Tài liệu Đề tài “Trình bày lý thuyết về tuần hoàn và chu chuyển tư bản. ý nghĩa thực tiễn rút ra khi nghiên cứu lý thuyết này đối với việc quản lý các doanh nghiệp của nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” doc - Pdf 98



Luận văn Đề Tài:Trình bày lý thuyết về tuần hoàn và
chu chuyển tư bản. ý nghĩa thực tiễn rút
ra khi nghiên cứu lý thuyết này đối với
việc quản lý các doanh nghiệp của nước
ta khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN

1

1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
2

2
Bài viết được chia làm ba phần chính:
A. Phần mở đầu
B. Phần nội dung
C. Phần kết bài.
Với kiến thức bản thân còn hạn chế, em tự thấy mình còn nhiều thiếu xót
em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy giáo cho bài viết của em được
hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! 3

3
B. PHẦN NỘI DUNG
PHẦN I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TUẦN HOÀN VÀ CHU CHUYỂN TƯ
BẢN
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TUẦN HOÀN VÀ CHU CHUYỂN CỦA TƯ
BẢN.
1. Quan điểm của Mác - Lênin về tuần hoàn của tư bản.
Như vậy tiền của nhà tư bản phải chia làm hai phần theo tỷ lệ thích hợp:
Một phần mua sức lao động, một phần mua tư liệu sản xuất. Sau khi mua
được hàng hoá (Slđ - TLSX) thì tư bản đã trút bỏ hình thái tiền tệ mà mang
hình thức hiện vật. Với hình thức hiện vật đó nó không thể tiếp tục lưu thông
được. Nhà tư bản phải đưa hàng hoá vào trong quá trình sản xuất, để tạo ra
hàng hoá cung cấp cho thị trường thì toàn bộ công nhân phải tham gia vào
quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm. Kết quả là nhà tư bản có được một số
hàng hoá mới mà giá trị của chúng lớn hơn giá trị của những nhân tố đã dùng
để sản xuất ra số hàng hoá đó. Hàng hoá này (H’) có thể cạnh tranh được ở
trên thị trường, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng tức là có giá trị sử
dụng cao. Nhà sản xuất mang hàng hoá (H’) đó ra thị trường để bán nhằm thu
về được vốn và lợi nhuận tức là T’ - T’ là hình thái chuyển hoá của H’, sự
chuyển hoá này được thực hiện là do một hành vi đơn giản của lưu thông
hàng hoá, do sự đổi chỗ giữa hình thức hàng hoá và tiền, hình thái lặp lại ở
điểm kết thúc là hình thái bị gây nên, nhưng xét về mặt lượng phải lớn hơn
hình thái ban đầu. Sau một chu kỳ sản xuất nhà tư bản thu về cả vốn lẫn lãi từ
T’ một phần trả lương cho công nhân, một phần dự trữ để tiếp tục đầu tư sản
xuất. Quá trình đó cứ lặp đi lặp lại, tuần hoàn một cách liên tục và hiệu quả
sản xuất kinh doanh chính là lợi nhuận thu về ngày càng tăng nó được quy
định bởi một loạt những sự biến hoá hình thái của bản thân tuần hoàn.
2.2. Tuần hoàn của tư bản sản xuất.
Công thức chung của tuần hoàn của tư bản sản xuất là:
SX H’ - T’ - H SX
Tuần hoàn này nói lên sự hoạt động lắp đi lắp lại một cách chu kỳ của tư
bản sản xuất, hay quá trình sản xuất của tư bản, coi là quá trình sản xuất gắn
liền với việc tăng thêm giá trị, nó không những nói lên việc sản xuất mà còn
nói lên việc tái sản xuất một cách chu kỳ giá trị thặng dư nữa, nó nói lên hoạt
động của tư bản công nghiệp đang nằm dưới hình thái sản xuất của nó, hoạt

