TRƯỜNG
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Hoạt động xuất nhập
khẩu ủy thác
1MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương Khái niệm chung về hoạt động xuất nhập khẩu
1. Khái niệm về hoạt động XNK uỷ thác
2. Nội dungvà đặc điểm của hoạt động XNK uỷ thác
3. Các văn bản của Nhà nước điều chỉnh XNK uỷ thác
4. Các nghiệp vụ của hoạt động XNK uỷ thác
5. Hợp đồng uỷ thác XNK
Hoạt động XNK uỷ thác ở Công ty TOCONTAP
Kinh tế Việt Namđóng vai trò là một bộ phận của nền kinh tế thế giới
và của cac mối quan hệ kinh tế quốc tế , nền kinh tế nước ta tất yếu phải chịu
những sự tác động của mọi sự biến động trên thế giới và cũng như các mối
quan hệkinh tế quốc tế đó. Điều này cũng có nghĩa là việc tham gia vào các
quan hệ kinh tế đó là điều cần thiêt và mang tính tất yếu khách quan có lợi
cho việc phát triển của các thành phần kinh tế dan tộc tham gia, trong đó có
Việt Nam.
4
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT
NHẬP KHẨU UỶ THÁC
I. Khái niệm hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác :
Khái niệm về xuất nhập khẩu uỷ thác giữa các pháp nhân trong
nướcđã được bộ thương mại quy định cụ thể trong Thông tư số18/TT –
BTM của Bộ trưởng Bộ thương mại ký ngày 28/8/1998 ban hành qui chế
xuất nhập khẩu uỷ thác giữa các pháp nhân trong nước như sau:
Xuất nhập khẩu uỷ thác là hoạt động dich vụ thương mại dưới hình
thức thuê và nhận làm dịch vụ xuất nhập khẩu hoạt động này được thực
hiện trên cơ sở hợp đồng uỷ thác xuất khẩu hoặc nhập khẩu giữa các
doanh nghiệp, phù hợp với những qui định của pháp lệnh hợp đồng kinh
tế.
II. Nội dung và đặc điểm của hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác
1. Về chủ thể:
Chủ thể uỷ thác xuất khẩu , nhập khẩu:
Tất cả các doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh trong nước và hoặc
giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu đều được uỷ thác xuất khẩu, nhập
khẩu.
trường giá cả khách hàng có liên quan đến đơn hàng uỷ thác xuất khẩu,
nhập khẩu. Bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác thương lượng và ký kết hợp
đồng uỷ thác. Quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của hai bên do hai bên
thỏa thuận và ghi trong hợp đồng uỷ thác.
Bên uỷ thác thanh toán cho bên nhận uỷ thác và các khoản phí tổng
phát sinh khi thực hiện uỷ thác.
Các bên tham gia hoạt động XNK uỷ thác phải nghiêm chỉnh thực
hiện những quy định của hợp đồng uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu do các
bên tham gia đã ký kết. Vi phạm những quy định trong hợp đồng tuỳ theo
mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật và các quy định hiện hành.
Mọi tranh chấp giữa các bên ký kết hợp sẽ do các bên thương lượng
hoà giải để giải quyết, nếu thương lượng không đi đến kết quả thì sẽ đưa
ra Toà kinh tế, phán quyết của toà án là kết luận cuối cùng bắt buộc các
bên phải thì hành.
Nhìn chung, trước năm 1989 hoạt động XNK uỷ thác ít được mọi
người chú ý quan tâm đến, nhưng ngày nay trong điều kiện mở cửa cộng
với sự chuyên môn hoá trong lĩnh vực ngoại thương nên hoạt động XNK
uỷ thác đang đươc Nhà nước quan tâm chú ý đến, biểu hiện là những văn
bản pháp luật như pháp lệnh về hợp đồng kinh tế, nghị định 57/CP của
Chính phủ về quản lý Nhà nước đối với XNK, hơn nữa còn có Thông tư
6
của Bộ trưởng Bộ Thương mại số 18/1998/TT – BTM ban hành riêng về
việc điều chỉnh hoạt động XNK uỷ thác.
