Tài liệu Đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác xuất khẩu tại Công Ty Dệt Hải Phòng ” - Pdf 97

“Một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả trong công tác xuất khẩu tại
Công Ty Dệt Hải Phòng ”



Trang1
Phần Một Lời nói đầu

Một trong những lĩnh vực không thể thiếu giúp cho nền kinh tế có được
một tốc độ phát triển nhanh và ổn định đó là phát triển ngành sản xuất công
nghiệp. Việt Nam với nền tảng phát triển là một nền nông nghiệp lạc hậu, cơ sở
hạ rong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đã buộc chúng ta phải đẩy
nhanh tốc độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất tầng thấp kém, cộng thêm áp
lực dân số thì những ngành có hàn lượng khoa học kỹ thuật thấp như ngành
công nghiệp nhẹ trong công nghiệp chế biến mà đặc biệt là công nghiệp dệt
may.
Thực tế trong những năm vừa qua, đã khảng định vị thế của ngành Dệt
may Việt Nam, là một trong những ngành xuất khẩu mang lại nguồn thu ngoại
tệ chủ yếu cho quá trình công nghiệp hoá đất nước. Ngành dệt may cũng là một
trong những ngành đạt chỉ tiêu tổng kim ngạch trên một tỷ USD của Việt Nam
là ngành đứng thứ hai về tổng kim ngạch xuất khẩu trong những năm qua. Tuy
nhiêm, cùng với sự phát triển đi lên của ngành dệt may thì những doanh nghiệp
trong nước tham gia vào hoạt động xuất khẩu trong đó có công ty Dệt Hải
Phòng cũng bộc lộ không ít những khuyết điểm mà trong thời gian tới cần có
biện pháp khác phục.
Trong quá trình thực tập, tìm hiểu hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá tại
Công Ty Dệt Hải Phòng với sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo, các phòng ban trong
Công ty, cùng với sự nghiên cứu nghiệp vụ có chọn lọc cũng như ý muốn đóng
góp một phần nhỏ kiến thức của mình vào giải quết những khó khăn trong công
ty, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công
tác xuất khẩu tại Công Ty Dệt Hải Phòng ” với kết cấu của luận văn bao gồm
các phần:
NGUYỄN ANH DŨNG KINH TẾ QUỐC TẾ 38 Luận
văn tốt nghiệp


MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT
KHẨU
TẠI CÔNG TY DỆT HẢI PHÒNG
Trang3

Phần Hai phần nội dung

chương I:
Một số
vấn đề lý luận chung về hoạt động xuất khẩu
I. vai trò của hoạt động xuất khẩu .
1. vị trí của hoạt động xuất khẩu trong doanh nghiệp.
uất khẩu là việc cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài
trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Cơ sở của hoạt
động xuất khẩu là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hoá (Bao
gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình) trong nước. Như vậy,
Xuất
khẩu là hoạt động tiêu thụ hàng hoá nhưng nó vượt qua khỏi biên giới quốc gia.
Đứ
ng trên góc độ của quá trình sản xuất kinh doanh thì xuất khẩu là một
khâu quan trọng và là mục tiêu của sản xuất kinh doanh. Xuất khẩu làm tăng
hiệu quả của sản xuất kinh doanh, nếu tổ chức tốt sẽ kích thích sản xuất góp
phần làm phát triển doanh nghiệp. Trong quá trình vận động của vốn (tiền) xuất
khẩu cũng như tiêu thụ vừa là giai đoạn cuối cùng vừa là giai đoạn kết thúc của
quá trình tái sản xuất này để tiếp tục vận động sang một quá trình sản xuất khác
trong vòng tuần hoàn vốn.

