Chuyên đề thực tập
MỞ ĐẦU
Sự phát triển không ngừng của ngành du lịch Việt Nam trong những năm qua đã
tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các công ty hoạt động
trong lĩnh vực này. Quy mô của các công ty du lịch ngày càng mở rộng, số vốn giành
cho đầu tư phát triển ngày càng nhiều. Tuy nhiên, việc sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn đầu tư của các doanh nghiệp này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, gây ra sự kém
hiệu quả của hoạt động đầu tư, quá trình đầu tư không đạt được những kết quả như
mong muốn. Nếu không giải quyết một cách triệt để những hạn chế này sẽ gây ra sự
lãng phí nguồn vốn đầu tư của bản thân doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế.
Nhận thấy sự cần thiết của vấn đề trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Đầu tư phát
triển hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch của công ty cổ phần du lich Bưu
điện giai đoạn 2000-2005” để nghiên cứu và thực hiện chuyên đề tốt nghiệp.
Kết cấu của chuyên đề gồm 2 chương:
Chương I: Đầu tư và hoạt động kinh doanh du lịch đối với sự phát triển kinh tế
xã hội của Việt Nam giai đoạn 2000-2010.
Chương II: Một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, hạn chế, nâng
cao hiệu quả hoạt động đầu tư tại công ty cổ phần du lịch Bưu điện đến năm 2010.
Do vốn kiến thức còn hạn chế, ít kinh nghiệm thực tế nên trong quá trình thực
hiện đề tài không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy
cô và các bạn để đề tài trên được hoàn thiện hơn nữa.
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
1
Chuyên đề thực tập
Chương I
ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2010.
A. ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH:
I. ĐẦU TƯ VỚI SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA MỖI QUỐC
GIA:
1. Đầu tư là gì?
Đầu tư ảnh hưởng hai mặt đến sự ổn định và phát triển kinh tế. Một mặt, nó tác
động thúc đẩy quá trình phát triển đi lên của nền kinh tế do tạo thêm được những tài
sản, nguồn lực mới, nhưng mặt khác, nó lại là nguyên nhân dẫn đến những hiện
tượng gây hại đến sự phát triển kinh tế như lạm phát.
Đầu tư có ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một cơ cấu đầu tư hợp lí
sẽ tạo ra được một cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo ra sự cân đối trên phạm vi toàn nền kinh
tế quốc dân, giữa các ngành, các vùng, phát huy được vai trò nội lực của nền kinh tế
trong khi vẫn xem trọng yếu tố ngoại lực.
Đầu tư có tác động đến việc nâng cao trình độ khoa học công nghệ của đất
nước. Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công
nghệ.
Đầu tư có tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế. Kết quả nghiên
cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì
tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15%-20% so với GDP tùy thuộc vào trình độ phát triển
của từng nước. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư được coi là “cú hích ban
đầu” tạo đà cho sự cất cánh của nền kinh tế. Còn đối với các quốc gia phát triển, đầu
tư để duy trì sự phát triển ổn định và đúng hướng.
Đầu tư giúp giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động, làm
gia tăng khả năng tiêu dùng cho dân cư, thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch
vụ của xã hội. Khi tiến hành công cuộc đầu tư, cầu về các yếu tố đầu vào cho dự án
tăng, sản xuất của các ngành có liên quan phát triển, thu hút thêm sức lao động, người
lao động có được thêm việc làm đồng nghĩa với việc tăng thu nhập và tăng tiêu dùng
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
3
Chuyên đề thực tập
của người lao động, góp phần giảm tệ nạn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình phát triển kinh tế.
Xét trên góc độ vi mô, đối với doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất và kinh doanh
thì đầu tư chính là yếu tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở.
Nếu không có đầu tư, doanh nghiệp sẽ sớm bị đánh bại trên thị trường.
việc đồng Euro lên giá làm giá của các tour du lịch đến Pháp trở nên đắt đỏ, ngành du
lịch của quốc gia này vẫn đạt tốc độ tăng trưởng 0,5% trong năm 2005, đón 75 triệu
lượt khách quốc tế, doanh thu đạt 130 tỷ Euro tăng 3,5% so với năm 2004 và là
ngành đóng góp nhiều nhất vào thu nhập quốc dân, chiếm 6,5% GDP, đứng trên cả
ngành công nghiệp ôtô.