Cho đến ngày nay hoạt động XNK uỷ thác phát triển mạnh mẽ và
không ngừng tăng lên kể từ năm 1990 đến nay và nó được thể hiện thông
qua các con số về phí thu uỷ thác XNK của một số các công ty XNK như
sau (thường là phí XNK uỷ thác mà các công ty thu được là 0,5 – 2% trên
tổng giá trị hợp đồng).
ngày 31/7/1998, ban hành quy chế XNK uỷ thác giữa các pháp nhân trong
nước, trong đó quy định rõ ràng, đầy đủ và cụ thể về hoạt động XNK uỷ
thác giữa các pháp nhân trong nước.
3.Các nghiệp vụ của hoạt động XNK uỷ thác.
3.1. Những thủ tục cần thiết để đi đến ký kết một hợp đồng ủy thác
XNK.
a. Giao dịch.
Trường hợp xuất khẩu.
Bên uỷ thác có được một khối lượng hàng hoá nào đó mà muốn xuất
khẩu sang nước ngoài thì bên uỷ thác sẽ đem mẫu mã của hành hoá đó mà
những thông số kỹ thuật cần thiết tối thiểu của hàng hoá đó đến yêu câù
một đơn vị kinh doanh XNK nào đó mà mình cảm thấy có uy tín và tin
tưởng nhất, sau đó yêu cầu đơn vị kinh doanh XNK này xuất khẩu hàng
hoá (theo mẫu kèm theo) cho họ.
Thông thường ở bước này bên uỷ thác viết một đơn yêu cầu uỷ thác
xuất khẩu hàng hoá và gửi trực tiếp cho đơn vị kinh doanh XNK.
Bên nhận uỷ thác nếu đồng ý sẽ đem hàng hoá và tất cả các thông số
kỹ thuật cần thiết cùng với giá cả của hàng hoá chào hàng cho các bạn
hàng nước ngoài.
Nếu có một đơn vị kinh doanh của nước ngoài đặt mua hàng hoá
nhưng với điều kiện thay đổi một thông số nào đó về hàng hoá thì bên
nhận uỷ thác sẽ thông báo yêu cầu nay cho bên uỷ thác xem xét. Nếu bên
uỷ thác đồng ý thì báo lại để bên nhận uỷ thác thông báo xác nhận với đơn
vị kinh doanh nước ngoài.
Tóm lại, nếu như bên nước ngoài đồng ý thì mua và bên uỷ thác đồng
ý bán (một số điều kiện đưa ra có thể thay đổi hoặc không) thì bên nhận
uỷ thác sẽ thông báo cho bên uỷ thác bên nước ngoài biết, đồng thời bên
nhận uỷ thác sẽ làm một văn bản ký kết hợp đồng uỷ thác xuất khẩu hàng
hoá với những điều kiện chi tiết và cụ thể.
Trường hợp nhập khẩu.
thấy hàng hoá muốn xuất khẩu hoặc nhập khẩu với yêu cầu của bên uỷ
thác, thì bên nhận uỷ thác sẽ làm văn bản chấp nhận uỷ thác và gửi kèm
cho bên uỷ thác (gửi kèm các thông tin về mẫu mã, thông số kỹ thuật của
hàng hoá đó).
Bên uỷ thác:
Sau khi nhận được công văn chấp nhận uỷ thác, bên uỷ thác nếu như
thấy hàng hoá muốn xuất khẩu hoặc nhập khẩu với yêu cầu của mình thì
bên uỷ thác cũng sẽ làm công văn đồng ý uỷ thác và gửi cho bên nhận uỷ
thác.
