Trường ĐH. Kỹ Thuật Công Nghệ TP. Hồ Chí Minh
ĐỀ TÀI :
GV: Trần thị Trang
Nhóm : 6
1. Vũ Thị Nga ( nhóm trưởng)
2. Trần Thị Thuỳ Ngân
3. Lê Thị Thuỷ Tiên
4. Hoàng vĩnh Khang
5. Huỳnh Trung Nhân
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
e. Tâm lý 4
II - THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM: 5
1 . Gai đoạn trước năm 1988 5
2 . Giai đoạn từ 1989-1992 7
3. Giai đoạn từ 92 đến khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam
Á (tháng 7 năm 1997) 9
4. Giai đoạn từ tháng 7 /1997 đến ngày 26/2/1999 15
5. giai đoạn từ sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực đến trước khi
Việt Nam gia nhập WTO (1999-2006) 18
6. Thời kỳ từ tháng 11/2006 – nay (Từ khi gia nhập WTO ) 18
III – ĐÁNH GIÁ: 21
IV – KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 22
1. Kiến nghị : 22
2 . Giải pháp 22
V – KẾT LUẬN : 23
Biểu đồ 1: Tỷ lệ lạm phát từ 1980 đến 1987(nguồn :)
7
Biểu đồ 2 : thống kê tỷ giá hối đoái từ 1989 – 1992 của Ngân hang Ngoại Thương
Việt Nam 8
Biểu đồ 3 : tình hình lạm phát từ 1989 đến 1992 9
Biểu đồ 4: tỷ giá danh nghĩa qua các năm (1992-1996) – số liệu : ngân hang nhà
nước Việt Nam 11
Biểu đồ 5 : tỷ lệ lạm phát từ 1993 đến 1997 12
Biểu đồ 6: tỷ giá từ 13/10/1997 đến 15/1/1999 ( số liệu – ngân hàng nhà nước Việt
Nam) 14
Biểu đồ 7 : tỷ lệ tiền gửi USD / tổng tiền gửi 15
Biểu đồ 8 : tỷ lệ các khoản vay ngoại tệ / trên tổng dư nợ 16
Biểu đồ 9 : tỷ lệ lạm phát từ 1997 đến 2006 17
Biểu đồ 10 : tỷ giá VND/ USD bình quan trên thị trường liên ngân hàng từ
26/12/2006 đến 4/1/2007 19
Tỷ giá hối đoái chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó hai nhân tố quan trọng
1
nhất là sức mua của đồng tiền và tương quan cung cầu ngoại tệ. Khi lạm phát tăng,
sức mua đồng nội tệ giảm so với ngoại tệ, làm cho tỷ giá hối đoái của đồng ngoại
tệ so với nội tệ tăng (hay tỷ giá đồng nội tệ so với ngoại tệ giảm) và ngược lại. Nếu
đồng nội tệ giảm, tỷ giá hối đoái cao có tác dụng:
- Kích thích các hoạt động xuất khẩu, hạ chế nhập khẩu, góp phần tăng thu ngoại
tệ, cải thiện cán cân thanh toán.
- Với tỷ giá hối đoái cao sẽ khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối, hạn chế các
hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, kết quả là làm cho sức mua của đồng nội
tệ tăng lên.
2. Nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái:
a. Cung cầu ngoại tệ :
Tỷ giá hối đoái, tức tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền cao hay thấp đựơc quyết định
bởi các lực lượng thị trường, cung và cầu. Cung ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị
trường muốn bán ra để thu về nội tệ. Cầu ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị trường
muốn mua vào bằng các đồng nội tệ. Giá cả ngoại tệ, tỷ giá hối đoái cũng được xác
định theo quy luật cung cầu như đối với các hàng hoá thông thường. Khi cung
ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ sẽ làm cho giá ngoại tệ giảm, tức tỷ giá hối đoái tăng.
