Tài liệu Đề tài “Nghiên cứu sự nhận biết của người tiêu dùng đối với các sản phẩm thạch rau câu Poke” - Pdf 97


LUẬN VĂN
“Nghiên cứu sự nhận biết của
người tiêu dùng đối với các
sản phẩm thạch rau câu
Poke”
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Ph¹m Quang H−ng - 1 - líp marketing44b
Mục lục
Mục lục 1
Lời mở đầu 3
Phần một: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và
marketing hiện nay của công tyTNHH Việt Thành 5
I. Tổng quan về công ty TNHH Việt Thành 5
1. Quá trình phát triển của công ty TNHH Việt Thành 5
2. Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH Việt Thành 8
II. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 9
TNHH Việt Thành 9
1. Năng lực sản xuất chung của công ty 9
1.1. khả năng tài chính 9
1.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật lực lượng lao động 10
1.3. Lực lượng lao động 11
2. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong giai đoạn 2002-2005 12
III. Thực trạng hoạt động marketing của công ty TNHH Việt
Thành 14
1. Tổ chức bộ máy marketing của công ty 14
2. Tình hình xây dựng và thực hiện chiến lược marketing của công ty 16
3. Những hoạt động marketing của công ty 16

2.4. Xúc tiến hỗn hợp 49
Kết luận 51
Tài liệu tham khảo 52
Phụ lục

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Ph¹m Quang H−ng - 3 - líp marketing44b
Lời mở đầu

Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang
từng bước chuyển mình, phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Nhà nước
ta đã có xây dựng những cơ chế, chính sách phù hợp nhằm thu hút đầu tư
của các doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời cũng tạo ra những cơ hội thuận
lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam từng bước thích nghi với cơ chế thị
trường và phát triển. Điều này cũng dẫn đến việc để tồn tại và phát triển, các
doanh nghiệp phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, đặc biệt nhất đó là
phải đối đầu với một môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt với những biện
pháp canh tranh truyền thống dựa trên các yếu tố sản phẩm, giá cả, phân
phối và xúc tiến bán không còn hiệu quả như ngày xưa.
Cũng trong điều kiện hiện nay, thị trường Việt Nam cùng tràn ngập rất
nhiều sản phẩm với sự đa dạng và phong phú của từng chủng loại hàng hoá.
Điều đó tạo cho người tiêu dùng có những cơ hội lựa chọn những sản phẩm
mà mình ưa thích nhưng cũng tạo ra cho các doanh nghiệp những khó khăn
nhất định trong quá trình đưa sản phẩm của mình đến tay người tiêu dùng.
Mặt khác, do thu nhập ngày càng tăng lên dẫn đến việc mức sống của
người dân cũng tăng lên. Và điều này là cho người tiêu dùng hiện nay có
những đòi hỏi rất khắt khe về các sản phẩm, ngoài chất lượng, bao bì mẫu
mã ra, người tiêu dùng còn có những đòi hỏi về các sản phẩm phụ thêm cho
sản phẩm, các dịch vụ giá trị gia tăng…
Đối với công ty TNHH Việt Thành cùng vậy. Hiện nay công ty đang

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Ph¹m Quang H−ng - 5 - líp marketing44b

Phần một
: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
và marketing hiện nay của công tyTNHH Việt Thành

I. Tổng quan về công ty TNHH Việt Thành
1. Quá trình phát triển của công ty TNHH Việt Thành
Vào những năm 90 của thế kỷ XX, nền kinh tế thị trường tại Việt Nam
đang chuyển biến tích cực, tác động mạnh mẽ và làm thay đổi đến tập tính
và thói quen kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Cùng với đó là
việc các hãng kinh doanh lớn danh tiếng trên thế giới về thực phẩm, hoá mỹ
phẩm, công nghiệp đã ồ ạt đưa hàng hoá của mình xâm nhập vào thị
trường nước ta như: bia Tiger, nước giải khát Coca Cola, Pepsi, hoá mỹ
phẩm của hãng P&G, Unilever, ôtô Toyota xe máy SYM, dầu nhờn
Castro, Sell
Cùng với sự hội nhập này cũng đã mở ra những cơ hội kinh doanh mới
cho một số doanh nghiệp Việt Nam như hợp tác cùng làm ăn, tham gia vào
hệ thống phân phối của các hãng nước ngoài với những chính sách hấp dẫn
và nhất là học hỏi được những phương cách kinh doanh hiện đại của những
công ty, doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới.
Nhận thức được vấn đề đó, công ty TNHH Việt Thành đã ra đời vào
năm 1995 (được sự hợp thành bởi các công ty: công ty Foreheads- tiếp thị
thể thao, công ty TNHH luật Hà Nội- dịch vụ tư vấn luật và FDI, và công ty
Hoàng Vân-hạ tầng cơ sở, bất động sản và thiết bị y tế) với loại hình là công
ty TNHH một thành viên-một loại hình công ty vừa và nhỏ đang phổ biến