năng chủ yếu sau:
+ Tạo vốn cho quá trình đầu tư trong nước bởi xuất khẩu tạo ra nguồn thu
ngoại tệ chủ yếu cho quốc gia.
+ Chuyển hoá giá trị sử dụng, làm thay đổi cơ cấu giá trị sử dụng của tổng
sản phẩm xã hội.
+ Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường
thuận lợi cho sản xuất kinh doanh .
- Xuất khẩu thực hiện chức năng lưu thông hàng hoá từ trong nước sang
các nước khác và có vai trò chủ yếu sau:
+ Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình Công nghiệp hoá đất
nước. Trong nền kinh tế mở, xuất khẩu còn được sử dụng như một công cụ thúc
đẩy quá trình liên kết kinh tế ở trong nước và nước ngoài, thúc đẩy sự tăng
trưởng của nền kinh tế nội bộ trong nước thông qua các hoạt động xuất khẩu .
+ Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của đất
nước: vốn, việc làm, sử dụng tài nguyên có hiệu quả. ở nước ta hiện nay, nền
NGUYỄN ANH DŨNG KINH TẾ QUỐC TẾ 38 Luận
văn tốt nghiệp

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT
KHẨU
TẠI CÔNG TY DỆT HẢI PHÒNG
Trang5
kinh tế còn lạc hậu việc xuất khẩu chủ yếu là tài nguyên thô hoặc qua sơ chế và
các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản, tỷ trọng hàng công nghiệp chưa cao.Trong đó
chủ yếu là các mặt hàng mang tính lao động thuần tuý như các sản phẩm dệt
may, thủ công mỹ nghệ
+ Đảm bảo sự thống nhất giữa nền kinh tế và chính trị trong hoạt động

hoá. Do khủng hoảng kinh tế gần đây nên người tiêu dùng Nhật Bản thích mua
hàng hoá có giá trị hợp lý. Tuy nhiên xét về mặt chất lượng hàng hoá tiêu dùng
thì người Nhật Bản đòi hỏi cao nhất trên thế giới
Sau khi nắm vững các thói quen, tập quán tiêu dùng ở mỗi thị trường
doanh nghiệp phải có chiến lược cạnh tranh một cách hoàn hảo. Thị trường ở
mỗi nước có thể biến động tuỳ theo thu nhập của người dân, tập quán, thị hiếu
tiêu dùng cũng như những biến động ở từng thời kỳ.
1.2 Yếu tố về hàng rào thuế quan, phi thuế quan.
Thuế quan là loại thuế gián thu đánh vào hàng hoá khi qua cửa khẩu của
một nước.Trên thực tế khi đánh thuế có hai mục đích: có thể là mục đích tài
chính và cũng có thể là mục đích bảo hộ. Cả hai mục đích này đều có ảnh hưởng
to lớn đến việc xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp vào một nước khác.
Thuế quan tài chính thông thường đánh vào những hàng hoá xuất khẩu
có lợi nhuận cao hay những hàng hoá không được khuyến khích .
Thuế quan bảo hộ chủ yếu đánh vào những hàng hoá nhập khẩu, làm tăng
giá của hàng nhập để hàng hoá trong nước có ưu thế hơn về giá cả so với đối thủ
cạnh tranh. Thuế quan bảo hộ là công cụ sắc bén tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp trong nước tăng nhanh sản xuất.
Khi nhà nước tăng thuế nhập khẩu, thông thường sẽ làm cho khối lượng
hàng hoá nhập khẩu giảm do giá hàng tăng hạn chế tiêu dùng. Nhưng trong một
số trường hợp sẽ làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tăng lên mà số lượng
hàng nhập khẩu lại không giảm, và ngược lại.
NGUYỄN ANH DŨNG KINH TẾ QUỐC TẾ 38 Luận
văn tốt nghiệp