Ngược lại, khi cầu ngoại tệ lớn hơn cung ngoại tệ giá ngoại tệ sẽ tăng, tức tỷ giá
giảm. ở vị trí cung ngoại tệ bằng cầu ngoại tệ xác định trạng thái cân bằng, không
có áp lực làm cho tỷ giá thay đổi. Ta có thể hình dung cơ chế hình thành tỷ giá
được hiểu thị từ khi có sự khác nhau về cung và cầu ngoại tệ. Khi cung ngoại tệ
lớn hơn cầu ngoại tệ, lượng ngoại tệ mà thị trường cần bán ra nhiều hơn lượng
ngoại tệ cần mua vào, khi đó có một số người không bán được sẽ sẵn sàng bán với
mức giá thấp hơn và làm cho giá ngoại tệ trên thị trường giảm. Tư duy tương tự,
khi cầu lớn hơn cung, một số người không mua được ngoại tệ sẵn sàng trả giá cao
hơn và gây sức ép làm giá ngoại tệ trên thị trường tăng. Khi cung ngoại tệ bằng cầu
ngoại tệ, lượng ngoại tệ mà thị trường cần mua đúng bằng lượng ngoại tệ cần bán
2
thu hút được các luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi trường đầu tư
thuận lợi, nền chính trị ổn định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn lao động dồi
dào có tay nghề, thị trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và sự thông thoáng trong
chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Chính phủ.
d. Lạm phát :
Lạm phát ảnh hưỏng đến tỷ giá hối đoái. Khi một nước có lạm phát, sức mua đồng
nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn
trên thị trường nứơc ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên thị
trường trong nứơc. Theo quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang
dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá
hối đoái tăng. Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu
hơn. Hoạt động xuất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối
đoái tăng. Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng
tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên
thị trưòng tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm
giữ các tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng.
Trong trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ
thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa các quốc gia. Quốc gia nào có tỷ lệ lạm
phát cao hơn, đồng nội tệ quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối
đoái tăng.
e. Tâm lý :
Nhân tố cuối cùng và cũng là nhân tố quan trọng nhất tác động đến tỷ giá hối đoái
đó là tâm lý số đông. Người dân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các tổ chức
4
kinh doanh ngoại tệ là các tác nhân trực tiếp giao dịch trên thị trường ngoại hối.
Hoạt động mua bán của họ tạo nên cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Các hoạt
động đó lại bị chi phối bởi yếu tố tâm lý, các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào
tương lai. Điều này giải thích tại sao, giá ngoại tệ hiện tại lại phản ánh các kỳ vọng
của dân chúng trong tương lai. Nếu mọi ngưòi kỳ vọng rằng tỷ giá hối đoái sẽ tăng
trong tương lai, mọi người đổ xô đi mua ngoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện
Tỷ lệ lạm phát từ năm 1980 đến 1987
Năm Lạm phát, giá tiêu dùng trung bình Thay đổi phần trăm
1980 25.156
1981 69.6 176.67 %
1982 95.401 37.07 %
1983 49.487 -48.13 %
1984 64.897 31.14 %
1985 91.602 41.15 %
1986 453.538 395.12 %
1987 360.357 -20.55 %
1988 374.354 3.88 %
Biểu đồ 1: Tỷ lệ lạm phát từ 1980 đến 1987
6
(nguồn: />ml)
2. Giai đoạn từ 1989-1992.
Giai đoạn này có thể được coi là cái mốc quan trọng trong phát triển TGHĐ ở
nước ta khi quan hệ ngoại thương được bao cấp với các thị trường truyền thống
Đông Âu và Liên Xô(cũ) bị gián đoạn , khiến chúng ta phải chuyển sang buôn bán
với khu vực thanh toán bằng dola Mỹ. trong giai đoạn này nền kinh tế chịu tác
động của chính sách thả nổi tỷ giá. Tỷ giá hối đoái VND/USD biến động mạnh
theo xu hướng giá trị đồng dola Mỹ tăng liên tục kèm theo các cơn “sốt”, các đột
biến với biên độ rất lớn ( Từ cuối năm 1990 trở đi ).