Với những sản phẩm này, công ty đã từng bước xây dựng được cho
mình hình ảnh của một công ty phân phối hàng hoá chuyên nghiệp tại khu
vực Hà Nội. Đây cũng là giai đoạn công ty lấy làm bàn đạp để hướng tới
chiến lược phát triển của mình trong giai đoạn 5 năm tiếp theo: 2001-2006.
Trong thời kỳ 5 năm lần thứ 2 này, công ty đã sàng lọc ra một số mặt hàng
thế mạnh để tiếp tục làm đại lý phân phối tại Hà Nội, đồng thời tiếp tục phát
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Ph¹m Quang H−ng - 7 - líp marketing44b
triển thêm một số mặt hàng nhập khẩu khác, nhằm tạo dựng một hệ thống
kênh phân phối mạnh trên toàn quốc. Vì lẽ đó công ty đã chọn mặt hàng kem
Wall làm lợi thế phân phối tại thị trường Hà Nội, và vào tháng 1/ 2002, công
ty đã trở thành nhà phân phối độc quyền sản phẩm thạch rau câu ABC của
Đài Loan tại Việt Nam. Cũng vào n ăm 2002, công ty đã khai trương nhãn
hiệu kem Coolteen với 2 cửa hàng tại hồ tây trên đường Phan Đình Phùng.
Năm 2004, công ty được ký hợp đồng phân phối độc quyền thương hiệu
bánh Gerry của Indonexia tại Việt Nam và công ty đã giới thiệu thành công
sản phẩm này vào dịp tết 2005.
Bên cạnh việc phát triển phân phối hàng hoá, công ty cũng đặt ra mục
tiêu xây dựng một số thương hiệu sản phẩm của Việt Nam, trực tiếp sản xuất
tại Việt Nam, nhằm phục vụ một số đoạn thị trường tiêu dùng mà sản phẩm
nhập khẩu không đáp ứng được về giá cả. Chính vì thế công ty đã và đang
tiếp tục nghiên cứu phát triển sản xuất một số thương hiệu sản phẩm mới
như: thạch nước rau câu Newjoy, bánh kem chấm socola ROMROP. Hiện
nay công ty vừa nghiên cứu và đưa ra thị trường sản phẩm mới là thạch rau
câu Hugo-sản phẩm này mang tên một nhân vật hoạt hình mà trẻ em yêu
thích- nhân vật Hugo trong chương trình “Hugo và các bạn” trên kênh
truyền hình Hà Nội.
Từ thực tiễn kinh doanh quan nhiều thời kỳ như vậy, công ty đã từng
bước xây dựng được hình ảnh của mình không chỉ trên thị trường Hà Nội mà
đã mở rộng mạng lưới đại lý phân phối ra trên khắp thị trường miền Bắc,

nhân sự
Phòng
Kế toán
Phòng Hỗ trợ
thương hiệu
Thức ăn
VTC
Dịch vụ
ăn uống
Chuỗi
cung ứng