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT
KHẨU
TẠI CÔNG TY DỆT HẢI PHÒNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT
KHẨU
TẠI CÔNG TY DỆT HẢI PHÒNG
Trang8
1.3 Tín dụng xuất khẩu .
Tín dụng xuất khẩu tức là nhà nước dành cho người nước ngoài những
khoản tín dụng để mua hàng nước mình. Nhà nước không chỉ trực tiếp can thiệp
vào thị trường tín dụng mà còn tạo điều kiện tín dụng xuất khẩu ưu đãi hơn so
với điều kiện tín dụng trong nước. Điều đó làm khả năng xuất khẩu của các
doanh nghiệp trong nước tăng lên. Ngoài ra, Nhà nước đảm bảo gánh vác mọi
rủi ro đối với khoản tín dụng mà doanh nghiệp xuất khẩu nước mình dành cho
nhà nhập khẩu nước ngoài. Đây là phương tiện quan trọng đẩy mạnh việc tiêu
dùng hàng hoá ở thị trường nước ngoài. Nó làm cho nhà xuất khẩu yên tâm và
mở rộng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài mà không sợ gặp sự rủi ro.
1.4 Yếu tố về tỷ gía hối đoái.
Trong tình hình nền kinh tế mở cửa, các mối quan hệ kinh tế ngày càng
rộng thì việc thanh toán không chỉ là đơn vị tiền tệ trong nước mà còn phải sử
dụng nhiều loại ngoại tệ khác nhau, từ đó phát sinh nhu cầu tất yếu phải so sánh
giá trị, so sánh sức mạnh đồng tiền trong nước và đồng ngoại tệ, đó là tỷ giá hối
đoái. Như vậy, tỷ giá hối đoái dùng để biểu hiện và so sánh những quan hệ về
giá cả giữa các đồng tiền một nước được biểu hiện qua đơn vị tiền tệ của nước
khác. Do đó hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng rất lớn của tỷ giá hối đoái. Ví
dụ như khi tỷ giá hối đoái tăng nghĩa là giá trị đồng nội tệ giảm so với đồng
ngoại tệ sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu và ngược lại khi tỷ giá
hối đoái giảm thì sẽ tăng nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu.
2-các nhân tố chủ quan
2.1 Năng lực tổ chức và trình độ cán bộ làm xuất khẩu:

trường hợp máy móc thiết bị lạc hậu hoặc quá hiện đại không thể áp dụng sẽ
làm cho hàng hoá sản xuất ra không tiêu thụ được. Như vậy có thể kết luận là
trình độ và khả năng công nghệ là một loại vũ khi sắc bén để thành công trong
cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Một dây chuyền công
nghệ và máy móc thiết bị lạc hậu không thể sản xuất được những sản phẩm có
NGUYỄN ANH DŨNG KINH TẾ QUỐC TẾ 38 Luận
văn tốt nghiệp

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT
KHẨU
TẠI CÔNG TY DỆT HẢI PHÒNG
Trang1
0
chất lượng cao, có nhiều tính năng đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị
trường.
2.3./ Trình độ lành nghề và bậc thợ của công nhân.
Trình độ tay nghề của công nhân phản ánh tính chất chuyên môn hoá,
trình độ thành thạo nghề nghiệp. Nếu trình độ người làm công tác xuất khẩu
kém sẽ làm cho doanh nghiệp thua thiệt trong đàm phán ký kết hợp đồng cũng
như thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp. Không những
thế nếu trình độ nghề nghiệp của công nhân cao hơn mức yêu cầu của công việc
được bố trí sẽ gây lãng phí trong việc sử dụng lao động, và ngược lại sẽ ảnh
hưởng đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Cho nên vấn đề đặt ra
cho các doanh nghiệp là phải bố trí được một cơ cấu lao động tối ưu nhằm sử
dụng có hiệu qua nguồn lao động đồng thời phải thường xuyên tổ chức công tác
đào tạo tay nghề cho cán bộ công nhân viên, và luôn luôn coi đó là nhiệm vụ
thường xuyên của mọi doanh nghiệp.
Trang1
1

Nếu giá bán cao hơn giá bình quân của thị trường thì sản phẩm - hàng hoá
có thể bán được với số lượng ít thậm chí không bán được một sản phẩm nào.
Nếu bán với giá thấp hơn giá bình quân thì lợi nhuận của doanh nghiệp có
thể bị giảm xuống hoặc không có lợi nhuận ( lỗ vốn).
Từ đó ta thấy muốn bán giá thấp hơn mà không ảnh hưởng tới lợi nhuận,
doanh nghiệp phải tăng doanh số bán hàng, ngoài ra phải phấn đấu giảm chi phí
các yếu tố đầu vào như tiết kiệm vật tư, tăng năng suất lao động, hạn chế phế
phẩm, hoàn thiện bộ máy quản lý, thay đổi quy trình công nghệ.
- Chất lượng hàng hoá và mẫu mã sản phẩm được người tiêu dùng rất
quan tâm tuỳ thuộc vào thị trường mỗi nước. Các loại mẫu mã và chất lượng sản
phẩm tuỳ thuộc vào tập quán người tiêu dùng theo lứa tuổi.
Do mức thu nhập bình quân ở mỗi nước là rất khác nhau nên thông
thường ở các nước càng phát triển thì sự đòi hỏi về mẫu mã, chất lượng càng
cao và càng khắt khe.
2.5./ Các biện pháp về hỗ trợ xuất khẩu.
Biện pháp hỗ trợ xuất khẩu bao gồm các hoạt động quảng cáo khuyết
trương, tiếp thị thông qua phương tiện thông tin đại chúng, hội chợ triển lãm.
Đây thực sự là một hoạt động rất cần thiết để mở rộng thị trường xuất khẩu.
Thực chất của hoạt động này là tạo ra và sắp xếp các mối quan hệ trong kinh
doanh vào một hệ thống đồng thời giải quyết các mối quan hệ đó, kích thích
NGUYỄN ANH DŨNG KINH TẾ QUỐC TẾ 38 Luận
văn tốt nghiệp