Tình trạng leo thang của giá đồng dola đã kích thích tâm lý nắm giữ đồng dola ,
nhằm đầu cơ ăn chênh lệch giá.Dẫn đến Ngoại tệ vốn đã khan hiếm lại trở nên
khan hiếm hơn. Trong giai đoạn này Ngân hàng không kiểm soát được lưu thông
tiền tệ , mọi cố gắng quản lý ngoại tệ của chính phủ ít đem lại hiệu quả.
Trong các năm 1991-1992 do ảnh hưởng của sự đổ vỡ các mối quan hệ ngoại
thương với Liên Xô và Đông Âu , nhập khẩu giảm sút một cách nghiêm trọng
(năm 1991 là 357.0 triệu USD đến năm 1992 chỉ còn 91,1 triệu USD). Các doanh
cho chính phủ quyết định chuyển sang chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chính phủ đã
thay đổi cơ chế điều hành tỷ giá với những nội dung cụ thể sau:
- Quy định biên độ giao động của tỷ giá với tỷ giá chính thức được công bố bởi
Ngân hàng nhà nước (công bố tỷ giá chính thức mỗi ngày và xác định rõ biên độ
giao động); Tăng cường sức mạnh của các biện pháp hành chính mà cụ thể là buộc
các đơn vị kinh tế (trước hết là đơn vị kinh tế quốc doanh) có ngoại tệ phải bán cho
Ngân hàng theo tỷ giá nhất định.
- Bãi bỏ hoàn toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại
thương giữa ngân sách với các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động ngoại
thương. Thay vào đó là việc áp dụng tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước
công bố.
Chính phủ đã tăng cường công tác thông tin,cho công khai hóa một cách
nhanh chóng và chính xác chỉ số kinh tế quan trọng như tỷ giá chính thức, tỷ giá
thị trường, chỉ số giá, sự biến động giá vàng…Nhờ vậy hạn chế được hoạt động
đầu cơ, giải tâm lý hoang mang…Chính phủ cũng chú trọng tăng cường thực lực
kinh tế cho hoạt động can thiệp vào tỷ giá bằng cách gia tăng mạnh mẽ dự trữ
ngoại tệ,lập quỹ bình ổn giá.
- Đẩy mạnh hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ ( trung tâm giao dịch
ngoại tệ tại trực tiếp Hồ Chí Minh được mở cửa từ tháng 8 năm 1991 ) để
cho các đơn vị kinh tế và các tổ chức tín dụng trao đổi , mua bán ngoại tệ
với nhau theo giá tự thoả thuận, tạo ra môi trường điều kiện để cung cầu
thực sự gặp nhau . Sau đó,tiến dần tới việc thành lập thị trường ngoại tệ liên
Ngân hàng tháng 9 năm 1994 thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được thành
9
lập nhằm mục đích hình thành thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa
các Ngân hàng thương mại được phép kinh doanh ngoại tệ. Thông qua thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng, Nhà nước sử dụng quỹ điều hòa ngoại tệ với
tư cách là người mua, người bán cuối cùng để can thiệp thị trường một cách
có hiệu quả nhằm thực hiện chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá của Nhà
nước.
Nói chung tình hính cung cầu ngoại tệ và TGHĐ luôn được ổn định trong suốt
thời gian dài từ năm 1993 đến đầu năm 1997.
4. Giai đoạn từ tháng 7 /1997 đến ngày 26/2/1999
11
Ngày 2/7/1997 Thái lan phải "thả nổi" TGHĐ kết thúc gần 14 năm duy trì một
chế độ cố định và cũng là ngày đánh dấu làm nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính
Đông nam á với một ảnh hưởng rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới. Việt Nam
cũng không thể tránh khỏi cuộc khủng hoảng. Một loạt các đồng tiền của các nước
bạn hàng bị mất giá so với USD. Trong chính sách tỷ giá cố định ở thời kỳ trước
đồng VNĐ đang bị định giá cao thì nay lại càng tăng giá hơn. Xét trên góc độ vĩ
mô, sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Đông nam á đối với nền kinh tế
Việt Nam tạo nên một cơn sốc rộng khắp trên các mặt của nền kinh tế chẳng hạn
như:
Thứ nhất, đối với lĩnh vực tài chính Ngân hàng
- Tạo sức ép giảm giá đồng Việt Nam trên thị trường ngoại tệ
- Tác động xấu đến hoạt động giai dịch ngoại tệ
- Tăng gánh nặng nợ cho các doanh nghiệp
- Gây sức ép đối với lãi suất đồng tiền Việt Nam và đe doạ sự mất ổn định của hệ
thống Ngân hàng.
