Tài liệu Đề tài “Nhập khẩu linh kiện lắp ráp xe máy của công ty Quan Hệ Quốc Tế Đầu Tư Sản Xuất Thuận lợi , khó khăn và giải pháp” - Pdf 97



Luận văn Đề Tài:Nhập khẩu linh kiện lắp ráp xe máy
của công ty Quan Hệ Quốc Tế
Đầu Tư Sản Xuất Thuận lợi ,
khó khăn và giải pháp

Tài Liệu
phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Vịêt Nạm muốn
làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát
triển. Hợp tác nhiều măt, song phương và đa phương với các nước, các khu vực
trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình
đẳng cùng có lợi giải quyết các vấn đề còn tồn tại và tranh chấp bằng thương
lượng.
Trên cơ sở đó hoạt động thương mại quốc tế ở nước ta ngày càng phát
triển, vì thương mại quốc tế là tất yếu khách quan tạo ra hiệu quả cao nhất trong
nền sản xuất của mỗi quốc gia củng như trên toàn thế giới. ở nước ta, việc nhập
khẩu đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Hoạt động xuất khẩu ở nước ta còn hạn chế mà chủ yếu là nhập khẩu, có
thể là nhập thiết bị máy móc để phục vụ sản xuất, nhập nguyên vật liệu để gia
công xuất khẩu , nhập tư liệu về sản xuất phục vụ đời sống dân sinh . Vịêt Nam
ta đã qua thơi phải lo cho việc ăn sao cho đủ no mặc sao cho đủ ấm, mà bây giờ
vươn lên nhu cầu tự thoả mãn bản thân, mua sắm phục vụ đời sống, nhu cầu đi
lại sao cho thuận tịên. Hịên nay xe máy và xe đạp vẫn là những phương tiện đi
lại chủ yếu của người dân Vịêt Nam, thị trường xe máy hiện nay rất sôi động và
kinh doanh mặt hàng xe máy đang là nguồn lợi của nhiều công ty.
Công ty Quan Hệ Quốc Tế -Đầu Tư Sản Xuất củng tham gia vào thị
trường đó và hoạt động liên tục có lãi trong nhiều năm qua .Trong thời gian thực
tập và nghiên cứu tại công ty,tôi đã chọn đề tài:“Nhập khẩu linh kiện lắp ráp xe
máy của công ty Quan Hệ Quốc Tế Đầu Tư Sản Xuất Thuận lợi , khó khăn và
giải pháp”.
Đề tài gồm các nội dung chủ yếu sau:

1

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về nhập khẩu
Chương II: Thực trạng hoạt động nhập khẩu linh kiện lắp ráp xe máy của

CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHẬP KHẨU

I.VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU

1. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với doanh nghiệp
Hoạt động nhập khẩu là một trong những khâu quan trọng trong quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động nhập khẩu đã góp phần
cung cấp hoàn thiện yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất .Vì vậy, đối với một
doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó cần phải xem xét
và nắm bắt tình hình nhập khẩu một cách kỹ càng về mặt hàng cần nhập thì có
sản phẩm chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Thực tế cho thấy
hoạt động nhập khẩu tốt, có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất dẫn đến giảm
được được chi phí giá thành tăng lợi nhuận. Chẳng hạn như ,một doanh nghiệp
khi sản xuất một loại sản phẩm nào đó mà sản phẩm này đã có nhản hiệu uy tín
trên thị trường. Để sản phẩm đạt được đáp ứng nhu cầu khách hàng ,doanh
nghiệp cần phải nhập khẩu những linh kiện máy móc, dây chuyền công nghệ
hiện đại phục vụ cho quá trình sản xuất ,đều này đã tạo cho doanh nghiệp một
sản phẩm với giá thành rẻ dĩ nhiên sản phẩm sẽ có ưu thế trên thị ,nên doanh
thu lớn và lợi nhụân cao .
Hoạt động nhập khẩu không những giảm được chi phí giá thành mà còn
tăng được năng suất lao động.Thực vậy, một doanh nghiệp tự tạo ra sản phẩm
mà không cần nhập khẩu các thiết bị vật tư , dây chuyền công nghệ …thì rất
vất vả cho quá trình sản xuất ,tình trạng này có thể nói là quá bảo thủ của
doanh nghiệp ,làm cho doanh nghiệp dể đi đến phá sản. Nhưng khi doanh
nghiệp tìm ra lối thoát đó nhập khẩu các thiết bị hiện đại và dây chuyền công
nghệ …thì doanh nghiệp không những sản xuất được sản phẩm có chất lượng
tốt đáp ứng nhu cầu của thị trương mà còn sản xuất ra hàng loạt sản phẩm lại
rất ích thời gian.Điều trên có thể khẳng định hoạt động nhập khẩu đã tăng được
năng suất lao động.