Còn đối với các quốc gia đang phát triển, thống kê cho thấy, tại 49 nước kém
phát triển nhất trên thế giới, tập trung chủ yếu ở Châu Phi thì du lịch là ngành mang
lại nguồn thu lớn nhất, đặc biệt là nguồn thu ngoại tệ, đây là điều có ý nghĩa rất quan
trọng đối với sự phát triển của các quốc gia này.
2. Du lịch-ngành kinh tế trợ giúp đắc lực cho quá trình giải quyết việc làm:
Không chỉ là ngành mang lại nguồn thu lớn cho đất nước, du lịch còn góp phần
không nhỏ trong việc giải quyết việc làm cho lao động, tăng thu nhập cho người dân.
Tính riêng năm 2005, với tốc độ tăng 5,7% ngành du lịch toàn thế giới đã tạo thêm
2,5 triệu việc làm mới nâng tổng số nhân viên hoạt động trực tiếp trong ngành lên
đến 76,7 triệu chiếm 2,8% tổng số việc làm trên thế giới. Nếu tính cả lao động gián
tiếp thì tổng số người sống nhờ du lịch và lữ hành là 234,3 triệu người, chiếm 8,7%.
Du lịch được đánh giá là một công cụ hữu hiệu giúp xóa đói giảm nghèo do
việc phát triển du lịch không đơn thuần chỉ phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế
mà còn phụ thuộc khá lớn vào các điều kiện về tự nhiên, đặc điểm văn hóa, xã hội
của mỗi quốc gia. Du lịch tạo ra nhiều việc làm, trong đó có cả những việc làm không
đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, điều này rất quan trọng đối với những vùng núi cao,
những vùng kém phát triển, là những nơi rất khó kiếm việc làm. Thậm chí, các vùng
kém phát triển về kinh tế và không có những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát
triển hoạt động du lịch cũng có thể thu hút được khách du lịch ghé thăm nếu tận dụng
được những điều kiện sẵn có của mình, chẳng hạn như Thái Lan, một quốc gia đã có
ngành du lịch khá phát triển, nhưng vùng nông thôn, các làng nghề thủ công của Thái
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
5
Chuyên đề thực tập
Lan lại chưa được tiếp xúc nhiều với ngành công nghiệp này, chính phủ đã biến du
Chuyên đề thực tập
kinh đô thời trang của thế giới, mức chi tiêu trung bình của khách du lịch khi tới đây
là 5000 USD. Nhằm mục đích giúp cho các dịch vụ du lịch được hấp dẫn hơn, giúp
cho khách du lịch được “tiêu tiền”, nhiều quốc gia đã không tiếc tiền đầu tư vào các
trung tâm giải trí, điển hình là Hồng Kông, chính phủ của nước này đã chi tới 1,2 tỷ
USD cho việc cải tạo công viên Disneyland, 5,5 tỷ USD cho việc nâng cấp công viên
Đại Dương và 40tỷ USD giành cho việc xây dựng trung tâm văn hóa.
Bên cạnh đó, việc phát triển ngành du lịch, đón tiếp bạn bè quốc tế đến thăm và
đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá hình ảnh đất nước và con người đã góp phần đưa
thế giới lại gần nhau hơn, khai thác được nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá mà
thiên nhiên đã ban tặng, đồng thời tăng cường sự giao lưu giữa nhân dân các nước
trên thế giới.
Với tốc độ phát triển nhanh chóng, du lịch dần trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn
đối với mọi quốc gia trên thế giới.
III. ĐẦU TƯ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH:
1. Vai trò của đầu tư với sự phát triển ngành du lịch:
Cũng giống như các ngành khác của nền kinh tế, đầu tư nắm giữ một vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy ngành du lịch phát triển.
Theo điều 4- Luật Du lịch Việt Nam định nghĩa: “Sản phẩm du lịch là tập hợp
các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”,
và “dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn
uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm thỏa mãn
nhu cầu của khách du lịch”.