-Tác động đến xuất khẩu: tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực châu á -
Thái Bình Dương chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch, riêng các nước ASIAN
chiếm 23% tổng kim ngạch trước khi sảy ra cuộc khủng hoảng nên cuộc khủng
hoảng tất yếu sẽ làm giảm xuất khẩu của Việt Nam.
- Tác động đến nhập khẩu: Sự mất giá của đồng tiền trong khu vực đã kích thích
gia tăng nhập khẩu, trước hết là nhập khẩu tiểu ngạch từ Thái lan và hàng trung
chuyển từ Campuchia, Lào và Việt Nam.
Thứ hai , đối với lĩnh vực đầu tư:
Do tỷ giá tăng, lãi suất tăng, thị trường hàng hoá diễn biến phức tạp cùng với
dự đoán không tốt trong tương lai tất yếu sẽ là các doanh nghiệp hạn chế đầu tư và
Ngân hàng cũng rất dè dặt khi cho vay. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã có xu
còn 7% đồng thời nâng tỷ giá chính thức lên 1USD = 12998 là 1USD = 12992
VND, ngày 6/11/1998 là 1USD = 12989VND,ngày 26/11/98 là1USD =
13
12987VND… cho đến ngày 15/1/1999 thì tỷ giá chính thức chỉ còn ở mức 1USD =
12980VND.
Biểu đồ 6: tỷ giá từ 13/10/1997 đến 15/1/1999 ( số liệu – ngân hàng nhà nước Việt
Nam)
5. giai đoạn từ sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực đến trước khi
Việt Nam gia nhập WTO (1999-2006)
Trong giai đoạn này, kết quả tích cực do việc điều chỉnh tỷ giá mang lại là nó đã
hạn chế được phần nào nhập khẩu và giảm nhập siêu một cách rõ rệt. Nhưng đồng
thời,việc điều chỉnh tỷ giá đã làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài. Tính đến tháng
10/1998,so với mức nợ nước ngoài 22 tỷ USD, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái đã
làm cho nó tăng thêm 42,86 triệu USD, cộng với 17,86 triệu USD tiền lãi, tổng
cộng là 60,72 triệu USD đã gây khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp có vốn vay
nước ngoài, thậm chí đẩy thêm nhiều doanh nghiệp vào tình trạng thua lỗ. Đây
chính là cái giá phải trả khi
duy trì lựa chọn chính sách tỷ giá thiên về cố định bằng cách duy trì ổn định tỷ giá
quá lâu. Và một khi thời gian duy trì cố định càng dài thì sự đánh đổi càng lớn cho
các nhà hoạch định chính sách.
Do bị tác động bởi khủng khoảng tài chính của khu vực Đông Á, khi đó Việt
Nam buộc phải phá giá VND để hạn chế những tác động tiêu cực của cuộc khủng
hoảng đến nền kinh tế Việt Nam. Đồng thời, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lãi
suất VND có xu hướng giảm, cộng thêm lãi suất trên thị trường quốc tế có xu
hướng tăng nên xảy ra hiện tượng chuyển dịch từ VND sang USD, tỷ lệ tiền gửi
14
USD / tổng tiền gửi tăng từ mức 33% năm 1997 lên mức 36,6% năm 2000 và 41%
năm 2001.