9
Sau đó hai bên uỷ thác và nhận uỷ thác sẽ dựa trên cơ sửo bàn bạc
thống nhất giữa hai bên, sẽ thoả thuận quy định ngày giờ cụ thể để đi đến
ký kết hợp đồng uỷ thác XNK.
4. Hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu.
Hợp đồng uỷ thác XNK được ký kết giữa hai đơn vị kinh tế là các
pháp nhận trong nước. Căn cứ vào công văn chấp nhận uỷ thác và hợp
đồng uỷ thác của hai bên trên cơ sở bàn bạc và thống nhất với nhau hai
bên sẽ đi đến ký kết hợp đồng ủy thác xuất khẩu hoặc nhập khẩu.
Hợp đồng uỷ thác XNK là một văn bản được hia bên thoả thuận và ký
kết là cơ sở pháp lý ràng buộc cả hai bên.
Phần đầu của hợp đồng ghi rõ tên (các tổ chức kinh tế của cả hao bên,
địa chỉ, điện thoại, tài khoản ngoại tệ, tài khoản tiền gửi VN và do ai làm
đại diện ký kết)
Thông thường các diều khoản của bên A và bên B sẽ được thoả thuận
ghi trong hợp đồng như sau:
* Điều I: Tên hàng, giá cả, số lượng
Tên của hàng hoá, nước xuết xứ, giá cả của hàng hoá gồm đơn giá và
tổng trị giá ở điều này sẽ có phụ lục đi kèm qui định về giá cả cụ thể của
+ Thường là tại kho bên A (nhập khẩu uỷ thác)
+ Trường hợp xuất khẩu thì tuỳ theo thoả thuận của hai bên
* Điều V: Thanh toán
- Trường hợp nhập khẩu uỷ thác
Bên B sẽ chịu trách nhiệm giao dịch và ký kết hợp đồng ngoại với
khách hàng nước ngoài để nhập khẩu hàng hoá về cho bên A theo đúng
yêu cầu của bên A. Tiền thanh toán hàng hoá bên A sẽ chuyển cho bên để
bên B chuyển cho phía nước ngoài.
Thông thường bên A sẽ chịu tiền thanh toán cho bên B gồm 3 phần và
chuyển cho bên B vào 3 thời điểm khác nhau trong lúc thực hiện hợp
đồng.
Trước tiên bên A sẽ chuyển 10% tiền đặt cọc bằng T.T.R vào tài
khoản của bên B trong thời gian X ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng.
Tiếp đó bên A sẽ chuyển 80% tiền hàng bằng thư tín dụng vào tài
khoản của bên B để bên B có trách nhiệm thanh toán số tiền cho nhà sản
xuất nước ngoaì. Còn 10% thanh toán bằng T.T.R sẽ được chuyển nốt cho
bên B khi bên A có kết quả nghiệm thu hàng.
Chứng từ thanh toán:
11
Đối với hàng hoá chuyên chở bằng đường không hoặc đường biển yêu
cầu ba bản chính của vận đơn hàng hoá không ghi “đã thanh toán”, vận
đơn đường biển ghi “Sạch và đã thanh toán” theo lệnh của bên B.
Bảng kê chi tiết hàng hoá
Hoá đơn thương mại đã ký.
Giấy chứng nhận xuất xứ do nhà đương cục cấp.
Giấy chứng nhận số lượng hàng hoá do nhà sản xuất cấp.
Hợp đồng mua bảo hiểm 100% giá trị hàng hoá theo hoá đơn với điều
kiện mọi rủi ro sẽ được thanh toán tại Việt Nam hàng ngoại tệ như hoá
bên A phải cùng với bên B giải quyết ngay không được chậm chễ.
* Điều VII: Bảo hành
Tuỳ theo từng loại hàng hoá mà thời gian bảo hành của nó khác nhau,
thông thường trong hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu qui định như sau
Hàng hoá sẽ được bảo hành trong vòng X tháng kể từ ngày ký biên
bản giao hàng theo đúng các điều kiện lưu kho, lưu bãi như đã qui định.