Ngành du lịch là một ngành phát triển không chỉ đơn thuần dựa vào các điều
kiện sẵn có về tự nhiên, địa hình, lịch sử, văn hóa sẵn có mà còn phụ thuộc rất nhiều
vào các điều kiện về cơ sở hạ tầng, các dịch vụ cung cấp cho khách du lịch. Ngành du
lịch của một quốc gia sẽ khó có thể phát triển được nếu chỉ có những điều kiện tự
nhiên, di tích lịch sử đơn thuần, như Campuchia, một quốc gia có ngôi đền nổi tiếng
Angkor Vat, nơi mà nhiều chuyên gia đánh giá là một trong những kiện tác của nhân
loại, song, ngành du lịch của Campuchia hàng năm chỉ đón tiếp được hơn 2 triệu
phương, các ngành, các cấp trong việc tiến hành các công cuộc đầu tư phát triển du
lịch là một việc làm cần thiết, vừa tạo ra tính thống nhất, lại vừa tạo được tính chuyên
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
8
Chuyên đề thực tập
nghiệp trong quá trình cung cấp sản phẩm. Bên cạnh việc đầu tư mở rộng kinh doanh
của doanh nghiệp du lịch, để có một ngành du lịch phát triển, Nhà Nước cũng cần
phải tích cực tham gia đầu tư vào lĩnh vực này thông qua việc đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng, phối hợp đầu tư cùng với doanh nghiệp để tạo nên một tổng thể du lịch phát
triển toàn diện. Ở Malaysia, năm 1965, khi nền kinh tế còn ở giai đoạn chậm phát
triển, chính phủ không đánh giá cao vai trò của ngành du lịch, một nhà thầu xây dựng
tư nhân với số vốn khổng lồ đã quyết định đầu tư phát triển một khu du lịch trên cao
nguyên Cameron. Tuy có số vốn khổng lồ nhưng việc phát triển một khu cao nguyên
còn hoang sơ, cơ sở hạ tầng khó khăn, giao thông đi lại không thuận tiện, điện nước
hoàn toàn không có, nếu chỉ để một mình nhà thầu tổ chức thực hiện sẽ không có tính
khả thi. Thấy được tiềm năng của khu vực này, chính phủ đã bắt tay với nhà thầu tư
nhân cùng nhau tiến hành xây dựng cơ sở vật chất cho toàn bộ vùng đồi núi Genting
thuộc cao nguyên Cameron, các chính sách về thuế và tiền thuê đất ưu đãi nhất đã
được áp dụng, nhà thầu tiến hành xây dựng khu du lịch, Nhà nước hỗ trợ cải tạo cơ
sở hạ tầng giao thông vận tải, hỗ trợ thêm kinh phí cho quá trình xây dựng của nhà
thầu, thậm chí, chính phủ Malaysia đã đồng t ý cho xây dựng casino đầu tiên của đất
nước tại khu vực này. Kết quả của công cuộc đầu tư này nằm ngoài tầm dự đoán, sự
phát triển thành công của khu du lịch không chỉ tạo cho nhà thầu đầu tư những khoản
lợi nhuận khổng lồ mà còn tạo cho quốc gia Đông Nam Á này một ngành du lịch phát
triển vượt bậc so với các nước trong khu vực. Hàng năm, chỉ riêng khu nghỉ mát này
đã thu hút 15 triệu du khách trong và ngoài nước tới đây, thu về hàng tỷ đô la từ các
dịch vụ du lịch. Đây là chính là kết quả của sự hợp tác thành công giữa chính phủ và
doanh nghiệp.
Hoạt động đầu tư trong lĩnh vực du lịch cần phải được tiến hành đồng bộ, theo
quy hoạch cụ thể thì mới tạo được sức hút trong hoạt động kinh doanh. Khi tiến hành
tìm hiểu những nền văn hóa mới, độc đáo và riêng biệt với những điều kiện tự nhiên
thuận lợi. Nếu như khi đầu tư vào phát triển du lịch ở địa phương nhưng lại đem mô
hình phát triển của địa phương khác, nước khác để học tập, mô phỏng một cách rập
khuôn thì sẽ không thu được hiệu quả cao, không tận dụng được nguồn tài nguyên tại
địa phương, đôi khi đầu tư nhiều lại mang lại hiệu quả ngược lại. Những năm trước,
hai quốc gia Singapore và Hồng Kông tận dụng lợi thế phát triển về kinh tế của mình
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
10
Chuyên đề thực tập
để đưa ngành du lịch đi lên nhanh chóng, trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn
trong nền kinh tế. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tốc độ phát triển của ngành
này lại có phần đi xuống, đặc biệt là khách du lịch từ châu Âu có phần giảm hơn so
với các giai đoạn trước, nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là do khách du lịch đã
đánh giá hai quốc gia này ngày càng có nhiều điểm giống với du lịch ở châu Âu, đã
mất dần đi nét đẹp Á đông vốn có, giảm sức thu hút, do vậy, nhiều khách châu Âu đã
chuyển sang đi các tour du lịch đến các quốc gia khác trong khu vực như Trung
Quốc, Việt Nam, Thái Lan,.... nơi du lịch vẫn mang được nét bản sắc văn hoá vốn có,
không chịu nhiều tác động của văn hóa phương Tây.