tiềm lực của hoạt động này. Tuy nhiên, hoạt động nhập khẩu còn có vai trò to
lớn đối với nền kinh tế. 4

2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế
Hoạt động sản xuất kinh doanh rất quan trọng đối với nền kinh tế.Thực
tế cho thấy nền kinh tế muốn phát triển được là nhờ hoạt động thương mại. Hoạt
động nhập khẩu chỉ là một vế chưa đầy đủ của hoạt động thương mại nhưng nó
củng đã chiếm ưu thế quan trọng của sự phát triển đến nền kinh tế thể hiện ở
một số điểm sau:
Hoạt động nhập khẩu có vai trò tăng năng xuất lao động xã hội và giảm
thất nghiệp.Hoạt động này , có hiệu quả và được các doanh nghiệp trong quốc
gia đánh giá cao về sản phẩm nhập khẩu . Vì khi hàng hoá nhập khẩu tốt sẽ giúp
cho các doanh nghịêp có nhiều phương thức sản xúât ra sản phẩm đáp ứng được
nhu cầu của thị trường . Loại sản phẩm này chỉ sản xuất trong thời gian ngắn , ít
lao động ,do đó năng suất lao động cá nhân tăng làm cho năng suất lao động xã
hội tăng . Khi sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường thì doanh doanh
nghiệp sẳn sàng mở rộng quy mô sản xuất . Do đó cần nhiều lao động với ngành
nghề khác nhau ( cán bộ quản lý , kỹ sư , công nhân …) . qua trên hoạt động
nhập khẩu không những tăng năng suất lao động xã hội mà còn giảm đựơc thất
nghiệp ,tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Hoạt động nhập khẩu có vai trò giúp cho nền kinh tế lạc hậu trở nên phát
triển và có thể đuổi kịp nền văn minh nhân loại. Thực tế cho thấy với sự phân bố
không đồng điều về con người và nguồn tài nguyên.Mõi cộng đồng loài người
trên thế giới có cách sống và làm việc khác nhau,nên sự học hỏi kinh nghiệm và
chuyễn giao phát minh trí tuệ là không ngừng .Hoạt động nhập khẩu là tiền đề
cho quá trình trên ,vì nó có vai trò cung cấp những lợi thế so sánh của một nước
cho nước khác về những bí quyết công nghệ hay sáng chế … Và đòi hỏi quốc

Trong hình thức này , doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải trực tiếp làm
các hoạt động tìm kiếm đối tác , đàm phán ,ký kết hợp đồng …. và phải bỏ vốn
để tổ chức kinh doanh hàng nhập khẩu.
2. Nhập khẩu uỷ thác
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp trong
nước có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu muốn nhập khẩu một số loại hàng
hoá nhưng lại không có quyền tham gia các hoạt động nhập khẩu trực tiếp đã
uỷ thác cho một doanh nghiệp khác làm nhiệm vụ giao dịch trực tiếp và tiến
hành nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của mình . Bên uỷ thác phải tiến hành
đàm phán với đối tác nước ngoài và làm thủ tục nhập hàng hoá theo yêu cầu của