Bên B và nhà sản xuất sẽ chịu trách nhiệm về bất cứ sự hư hỏng nào
đó về nguyên vật liệu hay chế tạo xuất biểu hiện trong thời gian bảo hành.
Trong trường hợp có khiếu nại bên A điện báo cho bên B, bên B sẽ
điện cho nhà sản xuất và có xác nhận thư trong vòng 10 ngày sau ngày
điện báo cho bên B cùng nhà sản xuất sẽ chịu trách nhiệm giải quyết bất
kỳ sợ khiếu nại nào được chứng minh là thuộc trách nhiệm của mình. Sau
đó nhà sản xuất gửi hàng hoá mới để thay thế và chịu các chi phí khác có
liên quan.
* Điều VIII: Bất khả kháng
Trường hợp bất khả kháng trong hợp đồng XNK uỷ thác phải dược
thông báo bằng điện tín cho mỗi bên trong vòng 5 ngày và được xác nhận
bằng văn bản trong vòng 7 ngày sau ngày điện báo cùng với giấy chứng
nhận bất khả kháng do cơ quan có thẩm quyền của chính phủ cấp, hoặc
không chấp nhận. Ngoài thời gian nói trên trường hợp bất khả kháng
không được xem xét.
* Điều IX: Trọng tài
Trong quá trình thực hiện hợp đồng uỷ thác XNK giữa bên A và bên B
nếu có xảy ra tranh chấp thì hai bên sẽ căn cứ vào điều khoản trọng tài
trong hợp đồng uỷ thác XNK để giải quyết các tranh cấp phát sinh. Thông
thường điều khoản trọng tài trong hợp đồng uỷ thác XNK được qui định
như sau:
Trong quá trình thợc hiện hợp đồng mọi tranh chấp phát sinh trái
ngược nhau hay khác biệt, không đạt được sự thoả thuận giữa hai bên, sẽ
giải quyết cuối cùng bởi hội đồng trọng tài kinh tế nhà nước Việt Nam.
khác với đơn đặt hàng thì bên A chịu trách nhiệm bồi thường hợp đồng
với bên B và phía nước ngoài đồng thời bên A phải chịu mọi chi phí tổn
mà bên B đã bỏ ra để thực hiện hợp đồng.
Nếu do lỗi bên A làm cho bên B không thể giao hàng lên tàu trước X
tuần kể từ ngày phía nước ngoài điện chuyển tiền đặt cọc, thì bên A sẽ bị
phạt 0,2% tuần giá trị hợp đồng (nhưng không quá 6% trị giá hợp đồng).
14
Nếu bên nước ngoài huỷ bỏ hợp đồng với bên B mà là do lỗi của bên
A, thì bên A phải chịu bồi thường tiền phạt và đặt cọc. Ngoài ra bên A
phải bồi thường cho bên B toàn bộ phí tổn mà bên B đã bỏ ra để thực hiện
hợp đồng.
Thông thường tiền bồi thường do hai bên qui định và sẽ căn cứ trên
tổng giá trị gợp đồng thường là từ 14% trị giá hợp đồng.
* Điều XI Trách nhiệm của mỗi bên
- Trong hợp đồng uỷ thác nhập khẩu
Trách nhiệm của bên B:
Bên B thoả thuận ký với nhà sản xuất nhập hàng theo đúng số lượng,
chất lượng,các tính năng kỹ thuật đã được ghi và qui định trong bản phụ
lục của bản hợp đồng này đồng thời đảm bảo hàng nhập và đến cơ sở của
bân A đầy đủ và an toàn.
Thực hiện các thủ tục nhập khẩu hàng hoá với các cơ quan hữu quan
và thanh toán tiền hàng cho nhà nhập khẩu nước ngoài
Làm mọi thủ tục nhận hàng tại cảng hay tại sân bay và thông báo cho
bên A bằng văn bản trước 8 ngày và cùng bên A giao nhận số hàng trong
hợp đồng với các cơ quan hữu quan. Bên B có trách nhiệm đưa hàng về cơ
sở của bên B một cách đảm bảo và an toàn, chi phí do bên B chịu.
