Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình sản xuất có vai trò vô cùng quan trọng, là cơ sở cho sự tồn tại
và phát triển của xã hội. Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng cần các yếu
tố như sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Nguyên vật liệu
là đối tượng lao động được biểu hiện dưới dạng vật hoá - một trong những
điều kiện thiết yếu để tiến hành sản xuất. Khác với tư liệu lao động, nguyên
vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định và khi tham gia vào
quá trình sản xuất, dưới tác động của lao động, chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc
thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm.
Hơn nữa, nguồn cung cấp nguyên vật liệu không phải là vô hạn, đòi hỏi chúng
ta phải có những biện pháp sử dụng nguyên vật liệu một cách hợp lý.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào không
thể thiếu đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra. Mặt khác, trong quá
trình phát triển, xu hướng chung của các doanh nghiệp là mở rộng sản xuất,
nâng cao hiệu quả kinh doanh. Để đạt được mục tiêu này, một trong những
biện pháp được các doanh nghiệp ưu tiên hàng đầu là giảm chi phí đầu vào,
hạ giá thành sản phẩm. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải tìm được nguồn
cung cấp nguyên vật liệu ổn định, chất lượng đảm bảo và có giá thành hạ. Bên
cạnh đó, các doanh nghiệp phải quan tâm đến việc tổ chức quản lý và sử dụng
nguyên vật liệu. Có như vậy, hiệu quả kinh tế đạt được mới cao, mới góp
phần thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.
Tại Công ty Xây dựng Dân dụng Hà Nội, nguyên vật liệu cũng là đối
tượng lao động đặc biệt quan trọng. Chi phí nguyên vật liệu chiếm tới 70% -
75% trong tổng chi phí sản xuất sản phẩm nên công tác quản lý nguyên vật
liệu cần được quan tâm hàng đầu.
Sau một thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế tại Công ty Xây dựng
Dân dụng Hà Nội, em đã nhận thức sâu sắc và cụ thể hơn về công tác kế toán
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
1
Luận văn tốt nghiệp
1.1.Đặc điểm hạch toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp xây lắp.
1.1.1.Đặc điểm và vai trò của nguyên vật liệu.
Khái niệm, đặc điểm của nguyên vật liệu.
-Khái niệm: Nguyên vật liệu là đối tượng lao động, là một trong ba yếu
tố cơ bản của quá trình sản xuất và là cơ sở vật chất để hình thành nên sản
phẩm mới.
-Đặc điểm:
Về mặt nội dung: Nguyên vật liệu bao gồm nhiều thứ như: vôi, cát,
gạch, đá, sỏi, xi măng, sắt thép,…Đây là những nguyên vật liệu rất đặc trưng
của ngành xây lắp, khác hẳn với nguyên vật liệu của các ngành sản xuất khác
như: sợi trong doanh nghiệp dệt, da trong doanh nghiệp đóng giày, vải trong
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
3
Luận văn tốt nghiệp
doanh nghiệp may mặc,…Khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác dụng
của lao động, nguyên vật liệu bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị thay đổi hình thái
vật chất ban đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm.
Về mặt giá trị: Giá trị nguyên vật liệu cần thiết để tạo ra một sản phẩm
xây lắp thường rất lớn, có thể lên tới hàng chục, hàng trăm triệu hay hàng tỷ
đồng. Khi tham gia vào quá trình sản xuất toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu
được chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm.
Về mặt khối lượng: Khối lượng nguyên vật liệu lớn, chẳng hạn khối
lượng của xi măng, sắt thép, cát, đá,… có thể lên đến hàng nghìn tấn trong
một công trình.
Chi phí vận chuyển của nguyên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất thi
công một đơn vị sản phẩm xây lắp cũng khác nhau trong từng giai đoạn cụ
thể, ví dụ với một tòa nhà cao tầng thì chi phí vận chuyển nguyên vật liệu để
xây tầng 1 nhỏ hơn nhiều so với chi phí vận chuyển cùng lượng nguyên vật
liệu đó để xây tầng thứ 15, 16.
Vai trò của nguyên vật liệu.
thực hiện đồng bộ ở tất cả các khâu từ thu mua, dự trữ đến bảo quản và sử
dụng.
Trong khâu thu mua, nguyên vật liệu phải được quản lý về khối lượng,
quy cách, chủng loại, giá mua, thuế và chi phí thu mua. Mỗi loại nguyên vật
liệu chỉ được phép hao hụt trong định mức. Bên cạnh đó, quá trình thu mua
cũng cần được quản lý chặt chẽ về mặt thời gian, tiến độ thực hiện.