Bên cạnh những đặc điểm trên, đầu tư trong lĩnh vực du lịch còn cần phải tính
đến tính chất mùa vụ của hoạt động này. Ở những khu nghỉ mát nổi tiếng, vào mùa
du lịch, các trung tâm vui chơi, các khách sạn đều kín người, công suất thường xuyên
đạt mức 100%, cung không đủ cầu, nhưng khi kỳ nghỉ kết thúc, các khách sạn trở nên
vắng vẻ, có khi chỉ đạt công suất dưới 30%, nhân viên không đủ việc làm, nhiều
người phải nghỉ việc. Do vậy, khi tiến hành đầu tư cần phải tính đến tính chất mùa vụ
trong hoạt động này để có thể tranh thủ được thời cơ cũng như có những biện pháp
để hạn chế lãng phí do hiện tượng này gây ra.
B. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH DỊCH
VỤ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2005:
I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM:
1. Tiềm năng du lịch Việt Nam:
lần, khách nội địa tăng lên 10 lần.
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
12
Chuyên đề thực tập
Tình hình phát triển ngành du lịch Việt Nam
0
5
10
15
20
25
30
35
năm
khách quốc tế (triệu lượt)
2.3 2.63 2.43 2.93 3.5
khách nội địa (triệu lượt)
11.7 13 13 14.5 16.1
Doanh thu từ du lịch (nghìn tỷ
đồng)
20.5 23.5 25 26 30
2001 2002 2003 2004 2005
(Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam)
Doanh thu từ du lịch năm 2005 đạt 30 nghìn tỷ đồng chiếm 5% GDP cả nước,
trong đó, doanh thu ngoại tệ đạt 1,5 tỷ đôla. Du lịch hiện tại là ngành dịch vụ mang
lại nguồn doanh thu lớn nhất cho nền kinh tế quốc dân. Ngành du lịch đã tạo việc làm
cho 250 nghìn lao động trực tiếp và 450 nghìn lao động gián tiếp, chiếm gần 6% tổng
số lao động của cả nước. Dự tính đến năm 2010, lao động trong ngành du lịch sẽ
chiếm 12% tổng số lao động.
Nhận thấy được vai trò quan trọng của ngành công nghiệp không khói này,
liên tiếp đầu tư vào Việt Nam. Chỉ tính riêng trong năm 2005, cả nước có 190 dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài và các khu du lịch và khách sạn với tổng vốn đăng ký là
4,46 tỷ đôla, góp phần không nhỏ vào việc cải thiện môi trường du lịch Việt Nam.
Trong nhiều năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to
lớn. Năm 1988, so với một số nước trong khu vực, ngành du lịch nước ta còn kém
phát triển, lượng khách quốc tế đến Việt Nam chỉ bằng 1/40 so với Singapore, Thái
Lan, nhưng đến năm 2003, con số này là 1/3, đây là một bước tiến đáng kể với du
lịch Việt Nam. Đi đôi với việc tăng lượng du khách trong nước và quốc tế, cơ sở vật
chất phục vụ cho ngành cũng được cải thiện đáng kể. Cả nước hiện có gần 80 nghìn
phòng khách sạn, trong đó hơn một nửa đạt tiêu chuẩn quốc tế, phương tiện vận
chuyển du lịch được hiện đại hóa, các cơ sở, khu vui chơi giải trí được đầu tư xây
dựng mới và nâng cấp, với điều kiện cơ sở vật chất như vậy, nước ta có thể đón tiếp
thêm hàng triệu khách du lịch trong năm tới. Để hòa chung với xu hướng phát triển
du lịch trên toàn thế giới, du lịch nước ta đã thiết lập quan hệ và mở rộng hợp tác với
nhiều tổ chức du lịch quốc tế, nước ta đã tham gia vào các tổ chức như Tổ chức Du
lịch Thế giới (UNWTO), hiệp hội lữ hành Châu Á-Thái Bình Dương (PATA), kí kết
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
14
Chuyên đề thực tập
nhiều hiệp định song phương về hợp tác du lịch với các quốc gia trên thế giới.... Du
lịch Việt Nam đã có một chỗ đứng vững chắc trên bản đồ du lịch thế giới, trong
nhiều năm gần đây, với tốc độ tăng trưởng trung bình 7,5%/năm, Việt Nam hiện
đứng thứ 6 trên thế giới về tốc độ phát triển du lịch, đến năm 2005, xét về số lượt
khách quốc tế, Việt Nam đứng thứ 50 trên tổng số 191 quốc gia có số liệu thống kê.