Khi nghiên cứu thị trường cần phải sử dụng những phương pháp thích
hợp cũng như những cán bộ có năng lực và thích hợp với chuyên ngành của họ.
NGUYỄN ANH DŨNG KINH TẾ QUỐC TẾ 38 Luận
văn tốt nghiệp

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT
KHẨU
TẠI CÔNG TY DỆT HẢI PHÒNG
Trang1
3
Có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng có hai phương pháp chủ
yếu đó là phương pháp nghiên cứu thị trường nước ngoài thông qua nghiên cứu
tại bàn làm việc và phương pháp nghiên cứu trực tiếp trên thị trường nước
ngoài.
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn làm việc là việc nghiên cứu thông qua
các phương tiện thông tin đại chúng như sử dụng các loại báo chí, tạp chí, các
loại ấn phẩm thường là các tạp chí kinh tế xuất bản định kỳ hoặc không định kỳ,
các loại sách chuyên khảo, các bản thống kê, các thông báo của các công ty môi
giới. Phương pháp này có ưu thế là chi phí thấp, tiết kiệm thời gian nhưng thông
tin không cập nhập, dễ làm mất cơ hội trong kinh doanh.
- Nghiên cứu trực tiếp ở thị trường nước ngoài là cách nghiên cứu ngay
tại thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đây là phương pháp nghiên cứu rất phức tạp và
tốn kém nhưng nó lại là phương pháp mang lại hiệu quả thiết thực nhất, mang
lại thông tin cập nhập, giúp cho doanh nghiệp có thể chớp cơ hội để thành công
trong cạnh tranh. Bởi nghiên cứu tiếp xúc trực tiếp với thị trường có thể tạo
được các quan hệ trực tiếp với người mua hàng, bán hàng tìm hiểu và mua các
mẫu hàng về để nghiên cứu sản xuất, xuất khẩu.

Ngoài ra, việc nghiên cứu thị trường nước ngoài còn phải thu thập những thông
tin về các chế độ kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá theo từng bước. Trong
việc giao dịch thương mại với các nước còn phải tìm hiểu rõ các chính sách về
thuế quan và nhập khẩu của họ.
Sự cạnh tranh trên thị trường nói chung ngày càng gay gắt. Việc nghiên
cứu thị trường còn phải xác định đầy đủ vị trí và sự hoạt động của đối thủ cạnh
tranh, tức là đánh giá được khả năng kinh tế, khoa học kỹ thuật của các đối thủ
cạnh tranh, đánh giá, xem xét các chiến lược thị trường, việc tổ chức, phục vụ
khách hàng, chiến lược quảng cáo, cố vấn kỹ thuật, điều kiện bán hàng trên cùng
thị trường của đối thủ cạnh tranh. Từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng chiến
lược xâm nhập thị trường thích hợp.
Việc nghiên cứu thị trường nước ngoài được vận dụng để xác định chiến
lược kinh doanh nói chung và chiến thuật của người xuất khẩu hàng hoá trong
hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng. Khi đã dự đoán được xu hướng phát triển
của thị trường nước ngoài mà trước hết là xu hướng biến động về giá cả hàng
hoá, người xuất khẩu cần xác định chiến lược kinh doanh như: Nếu giá cả hàng
NGUYỄN ANH DŨNG KINH TẾ QUỐC TẾ 38 Luận
văn tốt nghiệp

