LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình sản xuất thì lao động là một trong ba yếu tố có vai trò quan
trọng và cần thiết, vai trò của nó là quyết định đến sự thành công và phát triển của
doanh nghiệp. Để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất, trước hết cần
phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mà con người bỏ ra
phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động, đó chính là tiền lương hay tiền
công. Tiền lương là một phạm trù kinh tế găn liền với lao động và nền sản xuất
hàng hoá, được sử dụng như một công cụ quan trọng và được coi là đòn bẩy kinh
tế để kích thích, động viên người lao động hăng hái sản xuất ra nhiều sản phẩm
cho xã hội, đồng thời bảo vệ chính đáng cho người lao động. Việc vận dụng một
cách linh hoạt chính sách tiền lương, cơ chế trả lương trong doanh nghiệp có ý
nghĩa to lớn về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội.
Tiền lương chính là phần thù lao lao động được biểu hiện bằng tiền mà
doanh nghiệp trả cho người lao động căn cứ vào thời gian, khối lượng và chất
lượng công việc mà người lao động đóng góp.
Với người lao động thì tiền lương là động lực để khuyến khích tinh thần
hăng hái lao động, kích thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả
công việc của họ. Hay nói cách khác là một nhân tố thúc đẩy năng xuất lao động,
tăng tích luỹ và cải thiện đời sống, gắn liền với tiền lương là các khoản trích theo
lương như : Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Kinh phí công đoàn.
Tuy nhiên giữa người sử dụng lao động và người lao động có những mong
muốn khác nhau. Vì vậy Nhà nước cần xây dựng các chế độ, chính sách về lao
động, tiền lương để làm hành lang pháp lý cho cả hai bên. Dựa trên chế độ, chính
sách tiền lương của nhà nước, mỗi doanh nghiệp tuỳ thuộc vào mục đích của
mình để có những vận dụng phù hợp nhằm đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao
nhất có thể .
Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty TNHH Cơ khí Chính xác
Thăng Long đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện để đứng vững, để tồn tại trên thị
trường. Đặc biệt công tác kế toán nói chung, kế toán tiền lương và các khoản trích
theo lương nói riêng ngày càng được coi trọng.
Xuất phát từ những lí do trên, trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH
sáng tạo ra của cải vật chất không thể tách rời khỏi lao động, lao động là điều
kiện đầu tiên cần thiết cho sự phát triển của xã hội. Xã hội càng phát triển, thì tính
chất quyết định của lao động con người đối với quá trình tạo ra của cải vật chất
cho xã hội càng biểu hiện rõ rệt. Để đảm bảo cho quá trình sản xuất nói chung và
quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp nói riêng được diễn ra thường
xuyên, liên tục thì một vấn đề thiết yếu là phải tái sản xuất lao động. Người lao
động phải có vật phẩm tiêu dùng để tái sản xuất sức lao động, vì vậy khi họ tham
gia lao động sản xuất ở các doanh nghiệp thì đòi hỏi doanh nghiệp phải trả thù lao
lao động của họ. Trong nền kinh tế hàng hoá, thù lao lao động được biểu hiện
bằng thước đo giá trị và gọi là tiền lương.
Như vậy, tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống
cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng công
việc mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp.
3
Về bản chất, tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao
động. Đồng thời do tiền lương là thu nhập chủ yếu của người lao động nên các
doanh nghiệp sử dụng tiền lương làm đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần
tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy tăng năng xuất lao động. Mặt khác, tiền
lương là một bộ phận cấu thành nên giá trị sản phẩm do lao động làm ra. Tuỳ theo
cơ chế quản lý mà tiền lương có thể xác định là một bộ phận của chi phí sản xuất
kinh doanh cấu thành nên giá thành sản phẩm hay được xác định là một bộ phận
của thu nhập - kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay
phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng phần, lĩnh vực kinh tế. Trong
thành phần kinh tế nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp thì tiền lương là số
tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh, các cơ quan, tổ chức nhà nước trả cho
người lao động theo cơ chế hành chính của Nhà nước và được thể hiện trong hệ
thống thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định. Còn các thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh, tiền lương chịu ảnh hưởng chi phối của thị trường và thị
ốm đau phải vào viện.