Biểu đồ 7 : tỷ lệ tiền gửi USD / tổng tiền gửi
Ngược lại thì các khoản vay bằng ngoại tệ/ trên tổng dư nợ lại có xu hướng giảm
1999 4.108 -49.35 %
2000 -1.768 -143.04 %
2001 -0.31 -82.47 %
2002 4.079 -1,415.81 %
2003 3.303 -19.02 %
2004 7.895 139.03 %
2005 8.394 6.32 %
2006 7.503 -10.61 %
16
Biểu đồ 9 : tỷ lệ lạm phát từ 1997 đến 2006
6. Thời kỳ từ tháng 11/2006 – nay (Từ khi gia nhập WTO ).
Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã được kết nạp vào Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO). Đối với nước ta, sự kiện này có một ý nghĩa đặc biệt. Đây là kết quả của
quá trình đổi mới nhằm mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường XHCN và hội
nhập kinh tế quốc tế. Gia nhập WTO với những cơ hội và thách thức mới cho Việt
Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế. Trước những cơ hội và thách thức đó, lựa chọn
những bước đi đúng đắn và phù hợp trong cơ chế điều hành tỷ giá là điều trăn trở
của các nhà hoạch định chính sách.
Đầu năm 2007, đã có những biến động lớn trong chính sách điều hành tỷ giá
của Ngân hàng Nhà nước thể hiện ở những nội dung sau:
- Nới rộng biên độ tỷ giá: Ngày 02/01/2007, NHNN đã nới rộng biên độ tỷ giá
ngoại tệ từ + 0,25% lên +0,5% so với tỷ giá liên ngân hàng. Việc điều chỉnh này
được cho là mở đường cho sự giảm giá của VND so với USD.
- Sự can thiệp vào chính sách tỷ giá của NHNN: Trong ngày 2 và 3 tháng 01 năm
2007, NHNN đã mua ngoại tệ của các NHTM với số lượng nhiều hơn nhằm giảm
bớt tình trạng thừa USD trên thị trường. Ước tính trong 2 ngày, NHNN đã mua vào
trên 140 triệu USD.
- Tỷ giá VND/USD bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng áp dụng cho
ngày giao dịch do Ngân hàng Nhà nước công bố có cao hơn một chút (nếu ngày
17
tức là cho phép các ngân hàng được tự đưa ra tỷ giá trong "phạm vi cho phép" là
+/-1% so với tỷ giá chính thức liên ngân hàng.
- Ngày 26/6/2008 NHNN ban hành quyết định số 1346 mở rộng biên độ lên
+2% và ngày 6/11/2008 NHNN tiếp tục ban hành quyết định số 2635 mở
rộng biên độ lên + 3% với mục đích điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt
hơn giúp cho các tổ chức kinh tế và tổ chức tín dụng thích ứng tốt hơn với
các biến động trên thị trường thế giới hiện nay.
Thời gian Mua tiền mặt Mua chuyển khoản Bán
1/9/09 17,825.00 17,825.00 17,825.00
1/10/09 17,842.00 17,842.00 17,842.00
19
1/11/09 17,862.00 17,862.00 17,862.00
1/12/09 18,482.00 18,482.00 18,492.00
1/1/10 18,465.00 18,465.00 18,479.00
1/2/10 18,469.00 18,469.00 18,479.00
1/3/10 19,050.00 19,050.00 19,100.00
10/4/10 19,000.00 19,000.00 19,080.00
20/4/10 18,960.00 18,960.00 19,020.00
Bảng 1 : Tỷ giá hối đoái các tháng từ 12/2009 đến 4/2010 (ngân hàng Công
Thương Việt Nam)
III – ĐÁNH GIÁ:
• Tiến bộ:
• Ổn định tỷ giá, góp phần hạn chế tốc độ tăng của chỉ số giá
• Giá cả ngoại tệ từng bước được gắn với cung - cầu
• Từng bước nâng cao vị thế VND
• Có nhiều chuyển biến tích cực về mặt chính sách theo hướng tỷ giá
ngày càng linh hoạt
• Sử dụng rổ tiền tệ làm nền tảng điều hành chính sách tỷ giá
• Tồn tại:
• Cung-cầu ngoại tệ bị biến dạng, không phản ánh đúng thực tế khách