê Thanh
Bình (số145). Các tác giả đã đưa ra quy trình hình thành KHDH cho SV ngành
GDTH ở từng môn học cụ thể. Đó là một hệ thống thao tác liên tục với các
bước cụ thể .
11
Việc hình thành KNDH cho SV nói chung và SV ngành GDTH nói riêng
bước đầu đã được quan tâm và đề cập tới ở một số môn học (môn Tiếng Việt,
Đạo đức, Tự nhiên xã hội). Tuy nhiên, việc hình thành KNDH môn Toán cho
SV ngành GDTH thì chưa có tác giả và tài liệu nào đề cập tới .
1.2 KĨ NĂNG DẠY HỌC
1.2.1 Kĩ năng
1.2.1.1 Khái niệm về KN
Xem xét các công trình nghiên cứu từ trước đến nay, thông qua các khái
niệm chúng tôi thấy vẫn tồn tại hai quan niệm khác nhau đôi chút về KN .
Quan niệm 1: Coi KN là mặt kĩ thuật của một thao tác, hành động hay một
hoạt động nào đó. Muốn thực hiện được một hành động, cá nhân phải hiểu
được mục đích, phương thức và điều kiện để thực hiện nó. Vì vậy nếu ta nắm
được các tri thức về hành động, thực hiện nó trong thực tiễn theo các yêu cầu
khác nhau tức ta đã có KN về hành động. Theo V.A.Kruchexki thì: “KN là các
phương thức thực hiện hoạt động, những cái mà con người đã nắm vững”. Ông
cho rằng: Chỉ cần nắm vững phương thức của hành động là con người có KN,
không cần đến kết quả hoạt động của cá nhân [5,tr78]. Trong cuốn “Tâm lí học
cá nhân” .Côvaliôp.A.G cũng xem: “KN là phương thức thực hiện hành động
phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” [4,tr11] .
Khi bàn về KN, Trần Trọng Thuỷ cũng cho rằng: “KN là mặt kĩ thuật của
hành động. Con người nắm được cách thức hành động - tức kĩ thuật của hành
động là có KN” [22,tr2].
Quan niệm 2: Coi KN không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động mà
tính chính xác, tính thành thạo, tính linh hoạt và sự phối hợp nhịp nhàng các
động tác trong hành động. Hành động chưa thể trở thành KN nếu hành động đó
còn vụng về, còn tiêu tốn nhiều công sức và thời gian để triển khai .
13
1.2.1.2 Phân biệt KN và kĩ xảo.
Tuy có sự khác nhau đôi chút về định nghĩa, song hầu hết các nhà nghiên
cứu đều thống nhất: “Kỉ xảo là loại hành động được tự động hoá nhờ luyện tập.
Nó có đặc điểm: Không có sự kiểm soát thường xuyên của ý thức. Động tác
mang tính khái quát, không có động tác thừa, kết quả cao mà ít tốn năng lượng
thần kinh và bắp thịt”. [9,tr225]
Kĩ năng và kĩ xảo về bản chất đều là các thuộc tính kĩ thuật của hành động
cá nhân. Chúng đều được hình thành trên cơ sở các tri thức về hành động đã
được lĩnh hội và được triển khai trong thực tiễn. Tuy nhiên giữa KN và kĩ xảo
có nhiều điểm khác nhau. Sự khác nhau giữa chúng đựơc đặc trưng bởi mức độ
thuần thục, tự động hoá; bởi mức độ tham gia kiểm soát của ý thức trong quá
trình luyện tập cũng như vận hành trong thực tiễn; bởi cấu trúc và vai trò của
chúng trong quá trình hành động .
Thứ nhất so với KN, kĩ xảo thuần thục hơn, tự động hoá hơn và được giải
phóng khỏi sự kiểm soát của ý thức. Nói chung, để có kết quả cao trong hành
động mà cá nhân không bị “cộm” trong ý thức thì thao tác (với tư cách là
phương tiện) không chỉ dừng lại ở mức độ KN, nó phải vươn tới trình độ kĩ
xảo. Với tư cách đó, kĩ xảo có tính hoàn thiện cao hơn KN, được hình thành
trên cơ sở KN có trước .
Thứ hai, giữa KN và kĩ xảo có sự khác nhau về cấu trúc. Xét về mặt cấu
trúc KN nào cũng bao gồm ba thành phần :
- Tri thức về phương thức thực hiện các thao tác và hành động cấu thành
KN đó
- Mục đích tiến hành KN
Trên đây là các bước cơ bản đòi hỏi GV phải trải qua trong khi tiến hành
một bài dạy cụ thể. Tương ứng với mỗi bước trong cấu trúc của quy trình DH
sẽ có một hệ thống KNDH tương ứng. Chính vì vậy, đây cũng là một trong
những cơ sở để chúng tôi xây dựng hệ thống KNDH
1.2.3 Kĩ năng dạy học
1.2.3.1 Khái niệm KNDH
Trong luận án tiến sĩ của Nguyễn Như An có đưa ra định nghĩa: “ Kĩ năng
dạy học là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác phức
tạp của một hành động giảng dạy, bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri
thức, những cách thức và quy trình đúng đắn” . Tương tự như vậy trong luận án
tiến sĩ của mình tác giả Trần Anh Tuấn cũng đưa ra định nghĩa : “Kĩ năng dạy
học là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác phức hợp
của một hành động giảng dạy bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức
chuyên môn và nghiệp vụ cần thiết cho các tình huống dạy học xác định
[23,tr.71] .