+Kinh phí công đoàn: Được sử dụng cho hoạt động bảo vệ quyền lợi cho
công nhân viên trong doanh nghiệp và là hoạt động công đoàn cấp trên và cấp
dưới nhằm phuc vụ đời sống tinh thần cho cán bộ, nhân viên như: thăm hỏi, thăm
quan nghỉ mát,.. Nó được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh theo tỷ lệ quy
định. Hiện nay tỷ lệ trích là 2% trong đó, 1% nộp cho cơ quan công đoàn cấp trên
, phần còn lại doanh nghiệp dùng cho hoạt động cấp dưới là 1%.
3 Việc hình thành và quản lý quỹ lương
3.1. Quỹ tiền lương
3.1.1. Khái niệm
5
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương mà doanh nghiệp
trả cho tất cả người lao động thuộc doanh nghiệp quản lý. Theo nghị định số 235/
HĐBT ngày 19/9/1985 của Hội đồng bộ trưởng.
Nhà nước quy định rõ ràng việc xác định quỹ tiền lương của doanh nghiệp,
điều này giúp xác định quỹ lương, chi phí sản xuất, chi phí quản lý,… Để xác
định quỹ lương cho phù hợp với sản xuất kinh doanh đồng thời phù hợp với sự
đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3.1.2. Các quỹ khác
Quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm y tế.
3.1.3. Hình thức trả lương
* Lương thời gian: Là số tiền lương trả cho người lao động phụ thuộc vào
thang lương và số ngày làm việc thực tế.
a, Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn như sau:
Tiền lương theo thời gian giản đơn là số tiền trả cho người lao động chỉ căn
cứ vào bậc lương và thời gian thực tế làm việc không xét đến thái độ lao động và
kết quả công việc.
Tiền lương
trả theo thời
gian giản
Lương ngày: Là tiền lương trả cho một ngày làm việc và được xác định
bằng cách:
Lương ngày =
Lương tháng
Số ngày làm việc trong tháng
Lương giờ: Là tiền lương trả cho một giờ làm việc. Thường áp dụng để trả
lương cho người lao động trực tiếp trong thời gian làm việc không hưởng lương
theo sản phẩm.
Lương giờ =
Lương Ngày
8 giờ làm việc
b, Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng:
Tiền lương thời
gian có thưởng
=
Lương thời
gian giản đơn
+ Tiền thưởng
Phần tiền thưởng tuỳ theo mức độ hoàn thành nhiệm vụ, do đó có tác dụng
thúc đẩy, khuyến khích nhân viên hơn. Tuy nhiên, đây là hình thức trả lương vẫn
chưa thực sự gắn với kết quả lao động và trình độ chuyên môn của người lao
động.
Để áp dụng trả lương theo thời gian, doanh nghiệp phải theo dõi ghi chép
thời gian làm việc của người lao động và mức lương thời gian của họ.
Các doanh nghiệp chỉ áp dụng tiền lương thời gian cho những công việc
vẫn chưa xây dựng được định mức lao động, chưa có đơn giá tiền lương sản
phẩm. Thường áp dụng cho lao động làm công tác văn phòng như: Hành chính,
quản trị, thống kê, tổ chức lao động, kế toán, tài vụ,…
Hình thức tiền lương theo thời gian có nhiều hạn chế là chưa gắn chặt tiền
lương với kết quả và chất lượng lao động.
người lao động
=
Doanh số
thực hiện
X
Đơn giá
lương
khoán
8
từng bộ phận, tổ, đội sản xuất, trong đó trong đó ghi rõ ngày làm việc, nghỉ việc
của công nhân. Bảng chấm công phải do tổ trưởng hoặc phụ trách quản lý, ghi
trực tiếp và để nơi công khai để công nhân viên giám sát thời gian lao động của
từng người. Cuối tháng, bảng chấm công được dùng để tổng hợp thời gian lao
động và tính lương cho từng bộ phận.