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT
KHẨU
TẠI CÔNG TY DỆT HẢI PHÒNG
Trang1
5
hoá có xu hướng tăng thì ta sẽ không bán ra vội vàng hoặc không bán hàng hoá
với khối lượng lớn mà để cho mức tăng của giá cả đến một mức nhất định mới
bán hàng thì như vậy doanh nghiệp mới thu được lợi nhuận cao trong những lúc

2- các hình thức xuất khẩu.
Chính sách giá cả cũng như tổ chức phương án xuất khẩu của doanh
nghiệp có hai mục đích chính là tăng khối lượng hàng hoá bán ra và lợi nhuận
thu về. Tuỳ theo từng thị trường, từng sản phẩm cụ thể, doanh nghiệp cần có
những phương án bán hàng cũng như phương án xuất khẩu phù hợp với từng thị
trường, từng nhóm khách hàng sao cho vừa linh hoạt vừa hiệu quả.
Việc lên phương án phân phối các kênh tiêu thụ về mặt lý luận cũng như
thực tiễn cần phải có một phương án hợp lý mới mang lại hiệu quả kinh doanh
to lớn trong công tác xuất khẩu. Không phải lúc nào doanh nghiệp cũng phải
trực tiếp xuất khẩu mới mang lại hiệu quả kinh tế cao, mà theo kinh nghiệm ở
một số nước phát triển cho thấy muốn đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá các doanh
nghiệp sản xuất phải phối hợp chặt chẽ với các công ty môi giới bán hàng, các
đại lý uỷ thác. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào mô hình quản lý, trình độ nghiệp vụ
cũng như khả năng xúc tiến bán hàng mà mỗi doanh nghiệp có thể đồng thời tổ
chức nhiều phương thức xuất khẩu khác nhau .
2.1./ Xuất khẩu trực tiếp.
Phương thức này thích hợp với những doanh nghiệp có mô hình sản xuất
lớn. ở đây, doanh nghiệp tự tổ chức xuất khẩu với khách hàng nước ngoài không
thông qua môi giới trung gian. Phương thức này có ưu điểm là doanh nghiệp có
điều kiện tiếp xúc trực tiếp với thị trường, với khách hàng. Do đó hiểu biết rõ
nhu cầu về mẫu mã, chất lượng sản phẩm, các đòi hỏi về sự phù hợp giá cả, từ
đó doanh nghiệp có những chính sách thay đổi một cách kịp thời về sản phẩm,
về giá thành sao cho đáp ứng một cách kịp thời đầy đủ các đòi hỏi của người
tiêu dùng vào từng thời điểm khác nhau trên những thị trường cụ thể. áp dụng
phương thức này doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí bởi không phải mất
NGUYỄN ANH DŨNG KINH TẾ QUỐC TẾ 38 Luận
văn tốt nghiệp

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT
KHẨU

chỉ có thể sử dụng phương pháp tái xuất thì các nước mới có thể tham gia buôn
NGUYỄN ANH DŨNG KINH TẾ QUỐC TẾ 38 Luận
văn tốt nghiệp

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT
KHẨU
TẠI CÔNG TY DỆT HẢI PHÒNG
Trang1
8
bán được với nhau. Thêm vào đó nước tái xuất có thể kiếm lời thông qua chênh
lệch giá mua và giá bán.
2.4./ Hình thức xuất khẩu thông qua gia công xuất khẩu.
Gia công xuất khẩu là hình thức một bên nhận nguyên liệu, bán thành
phẩm, linh kiện, phụ tùng đem về sản xuất chế biến thành dạng hoàn chỉnh hơn
rồi giao lại cho phía bên kia để hưởng một khoản tiền thù lao gọi là phí gia
công.
Hình thức này mang lại cho nước gia công cũng như nước thuê gia công
nhiều lợi ích. Thứ nhất nước gia công có thể nhận được những khoản tiền thù
lao, giải quyết công ăn việc làm trong khi không có đủ điều kiện sản xuất hàng
hoá xuất khẩu cả về vốn, công nghệ, nước nhận có thể tạo uy tín với trường thế
giới Thứ hai những nước thuê gia công có thể tận dụng được lao động của các
nước nhận gia công, có thể thâm nhập được thị trường nước nhận gia công
2.5./ Xuất khẩu thông qua hội chợ triển lãm.
Hoạt động xuất khẩu qua hội chợ triển lãm ngày nay rất phổ biến, các
doanh nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp thương mại rất có điều kiện giới
thiệu quảng cáo và kích thích bán hàng khi tham gia vào hội chợ triển lãm.
Nhiều công ty qua hội chợ triển lãm có thể mở rộng thị trường nhiều nước mà