Khi bàn về khái niệm KNDH tác giả Phạm Minh Hùng cho rằng: KNDH
là sự thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác phức tạp của
một hay nhiều hành động DH bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức,
những cách thức, những quy trình đúng đắn, đảm bảo cho hoạt động DH của
người GV đạt kết quả cao. [14,tr10 ]
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn của chúng tôi sử dụng khái niệm
KNDH theo định nghĩa của tác giả Phạm Minh Hùng .
1.3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành KNDH cho SV .
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành KNDH cho SV. Sau
đây chúng tôi sẽ trình bày một số yếu tố cơ bản nhất .
- Hệ thống tri thức là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành KN. Để
hình thành KNDH cho SV cần trang bị cho họ các loại tri thức như: Tri thức
16
chuyên môn; tri thức nghiệp vụ; tri thức về bản thân các KN như quy trình
tập luyện, các yêu cầu thao tác hành động.
lượng kiến thức mới cần tổ chức cho trẻ lĩnh hội. Đồng thời, thông qua quan sát
và kiểm tra có thể xây dựng được những biểu tượng đúng đắn về nhận thức của
mỗi HS, dự đoán được những thuận lợi và khó khăn cũng như sự căng thẳng
cần thiết của các em trong quá trình học tập.
Việc hình thành KN này cho SV trong quá trình đào tạo là rất khó. Trong
trường sư phạm, chỉ bước đầu định hình KN này cho SV mà thôi. Để có KN
hiểu học sinh, người GV phải trải qua rất nhiều kinh nghiệm trong hoạt động
nghề nghiệp .
1.2.4.2 Nhóm KN thiết kế kế hoạch dạy học .
Một đặc điểm quan trọng của của giáo dục nhà trường là tiến hành có mục
đích, có nội dung, có chương trình, có kế hoạch, có phương pháp…dưới sự chỉ
đạo của người GV. Do đó, người GV cần phải có KN xây dựng kế hoạch dạy học.
Nhóm KN thiết kế kế hoạch dạy học bao gồm hệ thống nhóm nhỏ KN sau:
- Nhóm KN phân tích chương trình: Phân tích mục đích yêu cầu của
chương trình bao gồm các yêu cầu tổng quát về tri thức, về KN, về thái độ .
- Nhóm KN lựa chọn phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học
- Nhóm KN thiết kế bài soạn: Xây dựng được cấu trúc các hoạt động dạy
học, dự kiến được nội dung các hoạt động của thầy và trò, dự kiến phân phối
thời gian, trình bày hoạt động học tập của HS theo mẫu giáo án hợp lí.
- Nhóm KN chuẩn bị bài lên lớp: Đòi hỏi GV nắm vững nội dung tri thức
của bài giảng. Có óc tưởng tượng sư phạm và dự kiến được các tình huống,
cách xử lí tình huống có thể xẩy ra trong tiết học.
Có thể hình thành nhóm KN này cho SV ngay từ năm thứ hai, thông qua
việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên. Chuẩn bị cho bước rèn luyện
18
cao hơn là kiến tập và thực tập sư phạm. Trong quá trình đào tạo trường sư phạm
có thể rèn luyện cho SV nhóm KN này ở mức thành thạo cơ bản.
1.2.4.3 Nhóm KN tổ chức thực hiện kế hoạch.
Việc tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục về cơ bản là hoạt
động chủ yếu của người GV, có tác dụng quyết định đối với chất lượng hiệu
sư phạm thường xuyên và trong quá trình kiến tập thực tập sư phạm. Trường
sư phạm có thể hình thành nhóm KN này cho hầu hết SV ở mức độ làm
được trở lên.
- Nhóm KN cũng cố, tóm tắt lại bài giảng, khắc sâu những vấn đề quan
trọng, những kiến thức trọng tâm, có thể thực hiện bằng các phương pháp như:
Phát vấn; cho HS làm bài tập; sử dụng mô hình hệ thống hoá bài học; đặt những
bài tập kiểu gài bẫy cho HS.
1.2.4.4 Nhóm KN kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy học.
GV phải có biện pháp kiểm tra đánh giá một cách khách quan, trung thực,
phản ánh đúng thực lực học tập và tu dưỡng của từng HS. Kiểm tra đánh giá
phải toàn diện, tức phải xem xét cả ba mặt của tri thức, KN và thái độ của HS.
Trong dạy học nhóm KN này bao gồm một số KN cụ thể sau :
- KN ra đề thi, kiểm tra.
- KN lập biểu điểm, đáp án rõ ràng, chính xác.
- KN tổ chức thi, kiểm tra. Vừa phải đảm bảo tính nghiêm túc vừa đảm
bảo không khí tự nhiên thoải mái cho HS làm bài.
- KN cho điểm và đánh giá .