1.1.3. Hạch toán kết quả lao động
Để hạch toán kết quả lao động kế toán sử dụng các chứng từ như: “ phiếu
giao nhận sản phẩm”, “ phiếu khoán”, “ bảng kê năng suất tổ”…
Chứng từ hạch toán lao động phải do người lập (tổ trưởng) ký, được lãnh
đạo duyệt ( quản đốc phân xưởng) . Sau đó các chứng từ này được chuyển cho
nhân viên hạch toán phân xưởng để tổng hợp kết quả lao động toàn đơn vị, rồi
chuyển về phòng lao động tiền lương xác nhận. Cuối cùng chuyển về phòng kế
toán doanh nghiệp để làm căn cứ tính lương.
1.1.4. Hạch toán tiền lương cho người lao động
Khi thanh toán tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp khác cho người
lao động, hàng tháng kế toán phải lập “ bảng thanh toán tiền lương” cho từng bộ
phận ứng với bảng chấm công. Trên bảng quỹ lương hiện từng khoản tiền lương,
các khoản khác và các khoản khấu trừ vào lương của người lao động, số còn lại
người lao động thực lĩnh.
II. HẠCH TOÁN CHI TIẾT CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
1. Hạch toán tổng hợp tiền lương
- Xử lý giá trị tài sản thừa
- Kết chuyển doanh thu chưa thực hiện và doanh thu bán hàng tương ứng
từng kỳ kế toán
10
- Các khoản đã trả, đã nộp khác
Bên có:
- Trích BHXH, BHYT,KPCĐ theo tỷ lệ quy định.
- Tổng số doanh thu chưa thực hiện thực tế phát sinh trong kỳ.
- Các khoản phải nộp, phải trả hay thu hộ.
- Giá trị tài sản thừa chờ xử lý.
- Số phải trả, đã nộp lớn hơn số phải nộp, phải trả được hoàn lại.
TK 338 có thể có số dư bên Nợ hoặc bên Có.
- Dư có: Số tiền còn phải trả, phải nộp và giá trị tài sản thừa chờ xử lý.
- Dư Nợ (nếu có): Số trả thừa, nộp thừa, vượt chi chưa được thanh toán
TK 338 có 6 TK cấp hai
- TK 338.1: Tài sản thừa chờ giải quyết
- TK 338.2: Kinh phí công đoàn
- TK 338.3: Bảo hiểm xã hội
- TK 338.4: Bảo hiểm Y tế
- TK 338.7: Doanh thu chưa thực hiện
- TK 338.8: Phải nộp khác
Ngoài ra còn có các tài khoản liên quan khác:
+ TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp
+ TK 627: Chí phí sản xuất chung
+ TK 641: Chi phí bán hàng
+ TK 642: Chi phí quản lý doanh nghiệp
+ TK 111: Tiền mặt
+ TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
11
+ TK 214: Xây dựng cơ bản dở dang
7. Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp, kế toán ghi:
Nợ TK: 154
Có TK: 622
8. Kết chuyển chi phí quản lý phân xưởng, kế toán ghi:
Nợ TK: 154
Có TK: 627
9. Nộp BHXH, BHYT, KPCĐ ,kế toán ghi:
Nợ TK: 338
Có TK: 111
10.Phần được bù BHXH, BHYT, KPCĐ, kế toán ghi:
Nợ TK: 111, 112
Có TK: 338
SƠ ĐỒ1: SƠ ĐỒ TỔNG HỢP TÀI KHOẢN 334
TK 111,141 TK 334 TK 622 TK 154
Các khoản khấu Tiền lương phải K/c chi phí
Trừ vào thu nhập trả cho CNV NCTT
Của CN
TK627
TK 338 Tiền lương trả K/c chi phí
Công nhân viên SXC
Phần đóng góp
Quỹ BHXH
TK 642
Tiền lương…
Trả cho CNPX
13
TK338
BHXH phải trả
Trực tiếp CNV
TK 641
- Tổng số cán bộ công nhân: 255 người.
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu: Sản xuất kinh doanh hàng cơ khí và linh
kiện phụ tùng xe máy, ô tô, gia công cột công trình viễn thông.
Sản phẩm chủ yếu: Linh kiện, phụ tùng xe máy như : Ghi đông, dàn, chân
chống phụ, chân chống đứng….
15
2- Quá trình hình thành và phát triển Công ty TNHH Cơ khí Chính xác
Thăng Long
Công ty TNHH Cơ khí Chính xác Thăng Long là một doanh nghiệp tư
nhân, có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập và có tài khoản tại Ngân
hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Từ Liêm.