Quản lý bán
hng khu
vực
Các quản lý
bán hng
theo kênh
Quản lý bộ
phận nhóm
Giám sát

bộ những công việc liên quan đến tài chính, kế toán trong toàn bộ công ty.
Phòng hỗ trợ thương hiệu: có nhiệm vụ điều hành giải quyết các vấn đề
có liên quan đến tình hình hoạt động của các thương hiệu của công ty trên
các khu vực thị trường.
Phòng tổ chức nhân sự: có nhiệm vụ điều hành, quản lý nguồn lao động
của công ty.
Ngoài ra, các nhân viên quản lý, giám sát khác cùng tất cả các nhân
viên sản xuất, tiêu thụ của công ty đều phải có trách nhiệm hoàn thành tốt
những công việc được giao đồng thời cũng được tạo điều kiện để phát huy
tính sáng tạo của mình trong quá trình thực hiện công việc.
II. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
TNHH Việt Thành
1. Năng lực sản xuất của công ty TNHH Việt Thành
Công ty TNHH Việt Thành là một doanh nghiệp vừa và nhỏ nên để tồn
tại và phát triển, công ty phải dựa vào những nền tảng kinh doanh sẵn có để
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Ph¹m Quang H−ng - 10 - líp marketing44b
phát triển ngành hàng, từ đó làm cơ sở cho việc phát triển quy mô lớn sau
này. Trải qua gần 10 năm hoạt động, công ty đã từng bước tạo cho mình một
nền tảng kinh doanh vững chắc cả về tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, lực
lượng lao động
1.1. Khả năng tài chính
Tình hình tài chính của công ty được thể hiện qua bảng dữ liệu dưới đây:
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Ph¹m Quang H−ng - 11 - líp marketing44b
Bảng 2: Báo cáo tình hình tài chính của công ty TNHH Việt Thành
Đơn vị: triệu đồng
STT Các chỉ tiêu Năm 2005
1 Tổng số vốn 4000
2 Tài sản cố định 1500

STT Các loại tài sản cố định Giá trị
1 Tổng nguyên giá TSCĐ
Trong đó:
- nhà cửa vật tư kiến trúc
- máy móc thiết bị cho SXKD
- phương tiện vận tải truyền dẫn
- thiết bị dụng cụ dùng cho quản lý
- quyền sử dụng đất
- chi phi thành lập chuẩn bị SXKD
- tài sản cố định khác
1500

300
700
300
100

50
50
2 Đã khấu hao 800
3 Giá trị còn lại 700
Nguồn : phòng tài chính kế toán
Nhìn vào bảng số liệu ta có thể thấy cơ cấu tài sản cố định sẽ tăng về
những năm sau( thời gian còn khấu hao là 2 năm). Điều này sẽ không có lợi
cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh vì những năm cuối sẽ phải chịu
giá trị khấu hao lớn hơn, dẫn đến việc làm tăng giá thành sản phẩm, điều này
không có lợi cho doanh nghiệp trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp
khác. Mặt khác, khi khấu hao tăng lên sẽ làm cho giá thành đơn vị sản phẩm
tăng lên, và vì thế sẽ làm cho lợi tức gộp của doanh nghiệp giảm xuống. Tuy
nhiên việc chịu phần giá trị khấu hao nhiều cũng góp phần làm đòn bẩy để

công ty là lực lượng bán hàng. So với những năm trước thì lượng lao động
của công ty đã tăng lên tương đối, điều đó cho thấy công ty đã phát triển, mở
rộng sản xuất và kinh doanh. Để đáp ứng nhu cầu và chiến lược mới, công ty
đã quyết định tăng cường thêm lực lượng lao động của mình trong thời gian
sắp tới. Mặt khác, với lực lượng quản lý có trình độ, năng lực và nhiệt tình,
năng động, luôn tự đổi mới để phù hợp với yêu cầu khách quan, công ty hy
vọng sẽ có được những thành công mới trong giai đoạn sắp tới.
2. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong giai đoạn
2002-2005
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Ph¹m Quang H−ng - 14 - líp marketing44b
Để hiểu rõ hơn về thực trạng hoạt động của công ty TNHH Việt Thành
trong thời gian gần đây, chúng ta tiến hành phân tích một số chỉ tiêu tài
chính của công ty. Có thể nói giai đoạn 2002-2005 là giai đoạn phát triển
mạnh mẽ của công ty, doanh thu qua các năm liên tục tăng. Cụ thể là năm
2003 tăng so với năm 2002 là 2000 triệu đồng( tăng 10%), năm 2004 tăng so
với năm 2003 là 3000 triệu đồng( tăng 13.6%), và năm 2005 tăng so với
năm 2004 là 5000 triệu đồng(tăng 20%).
Bảng 5: Kết quả hoạt đông kinh doanh của công ty TNHH Việt Thành
trong giai đoạn 2002-2005
Đơn vị: triệu đồng
Năm
STT Các chỉ tiêu
2002 2003 2004 2005
1 Tổng doanh thu 20000 22000 25000 30000
2 Các khoản giảm trừ 1000 1100 1250 1500
3 Doanh thu thuần 19000 20900 23750 28500
4 Lợi tức gộp 7000 7700 8750 10500
5 Chi phí bán hàng 5000 5500 6250 7500
6 Chi phí quản lý 1000 1100 1250 1500