tính bằng các công thức sau:
T
P
T
F
T
PF
= x 100% : Tỷ suất lợi nhuận của chi phí bán hàng
T
PF
T
F
: Tổng chi phí bán hàng xuất khẩu
T
P
: Tổng lợi nhuận bán hàng xuất khẩu
9
NGUYỄN ANH DŨNG KINH TẾ QUỐC TẾ 38 Luận
văn tốt nghiệp

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XUẤT
KHẨU
TẠI CÔNG TY DỆT HẢI PHÒNG
Trang2

nhuận.

Tỷ suất lợi nhuận doanh thu:

T
P
T
D
T
PD

x100
%

T
P
: Tổng lợi nhuận.
T
D
: Tổng doanh thu bán hàng.
ý nghĩa: Cứ một đồng doanh thu bán hàng thì có bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
Sau khi tiến hành phân tích cả ba chỉ tiêu trên giữa các kỳ với nhau hoặc
giữa các doanh nghiệp khác nhau nhưng sản xuất những sản phẩm cùng loại.
Nếu các chỉ tiêu tỷ suất này của doanh nghiệp càng lớn thì chứng tỏ khả năng
sinh lời trên lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp càng cao và ngược lại nếu
các chỉ tiêu trên mà thấp thì chứng tỏ khả năng sinh lời càng thấp, sau đó phân
tích các nhân tố ảnh hưởng và đề ra những biện pháp để tăng lợi nhuận trong kỳ
kinh doanh tới. Qua phân tích ba chỉ tiêu sẽ cho ta thấy việc kinh doanh hàng
NGUYỄN ANH DŨNG KINH TẾ QUỐC TẾ 38 Luận

khẩu, thì chỉ tiêu chất lượng hàng hoá ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất
kinh doanh, khi phân tích người ta sử dụng hai chỉ tiêu:
2.1./ Tỷ lệ phế phẩm (tính theo hiện vật).
Mục đích của phương pháp này là ta so sánh được hàng phế phẩm chiếm
bao nhiêu % trong hàng hoá xuất ra của doanh nghiệp.

H
F
H
C
+H
F
T
F
=
x 100
%

T
F
:Tỷ lệ phế phẩm.
H
F
:Hàng phế phẩm.
H
C
: Hàng đảm bảo đủ tiêu chuẩn.
Mục đích của phương pháp này là ta so sánh được số lượng hàng phế
phẩn chiếm bao nhiêu % trong tổng số hàng hoá xuất ra của doanh nghiệp.
2.2./ Tỷ lệ phế phẩm bình quân (Tính theo giá trị ).

T
F
:Tỷ lệ phế phẩm bình quân.
C
F
:Chi phí thu mua hàng phế phẩm.
C
S
:Chi phí sửa chữa chế biến hàng phế phẩm.
C
M
:Giá mua hàng xuất khẩu .
Từ công thức trên ta thấy tử số là toàn bộ hàng phế phẩm tính theo giá trị,
mẫu số là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ. Qua tính toán phân
tích chỉ tiêu này doanh nghiệp có thể thấy được toàn bộ thiệt hại do chất lượng
hàng phế phẩm gây ra so với toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ là
bao nhiêu %.
Sau khi phân tích, so sánh giữa hai kỳ với nhau hoặc hai doanh nghiệp
sản xuất sản phẩm cùng loại sẽ cho doanh nghiệp thấy được tỷ lệ phế phẩm của
doanh nghiệp mình và nếu tỷ lệ bình quân hàng phế phẩm của doanh nghiệp
càng nhỏ càng tốt. Tỷ lệ này chứng tỏ chất lượng hàng hoá xuất khẩu cao hay
thấp và nếu tỷ lệ này càng nhỏ thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp càng cao.
±Δ = T
F1
- T
F0
T
F1
: Tỷ lệ phế phẩm kỳ này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status