6

bên uỷ thác .Bên nhận uỷ thác sẽ được hưởng một phần thù lao được gọi là phí
uỷ thác .
3. Nhập khẩu liên doanh
Nhập khẩu liên doanh là hoạt động kinh doanh nhập hàng hoá trên cơ sở
liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp trong đó ít nhất một
bên là doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp nhằm phối hợp kỹ năng để
cùng giao dịch và đề ra các chủ trương , hướng hoạt động này sao cho có lợi
nhất cho tất cả các bên , cùng chia lợi nhuận và cùng chịu lổ.
4. Nhập khẩu hàng đổi hàng
Nhập khẩu đổi hàng cùng trao trôi đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ
yếu của buôn bán đối lưu, đó là hình thức nhập khẩu đi đôi với xuất khẩu.
Thanh toán cho hoạt động này không dùng tiền mà hàng hoá. Mục đích của
nhập khẩu hàng đổi hàng là vừa thu lãi từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu và
vừa xuất khẩu được hàng hoá trong nước ra nước ngoài.
5. Nhập khẩu tái xuất
Họat động nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập hàng hoá vào trong
nước nhưng không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nước thứ

giá cả và số lượng hàng hoá đó.
 Tình hình tiêu thụ mặt hàng đó trong nước ra sao ? Mỗi loại mặt hàng
đều có thói quen tiêu dùng riêng , điều đó thể hiện ở thời gian tiêu
dùng ,thị hiếu và quy luật biến đổi của quan hệ cung cầu về mặt hàng
đó trên thị trường.
 Mặt hàng đó ở giai đoạn nào của chu kỳ sống ? Bất cứ một sản phẩm
nào củng đều có chu kỳ sống riêng. Nắm được mặt hàng mà doanh dự
tính kinh doanh đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống sẽ xác định
được các biện pháp cần thiết để nâng cao doanh số bán hàng và thu
được nhiều lợi nhuận.
 Tình hình sản xuất của mặt hàng đó trong nước như thế nào ? Muốn
kinh doanh có hiệu quả thì bất kể doanh nghiệp nào củng phải quan
tâm đến quan hệ cung cầu về mặt hàng kinh doanh.Vấn đề mà các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cần xem xét ở đây là : khả
năng sản xuất , thời vụ sản xuất , tốc độ phát triển của mặt hàng đó

8

trong nước . Việc lựa chọn mặt hàng nhập khẩu không chỉ dựa vào
những tính toán , ước tính và những biểu hiện cụ thể của hàng hoá mà
còn dựa vào kinh nghiệm của người nghiên cứu thị trường để dự đoán
các xu hướng biến động của giá cả thị trường trong nước và nước
ngoài, khả năng thương lượng để đạt tới điều kiện mua bán ưu thế
hơn.
Bứơc2 - Nghiên cứu dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng
Đối với nhập khẩu , việc tìm hiểu dung lượng thị trường hàng hoá cần
nhập là rất quan trọng. Có thể hiểu dung lượng thị trường của một hàng hoá là
một khối hàng hoá được giao dịch trên một phạm vi thị trường nhất định (thế
giới , khu vực, quốc gia ) trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.
Nghiên cứu dung lượng thị trường cần xác định nhu cầu thật của khách hàng, kể