Dự đoán trong 10 năm tới, với tốc độ phát triển hiện nay, Việt Nam sẽ đứng thứ 7
trong 10 quốc gia đứng đầu thế giới về thu hút khách du lịch với mức thu ngoại tệ 7,5
tỷ đôla, trên cả Hồng Kông (đứng thứ 11), và Inđônêxia (đứng thứ 24).
Tuy nhiên, bên cạnh đó, du lịch Việt Nam đã bộc lộ nhiều hạn chế. Ngành du
lịch còn sơ khai, non trẻ, hoạt động nhỏ lẻ và không tạo được sự thống nhất trong sự
phát triển chung của toàn ngành. So với các quốc gia trong khu vực, chất lượng dịch
đôla. Khách du lịch quay trở lại Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, dưới 30%, trong
khi có tới 60% khách du lịch đến Malaysia và quay trở lại đây đến lần thứ 2, thứ 3.
Đây là những nhược điểm cần phải khắc phục để đưa du lịch Việt Nam nhanh chóng
bắt kịp với du lịch của các nước trong khu vực và trên thế giới.
II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY DU LỊCH CỔ PHẦN BƯU ĐIỆN:
1. Tổng quan về Công ty:
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Trong xu thế phát triển ngày càng lớn mạnh để trở thành một tập đoàn kinh tế
đa dịch vụ, đa ngành nghề, … bên cạnh các đơn vị sản xuất kinh doanh và cung cấp
dịch vụ truyền thống về Tin học, Bưu chính - Viễn thông, ngay từ những năm cuối
thập kỷ 90 của Thế kỷ trước, Lãnh đạo Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam
đã sớm quan tâm đến việc tổ chức hình thành các đơn vị kinh doanh dịch vụ Tài
chính, Bảo hiểm, Du lịch, … theo hướng đón đầu sự hội tụ của Bưu chính - Viễn
thông - Tin học và đa dạng hóa các loại hình kinh doanh dịch vụ, đảm bảo sức cạnh
tranh trong quá trình hội nhập quốc tế.
Ngày 19/08/1988, Tổng cục Bưu điện, Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt
Nam, Thường vụ Công đoàn Bưu điện Việt Nam đã ban hành Nghị quyết liên tịch số
3773/NQ-LT trong đó thống nhất chủ trương thành lập Công ty Cổ phần Du lịch Bưu
điện để quản lý kinh doanh có hiệu quả hệ thống các khách sạn Bưu điện đã và đang
được đầu tư xây dựng trong cả nước.
Công ty Cổ phần Du lịch Bưu điện được chính thức thành lập ngày 30/08/1990 với
07 (bảy) cổ đông sáng lập, vốn điều lệ đăng ký là 120 tỷ đồng Việt Nam. Trong đó
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
16
Chuyên đề thực tập
Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam là cổ đông lớn nhất với vốn góp 83.300
triệu đồng (Tám mươi ba tỷ, ba trăm triệu đồng), bằng 73,58% tổng vốn điều lệ.
Công ty được thành lập để khai thác, sử dụng vốn và tài sản hiện có là hệ thống các
khách sạn, nhà nghỉ của Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông, đồng thời huy động các
nguồn vốn trong và ngoài ngành phát triển kinh doanh du lịch cũng như các dịch vụ
Dịch vụ
Du lịch
Chi
nhánh
Công ty
tại TP.