Trong quá trình bảo quản, để bảo quản tốt nguyên vật liệu, giảm thiểu
hư hao, mất mát, các doanh nghiệp cần có hệ thống kho đủ tiêu chuẩn, đảm
bảo cả về số lượng, chất lượng và giá trị của nguyên vật liệu. Doanh nghiệp
cần bố trí thủ kho có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ để quản lý nguyên vật
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
5
Luận văn tốt nghiệp
liệu và thực hiện các nghiệp vụ nhập, xuất kho, tránh việc bố trí kiêm nhiệm
chức năng thủ kho với tiếp liệu và kế toán vật tư.
Trong khâu sử dụng, cấn tổ chức tốt việc ghi chép nhằm phản ánh
chính xác tình hình xuất dùng và sử dụng nguyên vật liệu. Trên cơ sở đó, so
sánh với giá thành kế hoạch để đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu. Từ
đó, tìm biện pháp sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu.
Trong dự trữ nguyên vật liệu, đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán chính
xác giá thành kế hoạch trên cơ sở giá thành dự toán, từ đó xác định lượng
nguyên vật liệu cần thiết cho mỗi công trình và dự trữ đầy đủ. Tuy nhiên, cần
nói rõ hơn về vấn đề dự trữ, trong các doanh nghiệp xây lắp, các công trình ở
rải rác các nơi nên doanh nghiệp không thể tiến hành dự trữ nguyên vật liệu vì
chi phí bảo quản và vận chuyển quá lớn. Doanh nghiệp chỉ dự trữ tại kho
công trình đảm bảo việc thi công chính công trình đó được diễn ra liên tục,
không bị ngừng do thiếu nguyên vật liệu.
Với cách thức quản lý nguyên vật liệu như vậy, doanh nghiệp sẽ có đầy
đủ thông tin về giá trị, hiện vật của từng loại khi cần.
1.1.3.Vai trò và nhiệm vụ hạch toán nguyên vật liệu.
thứ có vai trò công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất thi công. Trong
thực tế công tác quản lý và hạch toán ở các doanh nghiệp, đặc trưng dùng để
phân loại nguyên vật liệu thông dụng nhất là vai trò và tác dụng của nguyên
vật liệu trong quá trình sản xuất thi công. Theo đặc trưng này, nguyên vật liệu
được phân ra các loại như sau:
- Nguyên liệu và vật liệu chính (NVLC): Là nguyên liệu, vật liệu mà
sau quá trình sản xuất thi công sẽ cấu thành nên hình thái vật chất của sản
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
7
Luận văn tốt nghiệp
phẩm. Danh từ nguyên liệu ở đây dùng để chỉ đối tượng lao động chưa qua
chế biến công nghiệp.
- Nhiên liệu là những thứ dùng để tạo ra nhiệt năng như than đá, than
bùn, củi, xăng, dầu,…Nhiên liệu trong các doanh nghiệp thực chất là một loại
vật liệu phụ nhưng được tách ra thành một loại riêng vì việc sản xuất và tiêu
dùng nhiên liệu chiếm một tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Nhiên liệu cũng có yêu cầu và kỹ thuật quản lý hoàn toàn
khác với các loại vật liệu phụ thông thường.
- Vật liệu phụ là những vật liệu có tác dụng phụ trong quá trình sản
xuất kinh doanh, được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để hoàn thiện và
nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm hoặc được sử dụng để đảm bảo
cho công cụ lao động hoạt động bình thường, hoặc dùng để phục vụ cho nhu
cầu kỹ thuật, nhu cầu quản lý.
- Phụ tùng thay thế là loại vật tư được sử dụng cho hoạt động sửa chữa,
bảo dưỡng TSCĐ.
- Thiết bị và vật liệu xây dựng cơ bản là các loại thiết bị, vật liệu phục
vụ cho hoạt động xây lắp, xây dựng cơ bản.
- Vật liệu khác là các loại vật liệu đặc chủng của từng doanh nghiệp
hoặc phế liệu thu hồi.
Hạch toán theo cách phân loại nói trên đáp ứng được yêu cầu phản ánh
*Tính giá nguyên vật liệu nhập kho.
Giá thực tế của NVL là loại giá được hình thành trên cơ sở các chứng
từ hợp lệ chứng minh các khoản chi hợp pháp của doanh nghiệp đó tạo ra
NVL. Giá thực tế của NVL nhập kho được xác định tuỳ từng nguồn nhập.