xác,nhanh chóng chớp thời cơ giao dịch. Cùng với việc nghiện cứu dung
lượng thị trường các nhà kinh doanh phải được tình hình kinh doanh mặt
hàng đó trên thị trường, các đối thủ cạnh tranh và dấu hiệu về chính trị,
thương mại, luật pháp, tập quán buôn bán quốc tế hoà hợp nhanh chóng
với thị trường.
Bước 3 -Nghiên cứu già cả trên thị trường quốc tế
Trên thị trường thế giới,giá cả chẳng những phản ánh mà còn điều tiết mối
quan hệ cung cầu hàng hoá. Việc xác định đúng đắn giá hàng hoá trong xuất
nhập khẩu có một ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả thương mại quốc tế.
Giá cả trong hoạt động xuất nhập khẩu là giá cả quốc tế. Giá quốc tế có
tính chất đại diện đối với một loại hàng hoá nhất định trên thị trường thế giới.
Giá cả đó phải là giá cả giao dịch thương mại thông thường, không kèm theo
một điều kiện đặc biệt nào và thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyễn đổi được.
Dự đoán xu hướng biến động của giá cả hàng hoá trên thế giới rất phức tạp, có
lúc theo chiếu hướng tăng, có lúc theo chiều hướng giảm, đặc bịêt có những lúc
giá cả hàng hoá có xu hướng ổn định nhưng xu hướng này là tạm thời. Để có thể
dự đoán được xu hướng biến động trên thị trường thế giới trước hết phải dựa vào
kết quả nghiên cứu và dư đoán tình hình thị trường loại hàng hoá đó, đánh giá
đúng ảnh hưởng của nhân tố tác động xu hướng vận động của giá cả hàng hoá.
Các nhân tố tác động đến giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới có rất
nhiều và có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau. Khi dự đoán xu hướng

10

biến động lâu dài như: chu kỳ , giá trị … khi dự đoán xu hướng biến động của
giá cả trong thời gian ngắn cần phân tích đánh giá ảnh hưởng trực tiếp của
những biến đổi về cung cầu và các nhân tố mang tính chất tạm thời như: thời vụ
, nhân tố tự nhiên.

2. Lựa chọn phương thức giao dịch nhập khẩu

Trên đây là một số phương thức giao dịch, buôn bán chủ yếu trên thị
trường quốc tế, căn cứ vào mặt hàng nhập khẩu , đối tượng giao dịch , thời gian
giao dịch và khả năng của nhà kinh doanh để lựa chọn phương thức giao dịch
cho phù hợp.
3. Đàm phán, ký kết hợp đồng
a. Đàm phán
Trong kinh doanh quốc tế, có ba hình thức cơ bản đó là : đàm phán qua
thư tín, qua điện tín và gặp gỡ trực tiếp. Mỗi một hình thức đều có những ưu
điểm, nhược điểm riêng. Vì vậy, phải tuỳ theo vào từng điều kiện cụ thể của các
doanh nghiệp, tuỳ vào bạn hàng để lựa chọn hình thức đàm phán cho thích hợp.
Quá trình đàm phán bao gồm những bước sau:
-Hỏi giá:là việc bên mua đề nghị bên bán cho biết những điều kiện của
mặt hàng, chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán,thời
hạn và đồng tiền thanh toán .
-Báo giá : là việc người bán thông báo trở lại mua và người mua đã nhận
được có nghĩa là có sự cam kết của người bán về việc sẽ bán hàng.
-Hoàn giá : bên mua không chấp nhận báo giá trên và đã đưa ra đề nghị
mới .
- Chấp nhận giá : là đồng ý mọi điều kiện về chào hàng mà bên kia đưa
ra,khi đó hợp đồng được thực hiện.
- Xác nhận giá :bên mua và bên bán sau khi đã thống nhất thoã mãn lợi
ích sẽ lập hai biên bản xác nhận, bên lập ký trước và gửi cho bên kia ký xong
giữ một bản và gửi trả lại một bản.
 Ký kết hợp đồng nhập khẩu
Sau khi các bên đã tiến hành đàm phán có kết quả thì việc tiếp theo là ký
kết hợp đồng ngoại thương.

