Tài liệu Đặc điểm của lời đố trong câu đố người Việt - Pdf 97

Đặc điểm của lời đố trong câu đố người Việt
TRIỀU NGUYÊN

I. Câu đố gồm hai bộ phận: vật đố và lời đố. Mỗi bộ phận có các đặc điểm riêng. Bài viết
này xem xét đặc điểm của lời đố, trên cơ sở 2000 câu đố người Việt được khảo sát .
Lời đố là một văn bản bằng văn vần, nhằm thể hiện vật đố theo bốn phương thức: tả thực,
chuyển trường, chơi chữ và tá ý.

II. Lời đố xét về nội dung và đặt trong quan hệ với vật đố, có hai đặc điểm nổi bật, đó là
tính xác thực và tính lạ hoá.
1. Tính xác thực của lời đố
A. Lời đố, trong quan hệ với vật đố, phải xác thực, hợp lẽ. Những chi tiết được nêu trong
lời đố là những cơ sở để suy ra vật đố. Không phải các đặc điểm của vật đố (hình dáng,
cách tác động, công dụng, ) đều được lời đố nêu hết, mà chỉ một vài chi tiết trong số
chúng được lựa chọn. Nhưng khi đã nêu, thì các chi tiết ấy phải tương ứng một cách xác
thực với vật đố (tức thông tin chứa đựng trong lời đố, so với vật đố, có thể thiếu chứ
không được thừa, và chúng đều hợp lẽ).

B. Tính xác thực của lời đố được thể hiện qua các yếu tố hướng đến vật đố: 1) Yếu tố chỉ
định tổng loại, đó là cái (hay con, cây, ) gì; 2) Yếu tố chỉ nơi chốn sinh thành, hay phát
huy tác dụng; 3) Yếu tố chỉ thời gian phát sinh, phát triển; 4) Yếu tố chỉ công dụng, chức
năng; 5) Yếu tố miêu tả vóc dáng, tính chất, hoạt động.
a. Yếu tố chỉ định tổng loại, đó là cái (hay con, cây, ) gì
Yếu tố chỉ định tổng loại thường đặt ở đầu (có khi nằm cuối) lời đố, khiến lời đố trở
thành một câu hỏi. Thí dụ:
- “Cái gì dạo phố dưới xuân,
Đi đầu xuống đất, chọc chân lên trời ?” (cái đinh giày);
- “Con gì vỗ cánh bay nhanh,
Không đẻ trứng lại đẻ thành con ngay?” (con dơi);
-
“Cây gì đông héo, hè tươi,

Nằm nghiêng trong bụi” (rau má);
- “Quê em ở chốn ao tù,
Vượt qua mặt nước, võng dù thấp cao;
Đến ngày mở mắt ra chào,
Soi gương mới biết tự hào tốt tươi” (cây sen);
- “Bằng con bò, nằm co giữa ruộng” (cái mả);
- “Cây bên đông có bông không trái,
Cây giữa đường cái, có trái không hoa,
Cây ở trong nhà, có hoa không quả” (cây lau, cây đa, cây đèn).
Yếu tố nơi chốn có thể được dùng kết hợp để cùng xác định vật đố; chẳng hạn:
- “Mình tròn trùn trụn,
Răng nhọn như chông.
Trong nhà ngồi không,
Ra ngoài đồng nhảy chôm chổm” (cái nơm);
- “Vốn nó thì ở rừng xanh,
Đem về hạ bạn kết thành một đôi;
Ra đường kẻ trước người sau,
Về nhà thì ấp lấy nhau mà nằm” (đôi quang);
- “Mình như quả cà sứt tai,
Đàng Trong thì có, Đàng Ngoài thì không” (bánh trôi);
- “Cái trống mà thủng hai đầu,
Bên ta thì có, bên Tàu thì không” (cái váy).

c. Yếu tố chỉ thời gian phát sinh, phát triển
Thời gian phát sinh, phát triển của vật đố được lời đố thể hiện theo trình tự, xác thực. Thí
dụ:
- “Khi nhỏ, em mặc áo xanh,
Khi lớn bằng anh, em thay áo đỏ” (quả ớt)
(quả ớt khi non có màu xanh, khi chín có màu đỏ);
- “Con gì,