- Với vật liệu mua ngoài:
Giá thực tế = Giá mua ghi + Chi phí - Hao hụt được
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
9
Luận văn tốt nghiệp
của NVL trên hoá đơn thu mua bồi thường
Trong đó, giá mua ghi trên hoá đơn là giá mua không có thuế giá trị gia
tăng (GTGT) đối với doanh nghiệp tính giá theo phương pháp khấu trừ, và là
giá bao gồm thuế GTGT đối với doanh nghiệp tính giá theo phương pháp trực
tiếp.
Chi phí thu mua bao gồm chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản từ nơi
mua đến kho của doanh nghiệp, chi phí thuê kho bãi trung gian, công tác phí
của cán bộ thu mua, các khoản thuế, lệ phí phải nộp phát sinh trong quá trình
thu mua và hao hụt trong định mức được phép tính vào giá vật liệu.( Cũng
được xác định trên cơ sở phương pháp tính thuế GTGT mà doanh nghiệp
chọn.)
- Với vật liệu tự chế:
Giá thực tế
NVL
=
Trị giá thực tế
NVL xuất kho
+
Chi phí gia
công chế biến
Chi phí gia công chế biến bao gồm các khoản chi phí thực tế mà doanh
trong các doanh nghiệp có ít loại vật liệu hoặc vật liệu ổn định, có tính tách
biệt và nhận diện được. Đối với những doanh nghiệp có nhiều loại NVL với
số lượng lớn thì không nên áp dụng phương pháp này.
Phương pháp này có ưu điểm là công tác tính giá NVL được thực hiện
kịp thời và thông qua việc tính giá NVL xuất kho, kế toán có thể theo dõi
được thời hạn bảo quản của từng lô NVL.
Tuy nhiên, để áp dụng được phương pháp này, thì điều kiện cốt yếu là
hệ thống kho tàng của doanh nghiệp cho phép bảo quản riêng từng lô NVL
nhập kho.
Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO).
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số nguyên vật liệu nào nhập
trước thì xuất trước, xuất hết đợt nhập trước mới đến đợt nhập sau theo giá
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
11
Luận văn tốt nghiệp
thực tế của từng đợt hàng nhập. Nói cách khác, cơ sở của phương pháp này là
giá thực tế của nguyên vật liệu và giá mua thực tế của nguyên vật liệu nhập
kho trước sẽ được sử dụng làm giá để tính giá thực tế của nguyên vật liệu xuất
trước. Và do vậy, giá trị nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của
số nguyên vật liệu nhập kho sau cùng.
Phương pháp này có ưu điểm là nó gần đúng với luồng nhập - xuất
NVL trong thực tế. Không kể trường hợp đặc biệt, việc nhập - xuất NVL
trong thực tế gần như là nhập trước - xuất trước. Hơn thế nữa, trong trường
hợp NVL được quản lý theo đúng hình thức nhập trước - xuất trước, phương
pháp này sẽ gần với phương pháp giá thực tế đích danh, do đó sẽ phản ánh
tương đối chính xác giá trị NVL tồn kho và xuất kho. Tuy nhiên nhược điểm
của phương pháp nhập trước - xuất trước là phải tính giá theo từng danh điểm
NVL và phải hạch toán chi tiết NVL tồn kho theo từng loại giá nên tốn nhiều
công sức. Phương pháp nhập trước - xuất trước chỉ thích hợp với những
doanh nghiệp có ít danh điểm NVL, số lần nhập kho của mỗi danh điểm
được việc hạch toán chi tiết NVL so với phương pháp nhập trước - xuất trước
và nhập sau - xuất trước, không phụ thuộc vào số lần nhập, xuất của từng
danh điểm NVL.
Nhược điểm của phương pháp này là dồn công việc tính giá NVL xuất
kho vào cuối kỳ hạch toán nên ảnh hưởng đến tiến độ của các khâu kế toán
khác, đồng thời sử dụng phương pháp này cũng phải tiến hành tính giá theo
từng danh điểm NVL.
+Theo đơn giá bình quân cuối kỳ trước.
Theo phương pháp này, kế toán xác định giá đơn vị bình quân dựa trên
giá thực tế và lượng NVL tồn kho cuối kỳ trước. Dựa vào giá đơn vị bình
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
13
Đơn giá bq
cả kỳ dự trữ
Giá thực tế của NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Số lượng của NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Đơn giá bq
cuối kỳ trước
Giá thực tế NVL tồn kho cuối kỳ trước
Số lượng NVL tồn kho cuối kỳ trước
Luận văn tốt nghiệp
quân nói trên và lượng NVL xuất kho trong kỳ để kế toán xác định giá thực tế
NVL xuất kho theo từng danh điểm.