12

Hợp đồng kinh tế ngoại thương là sự thoả thuận của những bên đương sự

13

+ Thời hạn giao hàng : Cần ghi rỏ trong hợp đồng vì nếu không đúng thời
hạn có thể gây thiệt hại lớn cho người mua .
+Địa điểm giao hàng
Phương thức giao hàng
+Thông báo giao hàng
-Điều khoản thanh toán :
+Đồng tiền thanh toán :Phải là đồng tiền ổn định , có khả năng chuyển đổi
.
+Phương thức thanh toán : Có thể trả ngay , trả trước hoặc trả sau và
có thể kết hợp các loại hình đó trong một hợp đồng .
+Hình thức thanh toán : Đây là các đề nghị , yêu sách do người nhập
khẩu đưa ra đối với xuất khẩu do số lượng hay chất lượng giao hàng không đúng
hoặc do một trong hai bên thực hiện không đúng các điều khoản trong hợp đồng
. Trong hợp đồng cần phải ghi rỏ trình tự tiến hành , thời khiếu nại, quyền hạn
và nghĩa vụ của các bên liên quan.
-Điều khoản bất khả kháng.
Những trường hợp thiệt hại về hàng hoá do những nguyên nhân khách
quan như thiên tai, chiến tranh , đình công ,chính sách xuất nhập khẩu được gọi
là trường hợp bất khả kháng. Để đảm bảo quyền lợi cho mỗi bên, các bên phải
ghi rỏ trong hợp đồng tình huống nào đó được coi là trường hợp bất khả kháng.
Hai bên phải thông báo cho nhau bằng văn bản về những quy định tổ chức trung
gian nào chứng minh cho sự việc đó.
-Điều khoản về trọng tài :Điều khoản này có quy định thể thức giải pháp tranh
chấp có thể phát sinh giữa các bên,chọn luật nước và trọng tài nước nào để giải
quyết tranh chấp.
 Thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Sau khi đã ký kết hợp đồng , quyền lợi và nghĩa vụ của bên đã được xác
lập rỏ ràng thì các đơn vị kinh doanh nhập khẩu với tư cách là một bên ký kết sẽ

Bên nhập khẩu sẽ mời cơ quan giám định và cơ quan bảo hiểm đến để
kiểm tra hàng hoá . Việc giám định này do công ty kiểm tra trung gian giám
định .

15

Trên đây là một số khâu quan trọng của công tác nhập khẩu hàng hoá . Để
đạt hiệu quả cao trong hoạt động nhập khẩu các đơn vị nhập khẩu phải thực hiện
đúng , đủ và tốt các khâu này.

IV.CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NHẬP KHẨU
1. Thuế quan và chính sách quản lý của quốc gia về nhập khẩu
Thuế quan là công cụ để nhà nước điều chỉnh nguồn hàng hóa từ bên
ngoài vào hoặc đi ra một cách thích hợp .Bằng hình thức đánh thuế cao hay
thấp của từng chủng loại hàng hoá .
Thuế quan nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu. Thuế quan
nhập khẩu đước áp dụng rất phổ biến trên thế giới .Thuế nhập khẩu tác động
tiêu cực ,tích cực đến doanh nghiệp hay nền kinh tế ,cụ thể như sau:
Về tích cực
 Tạo nguồn thu quan trọng cho nhà nước
 Điều chỉnh hàng hoá từ thị trường nước ngoài vào trong nước
 Bảo vệ thị trường nội địa
Về tiêu cực
 Làm thiệt hại lợi ích của nhà sản xuất và người tiêu dùng
 Khuyến khích một số doanh nghiệp sản xuất có hiệu quả
 Về lâu dài nó gây ra phản ứng sấu ; buôn lậu …
Bên cạnh đó vì mục tiêu chiến lược của quốc gia mà các quốc gia phải
tăng cường quản lý hoạt động nhập khẩu một cách nghiệm ngặt .Tức là điều
chỉnh hàng hoá từ bên ngoài vào trong nước hợp lý để tạo cho doanh nghiệp
trong nước sản xuất kinh doanh tốt .Để đạt được mục đích trên nhà nước dùng