Làm các thủ tục kiểm hàng với các cơ quan hữu quan đảm bảo hàng
nhập khẩu mang đầy đủ tính hợp pháp và đưa được về tới cơ sở bên A.
A có trách nhiệm thông báo cho bên B để bên B có trách nhiệm yêu cầu
các hãng vận tải và các cơ quan hữu quan lập biên bản xác nhận đồng thờ
tổ chức giám định ngay.
Việc kết toán hợp đồng này được kết toán trong vòng 0 ngày kể từ khi
hết thời hạn ghi trong điều khoản bảo hành trong hợp đồng.
- Trong hợp đồng uỷ thác xuất khẩu:
Trách nhiệm của bên B:
Bên B đảm nhận trách nhiệm ký kết với khách hàng nước ngoài hợp
đồng xuất khẩu hàng hoá theo đúng số lượng và chất lượng các tính năng
kỹ thuật đã được quy định trong hợp đồng và bản phụ lục của hợp đồng
kèm theo.
Làm mọi thủ tục xuất khẩu hàng hoá với các cơ quan hữu quan làm
mọi thủ tục giao hàng, nhận tiền và chuyển tiền cho bên A.
Trách nhiệm của bên A:
Bên A có trách nhiệm sản xuất và thu gom hàng hoá, đóng gói bao bì
theo đúng yêu cầu mà bên B đã thông báo, chở hàng ra tập kết ở cảng
đúng thời hạn để cùng với bên B làm các thủ tục cần thiết để xuất khẩu
hàng hoá.
16
Xin các giấy tờ cần thiết có liên quan đến việc cho phép xuất khẩu
hàng hoá.
Bên A có trách nhiệm thanh toán cho bên B phí uỷ thác và các chi phí
khác như đã thoả thuận, phí uỷ thác được thành toán theo từng giai đoạn
và tỷ lệ từng giai đoạn như hợp đồng ngoại mà cacs bên đã thoả thuận
thống nhất.
* Điều VII: Các điều khoản khác:
Mọi thay đổi hay điều chỉnh hợp đồng này chỉ có giá trị khi được lập
bằng văn bản và được sự đồng ý của hai bên.
cơ sở sản xuất trong nước nhằm đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu tăng thu
ngoại tệ cho Nhà nước.
(3). Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của TOCONTAP đã thể hiện tại
Quyết định của Bộ trưởng Bộ Thương mại số 597/TM –TCCB ngày
19/7/1995 theo đó TOCONTAP:
* Xuất khẩu: Các mặt hàng nông sản, lâm sản, hải sản, thực phẩm,
thủ công mỹ nghệ, tạp phẩm, công nghệ, sản phẩm dệt, may, da giày.
* Nhập khẩu: Vật tư, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu xây
dựng, phương tiện vận tải, hàng nông sản, thực phẩm và hàng tiêu dùng
thiết yếu để phục vụ cho nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty.
- Được kinh doanh khách sạn, và dịch vụ khách sạn, đại lý bán hàng
theo quy định hiện hành của Nhà nước.
- Được mở cửa hàng buôn bán, bán lẻ hàng nhập khẩu và hàng sản
xuất trong nước theo quy định hiện hành.
- Được tổ chức gia công chế biến, hợp tác đầu tư, liên doanh liên kết
với các tổ chức trong và ngoài nước.
2. Cơ cấu tổ chức của Công ty TOCONTAP:
a. Nhân sự:
Cơ cấu tổ chức bộ máy kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty như
sau:
Tổng giám đốc công ty là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước và
bộ chủ quản về toàn bộ hoạt động của Công ty.