Phương pháp này cho phép giảm nhẹ khối lượng tính toán của kế toán,
nhưng độ chính xác của công việc tính giá phụ thuộc vào tình hình biến động
giá cả NVL, trường hợp giá cả thị trường NVL có sự biến động lớn thì việc
tính giá NVL xuất kho theo phương pháp này trở nên thiếu chính xác và có
trường hợp gây ra bất hợp lý (tồn kho âm).
+Theo đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập:
Ngoài các phương pháp cơ bản trên, trong thực tế công tác kế toán, để
giảm nhẹ việc ghi chép cũng như để bảo đảm tính kịp thời của thông tin kế
toán, để tính giá thực tế của vật liệu xuất dùng, kế toán còn sử dụng phương
pháp giá hạch toán. Theo phương pháp này, toàn bộ nguyên vật liệu biến
động trong kỳ được tính theo giá hạch toán (giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn
định trong kỳ). Cuối kỳ, kế toán sẽ tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán sang
giá thực tế theo công thức:
Giá thực tế của
NVL xuất kho
=
Giá hạch toán
NVL xuất kho
x Hệ số giá
Trong đó:Đối với các doanh nghiệp có nhiều loại vật liệu, giá cả thường xuyên
biến động, nghiệp vụ nhập - xuất vật liệu diễn ra thường xuyên thì việc hạch
toán theo giá thực tế trở nên phức tạp, tốn nhiều công sức và nhiều khi không
thực hiện được. Do đó, việc hạch toán hàng ngày nên sử dụng giá hạch toán.
Phương pháp hệ số giá cho phép kết hợp chặt chẽ hạch toán chi tiết và
hạch toán tổng hợp về NVL trong công tác tính giá, nên công việc tính giá
được tiến hành nhanh chóng và không bị phụ thuộc vào số lượng danh điểm
NVL, số lần nhập, xuất của mỗi loại nhiều hay ít.
1.3. Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp.
1.3.1. Chứng từ kế toán sử dụng.
Trong các doanh nghiệp xây lắp, khối lượng nguyên vật liệu cần thiết
cho quá trình thi công rất lớn. Do vậy, công tác hạch toán chi tiết nguyên vật
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
15
chứng từ đó trước khi ghi sổ.
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
16
Luận văn tốt nghiệp
1.3.2. Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song.
Tại kho: Thủ kho căn cứ vào các chứng từ nhập, xuất nguyên vật liệu
để ghi số lượng nguyên vật liệu vào “Thẻ kho”. “Thẻ kho” được mở theo từng
danh điểm trong từng kho.
Tại phòng kế toán: kế toán nguyên vật liệu cũng dựa trên chứng từ
nhập, xuất nguyên vật liệu để ghi số lượng và giá trị nguyên vật liệu nhập,
xuất vào “Thẻ kế toán chi tiết vật liệu” (mở tương ứng với từng “Thẻ kho”).
Cuối kỳ, kế toán tiến hành đối chiếu số liệu trên “ Thẻ kế toán chi tiết vật
liệu” với “Thẻ kho” tương ứng do thủ kho chuyển đến, đồng thời từ “ Sổ kế
toán chi tiết vật liệu”, kế toán lấy số liệu để ghi vào “Bảng tổng hợp nhập xuất
tồn vật liệu” theo từng danh điểm, từng loại nguyên vật liệu để đối chiếu với
số liệu kế toán tổng hợp nhập, xuất, tồn
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ làm, dễ đối chiếu kiểm
tra. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm đối với kế toán thủ công là
khối lượng ghi chép lớn, ghi trùng lặp. Mặt khác, việc kiểm tra đối chiếu
được thực hiện vào cuối tháng nên có sự hạn chế trong việc kiểm tra các
trường hợp bất thường xảy ra.
Phương pháp này thường được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít danh
điểm nguyên vật liệu.
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
17
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất kho
Thẻ kho
Sổ kế toán
chi tiết NVL
vào cuối kỳ, nên trong trường hợp số lượng chứng từ nhập xuất của từng danh
điểm nguyên vật liệu khá nhiều thì công việc kiểm tra, đối chiếu sẽ gặp nhiều
khó khăn và làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các khâu kế toán khác.
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
18
Luận văn tốt nghiệp
Phương pháp này thích hợp đối với những doanh nghiệp có nhiều danh
điểm nguyên vật liệu nhưng số lượng chứng từ nhập xuất không nhiều.
Sơ đồ 2: Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp
đối chiếu luân chuyển
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
1.3.4. Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp sổ số dư.