Hồ Chí
Minh
KSBĐ
Hạ Long
KSBĐ
Vũng
Tàu
KSBĐ
Cửa
Lò
KSBĐ
Sầm Sơn
KS
Hà Nội
* Đại hội đồng cổ đông: gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết là cơ quan
quyết định cao nhất của Công ty, có các quyền và nhiệm vụ:
- Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán từng loại;
quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần;
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
18
Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Tổng giám đốc
tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của Công ty;
- Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ Công ty; quyết định thành
lập Công ty con, lập Chi nhánh, Văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần
khác của doanh nghiệp;
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
19
Chuyên đề thực tập
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, kế
toán trưởng của Công ty; quyết định mức lương và lợi ích khác của cán bộ quản lý
đó;
- Kiến nghị việc tổ chức lại hoặc giải thể Công ty;
- Kiến nghị mức cổ tức được trả, quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc
xử lý các khoản lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh;
- Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được chào bán mỗi loại;
- Trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên Đại hội đồng cổ đông;
- Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp Đại hội đồng cổ đông,
triệu tập Đại hội đồng cổ đông hoặc thực hiện các thủ tục hỏi ý kiến để Đại hội đồng
cổ đông thông qua quyết định;
- Các quyền và nhiệm vụ khác quy định tại Luật Doanh nghiệp.
* Ban kiểm soát: có các quyền và nhiệm vụ:
- Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động kinh
doanh, trong ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính;
- Thẩm định báo cáo tài chính hàng năm của Công ty; kiểm tra từng vấn đề cụ
thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của Công ty khi xét thấy cần thiết
hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, theo yêu cầu của cổ đông, nhóm cổ
đông sở hữu trên 10% cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng;
- Thường xuyên thông báo với Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động, tham
khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình các báo cáo, kết luận và kiến nghị
lên Đại hội đồng cổ đông;
- Báo cáo Đại hội đồng cổ đông về tính chính xác, trung thực, hợp pháp của
vệ, an toàn vệ sinh lao động, y tế, chăm sóc sức khoẻ; ứng dụng công nghệ thông tin
trong điều hành, quản lý kinh doanh; các hoạt động văn hoá, thể thao; phối hợp với tổ
chức Công đoàn, Đoàn thanh niên; các lĩnh vực khác theo sự phân công
- Thay mặt Tổng giám đốc chủ động giải quyết công việc trong những chủ
tửơng, định hướng đã thống nhất và báo cáo Tổng giám đốc các quyết định quản lý
hoặc các ý kiến chỉ đạo đã ban hành, thờng xuyên chủ động phối hợp thỉnh thị ý kiến
của Tổng giám đốc;
- Cùng với Tổng giám đốc theo dõi, chỉ đạo hoạt động của các phòng chức
năng, các đơn vị trực thuộc Công ty.
* Phòng Tổ chức Hành chính Công ty: có chức năng và nhiệm vụ:
- Thực hiện chức năng tham mưu cho Tổng giám đốc về công tác tổ chức cán
bộ, đào tạo, lao động tiền lương, hành chính tổng hợp, y tế, bảo vệ, thanh tra và một
số công việc khác do Lãnh đạo Công ty phân công;
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
21
Chuyên đề thực tập
- Xây dựng hoàn thiện mô hình cơ cấu tổ chức của Công ty phù hợp với sự
phát triển của Công ty đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kinh doanh;
- Tham mưu cho Tổng giám đốc trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân
viên thuộc Công ty đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao;
- Thực hiện công tác về lao động - tiền lương, thi đua khen thưởng, đào tạo
chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên;
- Tổ chức thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, thông tin liên lạc và
bảo mật thông tin trong Công ty;
- Xây dựng và trình Tổng giám đốc ban hành các quy chế, quy định nội bộ
thuộc lĩnh vực chuyên môn phụ trách;
- Tổ chức bảo quản, lưu trữ hồ sơ, tài liệu, số liệu về công tác thuộc phạm vi
trách nhiệm của Phòng theo đúng quy định pháp luật của Công ty;
- Quản lý về mặt hành chính, chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, nhân viên
làm việc tại Phòng và quản lý, sử dụng tài sản được giao phục vục công tác của
- Thực hiện công tác về kế hoạch, thị trường, nghiệp vụ du lịch;
- Xây dựng và trình Tổng giám đốc Công ty ban hành các quy chế, quy định
nội bộ thuộc lĩnh vực chuyên môn phụ trách;
- Tổ chức bảo quản, lưu giữ hồ sơ, tài liệu, số liệu về công tác thuộc phạm vi
trách nhiệm của Phòng theo đúng quy định của pháp luật và Công ty;
- Quản lý về mặt hành chính, chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, nhân viên
làm việc tại Phòng và quản lý, sử dụng tài sản được giao phục vụ công tác của Phòng
theo quy định của Công ty;
- Thực hiện các công việc khác do Tổng giám đốc Công ty giao.