nay, có những điều ước có thể tạo đà cho các quốc xúc tiến hoạt động nhập
khẩu chẳng hạn như điều ước về hải phận…. Bên cạnh đó luật pháp quốc tế
còn nghiêm cấm các quốc gia nhập khẩu những mặt hàng có ảnh hưởng xấu tới
cộng đông như thuốc phẹn, vủ khí hạt nhân…
Tuy nhiên , nhân tố chính trị tác động mạnh đến hoạt động nhập khẩu
.Nếu như một quốc gia tình hình chính trị không ổn định thì hoạtđộng nhập
khẩu hạn chế vì các nhà xuất khẩu sợ rủi ro.

17

Từ trên cho thấy luật pháp quốc gia ,và luật pháp quốc tế tác động mạnh
mẽ đến hoạt động nhập khẩu rất sâu sắc.

3. Sức Cạnh tranh và Nhu cầu của thị trường
Để thắng được đối thủ cạnh tranh ở thị trường trong nước và quốc tế
.Đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải xúc tiến hoạt động nhập khẩu có hiệu
quả
.Đó là nhập khẩu những máy móc ,vật tư ,dây chuyền công nghệ …Để phục vụ
cho quá trình sản xuất kinh doanhcó những sản phẩm chất lượng cao để đáp ứng
nhu cầu của thị trường.Cho nên nhu cầu của thị trường củng là nhân tố tác động
đến hoạt động nhập khẩu.

4. Các yếu tố khác
 Các quan hệ quốc tế
Các quốc gia muốn phát triển để đuổi kịp nền văn minh nhân loại thì cần
mở rộng giao lưu với nhịều quốc gia khác . Khi các quan hệ quốc tế đã hình
thành thì rất thuận lợi cho các hoạt động kinh tế … Trong đó có hoạt động
thương mại và cụ thể hoạt động nhập khẩu thuận lợi. Thực tế cho thấy ,từ các
quan hệ tốt đã hình thành nên các hiệp định như hiệp định song phương ,đa
phương… Chẳnh hạn như việt nam và liên minh châu đã có những cam kết về

hàng, có cơ sở lắp ráp được cơ quan kí quyết định thành lập hoặc cho phép
thành lập xác nhận quyền sở hữu cơ sở lắp ráp và được tổng cục Tiêu chuẩn -
Đo lường –Chất lượng ( Bộ khoa học – Công nghệ và môi trường ) cấp giấy
phép chứng nhận cơ sở có đủ điều kiện lắp ráp .
-Các doanh nghiệp có cơ sở lắp ráp đủ điều kiện trên nhưng chưa có giấy phép
kinh doanh xuất nhập khẩu nếu cần nhập linh kiện CKD để lắp ráp thì Bộ
Thương mại xem xét giải quyết từng trường hợp .
-Các doanh nghiệp được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
được nhập khẩu tối đa bằng số lượng mà doanh nghiệp được phép bán tại Việt
Nam.
Các doanh nghiệp ( gồm doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp thành
lập theo Luật Đầu Tư )có hợp đồng xuất khẩu xe hai bánh gắn máy và đảm bảo
thực hiện được hợp đồng ấy, được nhập số lượng linh kiện tương ứng với hợp
đồng xuất khẩu thành phâm.

Đối với doanh nghiệp việt nam , gồm :

19

- Giấy xác nhận quyền sở hữu cơ sở lắp ráp do cơ quan ký quyết định thành
lập hoặc cho phép thành lập cấp .
- Giây chứng nhận cơ sở có đủ điều kiện lắp ráp do Tổng cục Tiêu chuẩn -
Đo lường – Chất lượng ( Bộ khoa học ,Công nghệ và Môi trường )cấp
.Quyết định thành lập cơ sở lắp ráp.
- Luận chứng kinh tế kỹ thuật.