Các phòng trực tiếp tổ chức kinh doanh hạch toán nội bộ được quyền
chủ động hạch toán kinh doanh trên cơ sở các phương án được giám đốc
duyệt, đảm bảo trang trải các chi phí và kinh doanh có lãi.
Công tác quản lý tài chính chuyển từ hình thức tập trung sang hình
thức kế toán vừa tập trung vừa kế toán theo từng đơn vị. Một số đơn vị
18
NKK
8
Xí nghiệp
TOCAN
b. Mô hình tổ chức:
Do cơ chế thị trường nên các phòng XNK của công ty tự tìm kiếm,
khai thác được bất cứ mặt hàng nào đều được phép XNK mặt hàng đó (trừ
những hàng hoá Nhà nước cấm xuất, cấm nhập).
Tuy vậy, mỗi một phòng XNK của TOCONTAP đều có mặt hàng
chính, chủ lực cuả mình, cụ thể:
Phòng XNK 1: Chuyên về hàng máy vi tính + giấy loại.
Phòng XNK 2: Chuyên về hàng văn phòng phẩm, hàng thể thao,
nguyên vật liệu và máy móc phục vụ sản xuất.
Phòng XNK 3: Chuyên về hàng may mặc, dệt.
Ban giám đốc
Chi nhánh Hải Phòng
Chi nhánh TP. HCM
Hành chính quản trị
Tài chính kế toán
Chi nhánh Hải Phòng
Chi nhánh TPHCM
Qua bảng tông kết trên đây ta thấy kim ngạch năm 1998 cao nhất kể từ
năm 1995 trở lại đây. Đó là một năm đầy sôi động và thử thách. Nhìn
20
chung hoạt động kinh doanh của TOCONTAP tập trung nhiều cho nhập
khẩu. Tỷ trọng nhập khẩu cao hơn nhiều so với xuất khẩu.
Nhập khẩu chính của TOCONTAP là máy móc thiết bị, nguyên vật
liệu phục vụ sản xuất, ngoài ra TOCONTAP còn nhập hàng tiêu dùng và
đồ điện gia dụng phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong nước. Trong đó
hàng nhập khẩu uỷ thác chiếm tỷ trọng chủ yếu (hơn 50% tổng kim ngạch
thực hiện).
Hiện mặt hàng xuất khẩu cao nhất ở TOCONTAP là chổi quét sơn
(trung bình mỗi năm xuất được xấp xỉ 1 triệu USD). Những mặt hàng xuất
khẩu truyền thống TOCONTAP tập trung vào: gốm, sứ, mây tre đan, mỹ
nghệ, may mặc + dệt len, nông sản…
Ta có thể lấy thí dụ năm 1998 để minh hoạ cho việc XNK uỷ thác
chiếm kinh ngạch quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh doanh của
TOCONTAP.
Trong năm 1998 TOCONTAP đã ký được 1.256 hợp đồng đối nội và
đối ngoại với tổng kim ngạch như sau:
a. Hợp đồng đối nội : 27.546.488 USD = 518 hợp đồng.
Trong đó: NK uỷ thác 19.499.828 USD
NK tự doanh 6.772.822 USD.
XK uỷ thác 1.140.000 USD
XK tự doanh 133.838 USD.
b. Hợp đồng ngoại: 29.919.608 USD = 738 hợp đồng.
Trong đó: NK uỷ thác 18.242.271 USD.
NK tự doanh 9.703.039 USD.
XK uỷ thác 1.196.943 USD.
+ Thuế vốn 867,7 989,8 806,5
+ Thuế VAT 10.986
3 Quỹ lương 1,791,8 2.274,2 1,495
4 Lợi nhuận 1.566,7 1.799,5 1.186,8
5 Vòng quay vốn 5,35 vòng 7,7 vòng 3,94 vòng
6 Thời gian hoàn vốn 67,3 ngày 46,3 ngày 91,4 ngày
Nguồn: Báo cáo tổng kết kế hoạch kinh ngạch XNK ngày 16/1/2001.