Khỏi trần truồng như nhộng” (khung cửi);
- “Có chân mà chẳng biết đi,
Có mặt phẳng lì cho kẻ ngồi trên” (cái ghế);
- “Mặt như cái thớt, mình như cái mai;
Cái răng khấp khiểng, cái tai thẳng đờ.
Khi bài phú, khi ngâm thơ,
Khi cúng ông nọ, khi thờ bà kia” (cây đàn nguyệt);
e. Yếu tố miêu tả vóc dáng, tính chất, hoạt động
Miêu tả vóc dáng, tính chất, hoạt động của vật đố có thể xem là yêu cầu cơ bản của lời
đố. Các chi tiết được miêu tả tương ứng với các chi tiết của vật đố. Thí dụ:
- “Bằng trái cau,
Lau chau đi trước” (ngón chân cái);
- “Cây lum tum, lá loe toe,
Mùa đông úp lại, mùa hè nở ra” (cây sen);
- “Lá xanh, cành đỏ, hoa vàng,
Hạt đen, rễ trắng; đố chàng cây chi?” (rau sam);
- “Con gì cánh mỏng, đuôi dài,
Lúc bay lúc đậu cánh thời đều giương?” (con chuồn chuồn);
- “Không ăn mà mổ cuống cuồng,
Mệt nhoài đứng chống, ra tuồng dửng dưng” (cái chày đạp giã gạo);
- “Cây khô mà nở được hoa,
Đậu được một quả, khi già khi non” (cái cân xách);
- “Chặt không đứt,
Bứt không rời,
Phơi không khô,
Chụm không đỏ” (nước);
C. Tính xác thực của lời đố cũng được thể hiện qua một số câu đố có lời giải là sự vật
sóng đôi, sóng ba. Ở trường hợp này, lời đố vừa thể hiện sự chung cùng giữa chúng trong
tổng thể, đồng thời cũng có những phân định trong việc miêu tả sao cho tương ứng với
từng sự vật riêng lẻ.

Ai bảo cái bừa,
Xin thưa đúng mà chưa đúng!” (cái cào cỏ);
-“Xung quanh là nước mênh mông,
Tự nhiên ở giữa nhô lên một hòn;
Dạng hình giống núi giống non,
Không gọi non, núi, đố hòn gì đây?” (hòn đảo);
- “Đá bên đá, nước chảy ra,
Rì rào róc rách khúc ca nhạc rừng;
Gọi sông, gọi suối: xin đừng!
Đố các bạn, đố em cưng, gọi gì?” (con khe);
2. Tính lạ hoá của lời đố
Tính lạ hoá được thể hiện ở sự phong phú, đa dạng của các lời đố khác nhau về cùng một
vật đố, và sự khác thường của hình ảnh, của cấu tạo ngữ pháp ở một lời đố.
A. Có nhiều sự vật trở thành vật đố của một loạt các lời đố khác nhau. Chẳng hạn, có 16
câu đố về cua, ghẹ, 15 câu đố về cái cối xay lúa, 14 câu đố về quả ngô, 13 câu đố về mặt
trăng, 12 câu đố về con trâu, 11 câu đố về cái ống điếu,
Sự vật trong trường hợp này được biểu hiện bằng nhiều góc nhìn khác nhau, nên đường
nét về vóc dáng và cả sự bình giá cũng khác biệt.
Dưới đây là một số trích dẫn:
+ Một số lời đố về con cua, ghẹ:
- “Tám sào chống cạn,
Hai nạng chống xiên,
Con mắt láo liên;
Cái đầu không có!”;
- “Tám thằng dân vần cục đá tảng,
Hai ông xã xách nạng chạy theo”;
- “Lạ lùng là lạ lùng thay,
Nằm ngủ ban ngày để lạ lùng ra.
Lạ lùng có mỏ đề ra,
Câu lơn câu tiện có nhà ngói xanh.