Tại kho: Thủ kho ngoài việc ghi “Thẻ kho” như các phương pháp trên
thì cuối kỳ còn phải ghi lượng nguyên vật liệu tồn kho từ “Thẻ kho” vào “ Sổ
số dư”.
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
19
Phiếu nhập kho
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Bảng kê nhập
Bảng kê xuất
Sổ đối chiếu
luân chuyển
Sổ kế
toán
tổng
hợp về
Phiếu xuất kho
Sổ số dư
Phiếu nhập kho
Bảng luỹ kế nhập
xuất tồn
Phiếu giao nhận
chứng từ nhập
Sổ kế
toán
tổng
hợp về
vật
liệu
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 3: Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp số dư
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
1.4. Hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu (KKTX)
Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu là việc ghi chép, phản ánh sự biến
động về mặt giá trị nguyên vật liệu trên các sổ kế toán tổng hợp.
Để hạch toán tổng hợp NVL có thể áp dụng một trong hai phương pháp
là phương pháp kê khai thường xuyên hoặc phương pháp kiểm kê định kỳ.
Việc sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, yêu cầu quản lý và trình độ của nhân viên kế
toán. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp xây lắp, do đặc điểm sản phẩm là
những công trình xây dựng, vật kiến trúc, ...có quy mô lớn, kết cấu phức tạp,
mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất lâu dài, nên chế độ kế toán Việt Nam
quy định chỉ được hạch toán tổng hợp theo phương pháp kê khai thường
xuyên.
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị các loại vật tư, hàng hoá mà
doanh nghiệp đã mua, đã chấp nhận thanh toán với người bán nhưng chưa về
nhập kho của doanh nghiệp và tình hình hàng đi đường đã về nhập kho.
Bên Nợ: Giá trị vật tư hàng hoá đang đi đường
Bên Có: Giá trị hàng đi đường kỳ trước đã nhập kho hay chuyển
giao cho các bộ phận sử dụng hoặc giao cho khách
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
22
Luận văn tốt nghiệp
Dư Nợ: Giá trị hàng đi đường chưa về nhập kho
Ngoài các tài khoản trên, doanh nghiệp còn sử dụng các tài khoản liên
quan như: TK 111, TK 112, TK 113, TK 331, TK 621, TK 623, TK 627, TK
642.
Phương pháp hạch toán:
Nguyên vật liệu thường xuyên biến động tăng, giảm trong quá trình sản
xuất thi công. Trong đó, nguyên vật liệu tăng chủ yếu do mua ngoài, do nhận
vốn góp, nhận cấp phát, ...; giảm chủ yếu do xuất dùng cho sản xuất thi công ,
xuất đi góp liên doanh với đơn vị khác, ...Việc hạch toán nguyên vật liệu
ngoài việc căn cứ vào nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh còn phải căn cứ
vào phương pháp tính thuế GTGT mà doanh nghiệp đang áp dụng.
Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì
giá mua và giá bán của nguyên vật liệu là giá không bao gồm thuế GTGT.
Đối với các doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp trực tiếp hoặc nguyên
vật liệu không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì giá mua và giá bán
nguyên vật liệu là giá bao gồm cả thuế GTGT.
Có thể tóm tắt quá trình hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu theo
phương pháp KKTX như sau:
Hoàng Thị Ngọc Thuý - Kế toán 44D
23
Luận văn tốt nghiệp
góp liên doanh
Nhận lại vốn góp
liên doanh
Nhập NVL đã xuất nhưng
chưa sử dụng hết
Trị giá NVL xuất kho
NVL xuất thuê ngoài gia công
Giá vốn NVL xuất bán
Xuất NVL để góp vốn
liên doanh
Xuất NVL trả góp vốn
liên doanh
CKTM, giảm giá hàng mua hoặc
trả lại NVL cho người bán
TK 133
Thuế GTGT của
hàng trả lại
NVL thiếu khi kiểm kê
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 4: Hạch toán tổng hợp NVL theo phương pháp KKTX
1.5. Chuẩn mực kế toán quốc tế và kinh nghiệm một số nước về hạch
toán nguyên vật liệu.
1.5.1. Chuẩn mực kế toán quốc tế về hạch toán nguyên vật liệu.
Chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho được quy định tại chuẩn
mực số 2 (IAS 2) do Hiệp hội chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) nay là Hội
đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) ban hành. Nội dung của chuẩn mực
này là xác định giá trị hàng tồn kho, ghi nhận chi phí và phương pháp trình
bày báo cáo tài chính.
Theo IAS 2, nguyên vật liệu là một loại hàng tồn kho nên nó được quản
lý và hạch toán theo phương pháp hạch toán hàng tồn kho dựa trên nguyên tắc