Do công ty TOCONTAP có nền tài chính lành mạnh nên hoạt động
XNK uỷ thác ở TOCONTAP có điều kiện phát triển mạnh mẽ và không
ngừng tăng lên kể từ năm 1996 đến nay Công ty thu phí uỷ thác XNK từ
22
0,5 –2% trên tổng trị giá hợp đồng. Nếu trị giá hợp đồng lớn thì công ty
thu phí uỷ thác thấp, ngược lại nếu trị giá hợp đồng bé thì công ty thu phí
uỷ thác cao.
Về tình hình XNK uỷ thác của TOCONTAP trong mấy năm qua nhìn
chung kim ngạch XNK uỷ thác luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
kim ngạch XNK chung của công ty. Xét riêng về nhập uỷ thác: thì mặt
hàng máy vi tính và phụ tùng vi tính là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu
uỷ thác cao nhất ở TOCONTAP liên tục 2 năm nay 1997 – 1998
(2.000.000 USD – 4.000.000 USD).
Xét về xuất khẩu uỷ thác : thì mặt hàng mỳ ăn liền xuất đi Liên bang
Nga có kim ngạch xuất khẩu uỷ thác cao nhất ở TOCONTAP.
Dự đoán trong những năm tới hoạt động XNK uỷ thác ở TOCONTAP
vẫn sôi nổi và dược đẩy mạnh vì hoạt động XNK uỷ thác tạo nên sự
chuyên môn hoá cao độ trong lĩnh vực XNK.
Do có uy tín đối với nhiều khách hàng trong nước nên ngày càng có
nhiều khách hàng đến uỷ thác XNK qua TOCONTAP.
Do TOCONTAP có bề dày hơn 40 năm hoạt động XNK , có một đội
Những điều kiện còn lại sẽ áp dụng như những hợp đồng đã ký trước
đó hoặc theo điều kiện chung giao hàng giữa hai bên.
Tương tự như vậy trong đơn đặt hàng Công ty TOCONTAP nêu cụ thể
các yêu cầu về mẫu mã,thông số kỹ thuật về hàng mà người uỷ thác nhập
khẩu yêu cầu như: tên hàng, quy cách phẩm chất, giá cả, số lượng, thời
hạn giao hàng và một số các điều kiện khác.
3. Đàm phán.
Các loại hình đàm phán chủ yếu mà Công ty TOCONTAP thường sử
dụng là các loại hình cơ bản sau:
- Đàm phán trực tiếp:
Hình thức này thường do Phòng Thương mại giới thiệu hoặc do Tham
tán thương mại Việt Nam ở nước ngoài giới thiệu hoặc là do bạn hàng
nước ngoài đã làm việc nhiều với Công ty trong thời gian sang Việt Nam
để tìm hiểu thị trường hoặc ký kết các hợp đồng mua hàng, mặt khác có
thể đàm phán với các công ty đại diện nước ngoài tại Việt Nam.
Trong quá trình đàm phán thoả thuận việc mua bán, công ty đưa mẫu
hàng cho khách hàng xem đồng thời phát giá từng mặt hàng (với xuất
khẩu) hoặc yêu cầu chào hàng (với xuất khẩu). Giá cả này phải dựa trên
giá cả thực tế của thị trường trong nước cũng như thị trường giá cả quốc
tế.
Qua đại diện hoặc qua các cơ sở mà đã có quan hệ mua bán từ trước
với nước ngoài, công ty sẽ chào hàng (hoặc đặt hàng) bằng cách lên
những đơn chào hàng (hoặc đặt hàng) với các điều khoản giống như một
24
hợp đòng để giao cho khách nước ngoài, nếu như khách hàng đồng ý thì
coi như hợp đồng đã được ký kết.
Trên thực tế thì công ty TOCONTAP đàm phán qua điện thoại rất có
hiệu quả. Đối với những khách hàng có quan hệ mua bán lâu dài thì