Có thể gọi bước chấm phá đầu tiên của công ty đó là chiếc máy tiện T616 ,
trị giá 6 triệu đồng do ông Vũ Đình Hồng sắm để làm kinh tế gia đình. Sau đó,
ông đã mạnh dạn mở trạm sửa chữa cơ khí chính xác, tự mình trực tiếp làm việc
kéo dài trong hai năm. Sau đó, do nhu cầu của xã hội, xe máy ngày càng trở nên
quan trọng và chiếm ưu thế trên thị trường, để nắm bắt được nhu cầu lớn đó
xưởng sản xuất và sửa chữa đã biết vận dụng thế mạnh cơ khí của mình và không
ngừng cố gắng để đổi mới, đưa ra những mẫu mã phụ tùng xe máy đáp ứng yêu
cầu kỹ thuật cũng như yêu cầu của thị trường, và họ đã thành công. Thành công
đó là động lực thúc đẩy cho kế hoạch về một công ty chuyên sản xuất thiết bị phụ
tùng xe máy được tiến triển nhanh. Đến ngày 27 tháng 02 năm 2001, xưởng sản
xuất và sửa chữa của ông Vũ Đình Hồng đã được Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội cấp
giấy phép kinh doanh số 0102002028 lấy tên là: “ Công ty TNHH Cơ khí Chính
xác Thăng Long ”.
Công ty TNHH Cơ khí Chính xác Thăng Long do ông Vũ Đình Hồng làm
giám đốc. Ông là một anh bộ đội " Cụ Hồ ", công tác tại nhà máy M của Bộ tư
lệnh thông tin. Năm 1990, ông được cử sang Tiệp Khắc học ngành chế tạo máy.
Sau đó trở về đời thường bắt tay vào làm kinh tế và đã tốt nghiệp khóa học Quản
trị kinh doanh của Nhật Bản. Công ty TNHH Cơ khí Chính xác Thăng Long là
Công ty có quy mô vừa, hoạt động trong lĩnh vực ngành cơ khí, có nhiệm vụ
doanh .
- Thực hiện kinh doanh ngày càng hiệu quả, có uy tín trên thị trường .
2- Nhiệm vụ cụ thể công ty TNHH Cơ khí Chính xác Thăng Long .
17
- Tuân thủ các chế độ chính sách kinh tế của Nhà nước hiện hành .
- Tổ chức khoa học và hợp lý công tác kế toán ở trong công ty .
- Phân công nhiệm vụ rõ ràng đối với từng bộ phận kế toán, từng nhân
viên, cán bộ kế toán quy định mối quan hệ chặt chẽ giữa các bộ phận kế toán,
giữa các nhân viên trong quá trình thực hiện công việc được giao .
- Vận dụng đúng đắn hệ thống tài khoản kế toán, đáp ứng được yêu cầu
quản lý, áp dụng hình thức tổ chức kế toán phù hợp .
- Hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết
quả hoạt động kinh doanh .
- Từng bước sử dụng, trang bị các phương tiện kỹ thuật tính toán, thông tin
hiện đại vào công tác kế toán của doanh nghiệp, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho
đội ngũ cán bộ nhân viên kế toán .
- Khai thác sử dụng và quản lý có hiệu quả nguồn vốn, đảm bảo đầu tư mở
rộng kinh doanh đổi mới trang thiết bị, bù đắp chi phí làm tròn nhiệm vụ với Nhà
nước, xã hội .
- Nghiên cứu, thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng mặt hàng kinh
doanh, mở rộng thị trường, phát triển sản xuất kinh doanh của công ty .
- Công ty luôn áp dụng các biện pháp và triết lý kinh doanh của kinh tế thị
trường vào lĩnh vực phục vụ khách hàng là: " Vui lòng khách đến, vừa lòng khách
đi, uy tín chất lượng " .
- Làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hoá chuyên
môn, trình độ tay nghề của người lao động .
- Làm tốt công tác bảo vệ an toàn lao động, công tác phòng cháy chữa
cháy, bảo vệ an ninh trật tự xã hội và bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp .
3 - Phương hướng hoạt động công ty TNHH Cơ khí Chính xác Thăng Long
- Công ty tổ chức kinh doanh bằng tài sản nguồn vốn hiện có thông qua
19