- KN trả và chữa bài .
Đây là một trong những KN quan trọng trong quá trình dạy học. Tuy nhiên
việc rèn luyện KN này cho SV ở các trường sư phạm còn hạn chế, chủ yếu sau
20
khi ra trường trong quá trình công tác giảng dạy GV tự mò mẫm và học hỏi ở
các đồng nghiệp có kinh nghiệm.
1.2.5 Cấu trúc của KN dạy học
Cấu trúc là toàn bộ nói chung những quan hệ bên trong giữa các thành
phần tạo nên một chỉnh thể . [28,tr128]
Khi nói đến một cấu trúc bất kì là chúng ta nghĩ ngay đến các thành phần
tạo nên một chỉnh thể cũng như mối liên hệ giữa chúng .
Theo tác giả Phạm Minh Hùng, cấu trúc của KNDH là tập hợp các hành
động nhất định mà nguời GV cần thực hiện thành thạo trong quá trình dạy học .
hình thành cho SV một hệ thống thao tác, hành động đảm bảo cho việc dạy học
môn Toán ở tiểu học có hiệu quả cao nhất .
1.3. KN DẠY HỌC MÔN TOÁN
1.3.1 Môn Toán ở tiểu học
1.3.1.1 Mục tiêu
Dạy học môn Toán ở cấp Tiểu học nhằm đạt được những mục tiêu sau đây:
1. Giúp cho HS có những kiến thức cơ bản, ban đầu về số học, các số tự
nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học
và thống kê đơn giản.
2. Hình thành ở HS các KN tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng
dụng thiết thực trong đời sống.
3. Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí
và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện giải quyết vấn đề đơn giản gần gủi
trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp
phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa
học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
1.3.1.2 Đặc điểm môn Toán ở tiểu học
22
1. Chương trình môn Toán được xây dựng theo quan điểm tích hợp. Các
mạch kiến thức được sắp xếp xen kẻ và bổ trợ cho nhau trong đó nội dung số
học là mạch kiến thức cơ bản, nó chi phối và quyết định việc lựa chọn những
nội dung toán học ở các mạch kiến thức khác để dạy ở mỗi lớp.
2. Trọng tâm môn Toán ở tiểu học là số tự nhiên, số thập phân, các đại
lượng cơ bản, một số yếu tố hình học cùng những ứng dụng thiết thực của nó
trong tính và đo lường, giải bài toán có lời văn cùng với sự kết hợp trong thực
hành và ở dạng đơn giản của một số yếu tố thống kê . Cụ thể:
- Dạy học số học tập trung vào dạy học số tự nhiên và số thập phân. Số tự
nhiên được dạy thông qua các vòng số và nâng dần qua các lớp từ vòng số 10,
100, 1000…100 000. Ở vòng 10 học sinh làm quen với các con số và nhận biết
chúng, đồng thời làm quen luôn các khái niệm về “phép cộng” và “phép trừ”,
chúng); dung tích (lít); thể tích (cm
3,
dm
3
, m
3
và bảng đơn vị đo thể tích).
- Các kiến thức hình học được đưa vào chương trình toán cấp tiểu học bao
gồm các yếu tố hình học cơ bản và cần thiết: Điểm, đoạn thẳng, đường thẳng,
góc, đường gấp khúc, hình tròn, hình vuông, hình chử nhật, hình tam giác,
hình bình hành, hình thoi, hình thang, hình hộp chử nhật, hình lập phương,
hình cầu. Các kiến thức hình học được chọn lọc tinh giảm, sát đối tượng và
trình bày từ đơn giản đến phức tạp. Nội dung chủ yếu là giúp HS nhận biết
và vẽ được hình đã học đồng thời tính diện tích và chu vi của các hình, tính
được thể tích hình hộp chử nhật và hình lập phương. Tuy nhiên, các kiến thức
hình học không được trình bày theo từng chương riêng biệt mà được trình bày
rải rác suốt từ lớp 1 đến lớp 5, xen kẻ với các vòng số theo nguyên tắc đồng
tâm, kế thừa và phát triển.
- Nội dung giải toán có lời văn bao gồm những dạng toán cơ bản sau: Giải
bài toán bằng một phép cộng hoặc một phép trừ, chủ yếu là bài toán thêm bớt
một số đơn vị; bài toán đơn về phép cộng và phép trừ, về phép nhân và phép
chia; giải bài toán có đến hai bước phép tính với các mối quan hệ trực tiếp và
đơn giản; giải bài toán quy về đơn vị và các bài toán có nội dung hình học; giải
bài toán có ba bước phép tính, có sử dụng phân số; giải bài toán tìm hai số khi
biết tổng hoặc hiệu và tỉ số của chúng; tìm số trung bình cộng; tìm hai số khi
biết tổng và hiệu của chúng; giải bài toán về tỉ số phần phăm; các bài toán đơn
về chuyển động đều, chuyển động ngược chiều và cùng chiều.
24
- Yếu tố thống kê bắt đầu được dạy từ lớp 3 với những nội dung hết sức
cơ bản: Giới thiệu bảng số liệu đơn giản; tập sắp xếp bảng số liệu theo mục