* Phòng đầu tư: có chức năng và nhiệm vụ:
- Thực hiện chức năng tham mưu cho Tổng giám đốc Công ty về công tác đầu
tư xây dựng trong từng giai đoạn phát triển của Công ty;
- Xây dựng và trình Tổng giám đốc Công ty phương án quy hoạch, kế hoạch
tổng thể về đầu tư xây dựng cơ bản; xâu dựng phương án cải tạo sửa chữa cơ sở vật
chất, kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị đảm bảo các điều kiện phục vụ hoạt động sản xuất
kinh doanh, phù hợp trong từng giai đoạn phát triển của Công ty;
- Căn cứ chủ trương, định hướng của Hội đồng quản trị, tham mưu giúp Tổng
giám đốc Công ty xây dựng phương án, tìm kiếm các đối tác liên doanh, liên kết trong đầu
tư xây dựng phục vụ mục tiêu phát triển, mở rộng hoạt động của Công ty;
- Kiểm tra đôn đốc việc thực hiện các hợp đồng kinh tế về tư vấn và lập dự án đầu
tư; khảo sát xây dựng và thiết kế công trình xây dựng đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng.
Tham mưu giúp Tổng gíam đốc xét duyệt các dự án, phương án đầu tư xây dựng. Tổ chức
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
23
Chuyên đề thực tập
trỉên khai nghiệm thu dự án đầu tư, báo cáo khảo sát xây dựng, thiết kế công trình và lập
hồ sơ trình duyệt dự án đầu tư, thiết kế công trình xây dựng;
- Tham mưu giúp Tổng giám đốc làm việc với cơ quan quản lý, chính quyền
địa phương về việc xin cung cấp số liệu, tài liệu về thoả thuận kiến trúc quy hoạch,
nguồn cung cấp điện, nước, giao thông, môi trường, hoàn thành các thủ tục pháp lý
của nhiều nhân tố.
2.1.Các nhân tố khách quan:
Du lịch là hoạt động nhạy cảm với các nhân tố từ môi trường vĩ mô. Ngành du
lịch của một quốc gia chỉ phát triển được khi nền kinh tế phát triển ổn định, môi
trường chính trị không có nhiều biến động, an ninh, y tế trong nước được bảo đảm.
Do vậy, hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp du lịch cũng chịu nhiều tác động của
các nhân tố khách quan từ môi trường bên ngoài.
Tình hình phát triển của kinh tế trong nước, sự ổn định về chính trị có ảnh
hưởng trước tiên đến hoạt động kinh doanh và đầu tư của các doanh nghiệp. Một khi
nền kinh tế phát triển nhanh, đời sống của người dân được cải thiện thì nhu cầu về du
lịch cũng tăng cao, cầu tăng cao sẽ thúc đẩy doanh nghiệp du lịch đầu tư nhiều hơn.
Tuy nhiên, nếu nền chính trị bất ổn, kinh tế chậm phát triển, dịch bệnh hoành hành,
trong điều kiện đó, ít có doanh nghiệp nào đủ can đảm đầu tư phát triển hoạt động
của mình. Còn nhớ năm 2003, ngành du lịch các nước đã phải lao đao trước nạn dịch
SARS. Các doanh nghiệp du lịch phải thu hẹp quy mô hoạt động, tại Singapore, nơi
chịu ảnh hưởng của dịch bệnh, các công ty du lịch đã phải giảm bớt nhân sự, làm cho
173 nghìn người mất việc làm, doanh thu từ ngành du lịch giảm 43%. Hay vụ nổ bom
khủng bố tại đảo du lịch Bali đã khiến cho ngành du lịch tại hòn đảo này sẽ phải mất
nhiều năm sau mới có thể phục hồi lại như xưa vì hầu như không có một doanh
nghiệp nào dám mạo hiểm đầu tư xây dựng mới cơ sở vật chất.
Xu hướng phát triển chung của du lịch, tình hình phát triển du lịch trong nước,
khu vực và trên thế giới cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động đầu tư. Du lịch
Việt Nam là một bộ phận của du lịch thế giới, do vậy, xu thế phát triển của du lịch
Việt Nam cũng không thoát khỏi xu thế chung của du lịch thế giới.
Các chính sách vĩ mô của Nhà nước, các chương trình quốc gia về du lịch, các
dự án xây dựng và bảo tồn khu thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa. Nhà nước đóng
vai trò định hướng cho các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Vừa qua, trước yêu
Vũ Tuấn Nam Kinh tế đầu tư K38
25