ngoài
600 660 750 900
5 Chi phí khác bằng tiền 360 396 450 540
Nguồn: phòng kế toán tài chính
Qua bảng số liệu này ta có thể thấy tất cả các chi phí của công ty đều
tăng lên, đó là do trong giai đoạn này công ty đã mở rộng sản xuất và các
mặt hàng kinh doanh, do đó cần đầu tư thêm các trang thiết bị, nhân lực
III. Thực trạng hoạt động marketing của công ty TNHH Việt
Thành
1. Thực trạng tổ chức bộ máy thực hiện marketing của công ty
Công ty TNHH Việt Thành là một doanh nghiệp vừa và nhỏ cho nên
công ty chưa có đủ khả năng tổ chức một phòng marketing riêng biệt. Mặt
khác, công ty cũng chưa có đủ điều kiện để tổ chức xây dựng một lực lượng
làm marketing riêng. Chính vì thế cho nên các hoạt động marketing cuả
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
công ty vẫn được tiến hành nhưng cũng như phần nhiều các công ty khác ở
Việt Nam hiện nay, đó là việc tổ chức các hoạt động marketing dựa vào bộ
máy tổ chức của công ty. Điều đó có nghĩa là các nhân viên cấp dưới sẽ đề
xuất các chiến lược, kế hoạch marketing cho giám đốc, quản lý xem xét.
Nừu chiến lược đó được phê duyệt thì giám đốc sẽ chuyển xuống cho các
nhân viên dưới quyền triển khai kế hoạch, chiến lược đó.
Mặt khác, việc thực hiện các chiến lược, kế hoạch marketing của công
ty luôn được thống nhất từ trên xuống và luôn có sự phối kết hợp giữa các
bộ phận với nhau. Do đó các chiến lược, kế hoạch marketing luôn được công
ty triển khai một cách có hiệu quả nhất.
Ngoài ra, bộ máy bán hàng của công ty cũng là một bộ phận quan trọng
trong việc thực hiện các chính sách marketing của công ty.
Bảng 7: Sơ đồ tổ chức đơn vị kinh doanh của công ty

VTC thức ăn


hía Bắc
p
hía Nam
p

Các đại lý
bán hng
khu v
Các đại lý
bán hng
Các đại lý
bán hng
khu v
Các trung
tâm phân
hối


p
c c
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Ph¹m Quang H−ng - 17 - líp marketing44b
Nguồn: phòng tổ chức nhân sự