Dưới thời yếm thắm, dây vàng xum xoe.
Thần linh đã gọi thì về,
Ngồi trên mâm ngọc, gươm kề sau lưng”;

+ Một vài lời đố về chiếc nón:
- “Nắng lửa mưa dầu ta không bỏ bạn,
Tối lửa tắt đèn bạn lại bỏ ta”;
- “Không phải gàu mà dùng để tát,
Không phải quạt cũng để giải nồng,
Không phải nong mà dùng để đựng,
Không phải mũ cũng để đội đầu”;
+ Một vài lời đố về cây hương:
- “Chân đỏ mình đen,
Đầu đội hoa sen,
Lên chầu Thượng đế”;
- “Hai người xưa ở hai non,
Bây giờ họp lại như con một nhà,
Kẻ làm xương, người làm da,
Phép linh biến hoá còn là một chân”;
B. Ở trên là sự lạ hoá xét từ mối quan hệ giữa các lời đố với cùng một vật đố. Tất nhiên,
không phải bất kì một sự vật, hiện tượng nào khi trở thành vật đố đều có nhiều lời đố, do
vậy mà đặc điểm lạ hoá cần được xét từ cấu tạo của lời đố. Ở đó, tính lạ hoá được thể
hiện bằng những miêu tả khác thường, chúng tạo nên những hình ảnh kì dị so với thế giới
hiện thực; đồng thời, cũng được thể hiện bởi những kết hợp không bình thường về mặt
ngữ pháp.

a. Tính lạ hoá được thể hiện bằng những miêu tả khác thường, tạo nên những hình ảnh kì
dị:
- “Vừa bằng thằng bé lên ba,
Thắt lưng con cón chạy ra ngoài đồng” (bó mạ);

- “Con chi:
Đánh thắng ông vua,
Đánh thua thầy chùa?” (con chấy)
(Đầu vua có tóc như người bình thường, nên chấy bám được; đầu thầy chùa nhẵn bóng,
chấy phải “thua”);
- �Con đánh mẹ,
Mẹ van làng;
Đến khi làng ra,
Con chui bụng mẹ!” (cái dùi và cái mõ)
(Loại mõ để rao làng, bằng gốc hay gióng tre, dùi có thể bỏ được vào bên trong);
- “Trâu ăn trên đỉnh, trâu no,
Bò ăn dưới đỉnh, bò đói,
Nước chảy quanh suối,
Trâu đói bò no” (cối xay bột)
(Dòng 1 chỉ thớt trên, dòng 2 chỉ thớt dưới. Thoạt đầu, thớt trên đầy vật đem xay: “trâu
no”, thớt dưới không có gì: “bò đói”; xay một hồi, thớt trên hết vật đem xay: “trâu đói”,
trong lúc thớt dưới lại tràn đầy: “bò no”); .
b. Tính lạ hoá còn được thể hiện hiện bởi những kết hợp không bình thường về mặt ngữ
pháp, thường gặp là sự đánh lẫn đối tượng ở vai chủ thể của một hành động. Thí dụ:
- “Đi thì nằm, nằm thì đứng” (bàn chân)
(Đã đi thì không thể nằm, cũng như đã nằm thì không thể đứng. Nhưng ở đây, chủ thể
của “đi” và “nằm2” là người, chủ thể của “nằm1” và “đứng” là bàn chân (và “nằm1” là
có bề mặt tiếp xúc lớn nhất theo phương song song với mặt đất – “đứng” thì ngược lại, có
bề mặt tiếp xúc bé theo phương thẳng góc với mặt đất - khác với “nằm2” là ngả thân
mình trên một vật nào đó, thường để nghỉ), nên lại có thể. Điều tạo nên sự không thể lẫn
có thể bất thường này, chính là kiểu câu: X thì Y, X thì Y - với chủ thể của X, X khác
với chủ thể của Y, Y , và X trái nghĩa với X , Y trái nghĩa với Y ).
- “Mặc áo xanh, đội nón xanh;
Đi quanh một vòng,
Mặc áo trắng, đội nón trắng!” (quả cau khi róc vỏ)

Những trích dẫn câu đố ở đây nhằm trình bày các hình ảnh khác thường để minh hoạ cho đặc điểm lạ hoá
được nêu. Còn cơ chế, cách thức tạo ra loại hình ảnh này, người viết sẽ trình bày trong một bài viết khác.

Trong trường hợp này, là trái nghĩa ngữ cảnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status