Đối với doanh nghiệp thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam, gồm:
- Giấy phép đầu tư .
- Kế hoạch tiêu thụ tại Việt Nam và xuất khẩu ra nước ngoài .

gắn máy dạng IKD phát triển, gia tăng mạnh về đầu tư dây chuyền sản xuất xe
máy và linh kiện phụ tùng xe máy. Chủ trương đó dẫn đến việc số lượng xe máy
sản xuất
và lắp ráp ở Việt Nam cũng tăng lên rất nhanh trong thời gian qua.
Qua trên cho thấy hoạt động Nhập khẩu linh kiện lắp ráp ngày càng có vị
trí quan trọng trong ngành xe máy việt nam. Chính vì vậy hàng năm các doanh
nghiệp phải nhập lượng mặt hàng cần thiết cho quá trình lắp ráp cho ra hàng loạt
sản phẩm mới để đáp ứng cho nhu cầu của thị trường trong nước và nước
ngoài.Nên Năm 2000 nâng lên với kim ngạch 30,4triệuUSD Và cho đến năm
2001 do chính sách của nhà nước nới lỏng cho các doanh nghiệp trong nước về
hạn ngạch nhập khẩu.Cho nên đã nâng kim ngạch lên 40,5triệu USD với tốc độ
tăng so với năm 2000 là133,2%. Nhưng vào năm 2002 thì hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước là rất bất lợi cung nhiều hơn cầu về
xe may và do chính sách quản lý của nhà nước bị hạn chế do chính phủ muốn
đảm được các doanh nghiệp trong nước làm ăn thụân lợi . Do vậy, năm 2002
kim ngạch nhập khẩu giảm đi rất nhiều so với năm2001 với tốc độ giảm 50,86%
và tri giá của kim ngạch nhập khẩu linh kiện xe máy là20,2 triệu USD .Trong
khi đó kim ngạch nhập khẩu toàn nước là151,1 triệu USD và chiếm tỷ trọng so
với tổng kim ngach nhập khẩu toàn nước là13,6%.Sau đây, là bảng số liệu về
kim ngạch nhập khẩu linh kiện xe máy của các doanh nghiệp trong nước.

21

Bảng số liệu kim ngạch nhập khẩu linh kiện lắp ráp xe maý của các doanh
nghiệp ở Việt Nam.
Đơn vị:Triệu USD
Năm
Chỉ tiêu
2000 2001 2002
Kim ngạch nhập khẩu linh kiện

ích đáng kể. Ngân sách nhà nước được tăng thêm, tạo thêm nhiều việc làm cho
hàng chục ngàn người lao động và làm cho các doanh nghiệp sản xuất cơ khí
hiện đang gặp rất nhiều khó khăn có cơ hội tìm ra được một thị trường tiêu thụ
mới trong việc sản xuất các linh kiện chi tiết, phụ tùng của xe hai bánh gắn máy.
Người dân Việt Nam đã rất quen thuộc đối với các nhãn hiệu xe máy Nhật
Bản như Honda, Suzuki, Yamaha nhất là khi các liên doanh sản xuất xe gắn
máy mang những thương hiệu này được thành lập và đi vào hoạt động ở Việt
Nam. Tuy nhiên giá bán xe máy tại những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài vẫn cao hơn nhiều so với giá các loại xe cùng chủng loại được sản xuất tại
các nước ASEAN và Đài Loan, thậm chí còn cao hơn nhiều so với luận chứng
kinh tế kỹ thuật. Việc làm này gây thiệt hại đến lợi ích của người tiêu dùng
nhưng mang lại siêu lợi nhuận cho các nhà sản xuất lắp ráp và kinh doanh xe
máy. Chính vì vậy, một bộ phận lớn người dân vẫn chưa thể mua được xe máy,
đặc biệt là ở khu vực nông thôn và miền núi.

Trích đoạn Các chỉ tiêu hoạtđộng sản xuất kinh doanh năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status