3. Những hoạt động marketing của công ty
Trong giai đoạn vừa qua, để có được những thành công như hiện nay,
công ty đã thực hiện rất nhiều công việc, và đặc biệt là những hoạt động
marketing của công ty đã đem lại những hiệu quả rất lớn, phục vụ cho quá
trình hoạt động kinh doanh của công ty ngày một tốt hơn.
Với tích chất sản phẩm là thực phẩm ăn liền mà hiện nay công ty đang
kinh doanh và sản xuất thì nhóm khách hàng mà công ty hướng tới là thanh
thiếu niên, phụ nữ và đặc biệt là trẻ em, do đó những sản phẩm của công ty
luôn được cải tiến chất lượng và mẫu mã, bao bì để tăng khả năng tiêu thụ,
đồng thời cũng để phù hợp với những xu thế chung của thị trường. Đối với
những sản phẩm công ty tự sản xuất thì trước khi sản xuất công ty cũng nhập
các sản phẩm đã có thương hiệu của nước ngoài về để phân phối, sau đó mới
sản xuất ở trong nước với một sản phẩm mang một thương hiệu khác.
Công tác sản phẩm luôn được công ty, nhất là ban lãnh đạo rất quan
tâm. Các quyết định về các chính sách sản phẩm luôn được công ty đem ra
bàn luận một cách nghiêm túc. Công ty luôn tìn tòi, nghiên cứu để cho ra
những sản phẩm mới lạ cả về các thành phần nguyên liệu lẫn mẫu mã và
cách đóng gói sản phẩm.
Hiện nay công ty có khoảng 10 mặt hàng, trong đó chủ yếu là các sản
phẩm thạch như Poke, JOY, Hugo. Ngoài ra công ty còn có các sản phẩm
khác như nước rau câu Poke, thạch sữa chua, bánh chấm Gery, bánh chấm
ROMROP…Đối với mỗi loại sản phẩm, công ty đều có những chiến lược đa
đạng hoá sản phẩm, mỗi loại sản phẩm đều có những chủng loại khác nhau,
có sản phẩm túi, có sản phẩm hũ. Trong mỗi loại lại có những hình thức, bao
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Ph¹m Quang H−ng - 19 - líp marketing44b
bì khác nhau…để khách hành có thể có những lựa chọn khác nhau tuỳ theo
những sở thích khác nhau của mình. Đồng thời mỗi loại sản phẩm cũng đều
có những hương vị khác nhau, đáp ứng nhiều loại nhu cầu của những khách
hàng khác nhau. Ngoài ra công ty cũng sản xuất được những mặt hàng mà

đoạn sản xuất nhằm tăng tính chủ động, tránh lãng phí…từ đó công ty đã
giảm được phần nào những chi phí cho sản xuất cũng như cho quản lý, giúp
cho việc giảm giá thành đơn vị sản xuất xuống và đồng thời tăng phần lợi
nhuận của công ty lên. Và để thuận lợi cho việc đưa hàng hoá ra thị trường
thì công ty cũng đã có những chính sách giá khác nhau đối với các đại lý,
các cửa hàng và các trung tâm mua hàng nhiều của công ty.
Về phân phối, công ty có một mạng lưới phân phối ở tất cả các tỉnh của
đất nước. Các sản phẩm của công ty có mặt ở hầu hết mọi nơi, mọi khu vực
thị trường. Đối với những trung tâm thương mại, những siêu thị thì sản
phẩm của công ty đã có mặt ở tất cả các trung tâm lớn trên cả nước. Đối với
những trung tâm này, công ty trực tiếp quản lý tình hình, hoạt động tiêu thụ
ở đây vì đây là những nơi mang lại nguồn thu cố định cho công ty. Ngoài
những trung tâm, siêu thị ra thì công ty còn thành lập ba trung tâm bán hàng
ở ba miền của đất nước, đó là các trung tâm ở Hà Nội, Đà Nẵng và ở thành
phố Hồ Chí Minh. Những trung tâm này cũng chịu sự quản lý trực tiếp của
công ty. Đồng thời công ty cũng đã xây dựng cho mình một loạt các nhà
phân phối chính thức của công ty tại các tỉnh như: Hải Phòng, Nam Định,
Thanh Hoá, Vinh, Hải Dương, Việt Trì, Thái Nguyên, Huế… và một loạt hệ
thống các đại lý phân phối cấp I của mình ở các tỉnh như: Yên Bái, Vĩnh
Yên, Hoà Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng
Nai, Vũng Tàu, Cần Thơ…Tại mỗi nhà phân phối đều có các đại diện mại
vụ của công ty thường trực ở đó. Ngoài ra các chi nhánh cũng được hỗ trợ
với các hỗ trợ viên tiếp thị thương mại cùng công tác với các nhà quản lý
theo những nguyên tắc nhất định. Các thiết bị và việc phân phối hàng hoá
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Ph¹m Quang H−ng - 21 - líp marketing44b
đều được quản lý trực tiếp bởi các trung tâm phân phối của công ty trong các
thị trường tiêu thụ chính và chịu sự giám sát giám tiếp bởi các nhà phân phối
khu vực. Chính công tác quản lý và hoạt động như vậy đã dần giúp công ty
trở thành một nhà phân phối lớn mạnh, có mạng lưới phân phối hàng hoá

lấy thông tin, làm cơ sở cho việc ra những quyết định của công ty tại từng
thời điểm. Điều này có thể được giải thích là do công ty TNHH Việt Thành
vẫn là một công ty nhỏ, ngân sách chưa đủ lớn để có những cuộc nghiên cứu
có quy mô.
4. Những đánh giá chung về môi trường kinh doanh công ty hiện đang
phải đối mặt
Công ty TNHH Việt Thành là một doanh nghiệp vừa và nhỏ, mức độ
đầu tư của công ty chưa lớn lắm cho nên môi trường vĩ mô chưa có những
tác động, ảnh hưởng nhiều đến các hoạt đông sản xuất kinh doanh của công
ty. Hiện nay, công ty chịu tác động rất nhiều từ những yếu tố của môi trường
vi mô. Những yếu tố này thường xuyên thay đổi và tác động trực tiếp đến
các kết quả hoạt động kinh doanh của công ty.
Với tính chất của sản phẩm mà hiện nay công ty đang sản xuất và kinh
doanh là thực phẩm ăn liền cho nên nhóm khách hàng mà công ty hướng tới
chủ yếu là tầng lớp thanh thiếu niên, phụ nữ và trẻ em, trong đó khách hàng
mục tiêu mà công ty hướng tới là trẻ em. Mặt khác, do phong tục tập quán
và những nét văn hoá riêng của người Việt Nam cùng với những quy định
của pháp luật cho nên những chương trình quảng cáo của công ty tới khách
hàng mục tiêu của mình bị hạn chế đi rất nhiều, từ đó làm cho kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty cũng chưa đạt được hiệu quả như
mong muốn.
Một yếu tố nữa của môi trường vi mô tác động mạnh mẽ đến các hoạt
động của công ty đó chính là tình hình cạnh tranh trên thị trường hiện nay.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Ph¹m Quang H−ng - 23 - líp marketing44b
Do đặc điểm của ngành hàng sản xuất mà công ty hiện đang tham gia là
ngành sản xuất hàng tiêu dùng cho nên trình độ máy móc công nghệ để tham
gia sản xuất là không nhiều, không đặc biệt, nhiều doanh nghiệp có thể đầu
tư sản xuất được. Vì thế trên thị trường hiện nay công ty có rất nhiều các đối
thủ cạnh tranh, từ đó làm cho các khu vực thị trường của công ty ngày một
Phần hai: Chương trình nghiên cứu nhằm đánh giá sự
nhận biết của người tiêu dùng đối với các sản phẩm
thạch rau câu Poke
I. Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu
1. Xác định vấn đề nghiên cứu
Khi đề cập đến vấn đề nghiên cứu của một cuộc nghiên cứu marketing,
có nghĩa là chúng ta bàn đến chủ đề hay đề tài của một cuộc nghiên cứu hay
nói cách khác là đề cập đến khả năng quản lý của nó. Vấn đề nghiên cứu ở
đây không chỉ được xem xét trên khía cạnh là nó có đúng đắn, chính xác, rõ
ràng và cần thiết hay không mà nó còn được xem xét trên phạm vi của nó
như thế nào.
Để lựa chọn được những vấn đề nghiên cứu thật sự thích hợp cho một
cuộc nghiên cứu marketing cụ thể thị thường người ta phải tính đến các yếu
tố là khả năng ngân sách dự định dành cho cuộc nghiên cứu đó, thời gian để
tiến hành nghiên cứu, trình độ, khả năng của những người tiến hành nghiên
cứu và cuối cùng là khả năng có được những thông tin cần thiết có liên quan
đến việc nghiên cứu.

Trích đoạn Xỏc định vấn đề và mục tiờu nghiờn cứu Thiết kế dự ỏn nghiờn cứu chớnh thức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status