hoàn. Bây giờ nó là giai đoạn thứ hai của tuần hoàn nhưng lại là giai đoạn thứ
nhất của lưu thông. Tuần hoàn thứ nhất kết thúc bằng T’ và cũng có thể trở lại
mở đầu tuần hoàn thứ hai với tư cách là tư bản - tiền tệ. Tính chất của tuần
hoàn thay đổi các cách giải quyết để biết được công thức mà ta đang xét đại
biểu cho tái sản xuất giản đơn hay mở rộng. Nếu xét tái giản đơn của tư bản
sản xuất, nếu mọi tình hình khác không thay đổi và hàng hoá được mua vào
và bán ra theo đúng giá trị của chúng thì toàn bộ giá trị thặng dư sẽ đi vào tiêu
dùng cá nhân của nhà tư bản. Sau khi tư bản - hàng hoá H’ đã chuyển hoá
thành tiền, thì bộ phận của tổng số tiền đại biểu cho giá trị - tư bản vẫn tiếp
lưu thông trong tuần hoàn của tư bản công nghiệp; còn bộ phận kia, tức giá trị
thặng dư đã chuyển hoá thành tiền, thì đi vào lưu thông chung của hàng hoá. 6

6
Trong hành vi H’- T’ giá trị tư bản và giá trị thặng dư nằm trong H, cả
hai đều có thể tồn tại tách riêng ra được, tức là tồn tại thành những số tiền
riêng biệt; trong cả hai trường hợp T và t đều là hình thái chuyển hoá của cái
giá trị mà lúc đầu, ở H’ với tư cách là giá cả hàng hoá, có một biểu hiện riêng
của nó, một biểu hiện trên ý niệm mà thôi. Lưu thông h - t - h là một lưu
thông giản đơn của hàng hoá; giai đoạn thứ nhất của lưu thông này tức là h - t
thì nằm trong lưu thông của tư bản - hàng hoá H’ - T’, do đó nằm trong trong
tuần hoàn của tư bản; ngược lại đoạn bổ sung của nó t - h thì lại nằm ngoài
tuần hoàn ấy, được thực hiện với tư cách là một hành vi lưu thông chung của
hàng hoá tách rời khỏi tuần hoàn âý. Lưu thông H và h tức là của giá tri tư
bản và của giá trị thặng dư, sẽ tách đôi ra sau khi H’ chuyển hoá thành T’. Do

T’ cần được bổ sung bằng T’ - H’. Nhưng H’ - T’ không những đã xảy ra sau
quá trình làm tăng thêm giá trị mà còn là kết quả của nó, nhờ hành vi ấy sản
phẩm - hàng hoá H’ đã được thực hiện rồi. Như vậy là quá trình làm cho tư
bản tăng thêm giá trị, cũng như việc thực hiện sản phẩm - hàng hoá đại biểu
chio giá trị tư bản đã tăng thêm giá trị đều kết thúc bằng H’ - T’.
Trong lưu thông của thu nhập của nhà tư bản, hàng hoá đã được sản xuất
ra, tức là h trên thực tế chỉ được dùng để được chuyển hoá thu nhập ấy trước
hết thành tiền, rồi lại từ tiền thành một hàng hoá khác phục vụ cho tiêu dùng
cá nhân. Nhưng ở đây chúng ta không nên bỏ qua một việc nhỏ này: h là một
giá trị hàng hoá không tốt gì cho nhà tư bản cả, nó là hiện thân của lao động
thặng dư, chính vì thế mà nó xuất hiện lúc ban đầu với tư cách là một thành
phần của tư bản - hàng hoá H’. Bởi vậy chỉ có một sự tồn tại của thân nó, h
này cũng đã gắn liền với tuần hoàn của giá trị - tư bản đang tiến hành quá
trình của mình; nếu tuần hoàn ấy bì đình chỉ hoặc xảy ra một sự rối loạn nào
đó nói chung, thì không phải chỉ việc tiêu dùng h, mà đồng thời cả việc tiêu
thụ cái loạt hàng hoá đem trao đổi với h, cũng đều bị thu hẹp lại hoặc đình chỉ
hẳn, h - t - h chỉ gia nhập lưu thông của tư bản chừng nào mà h còn là một
phần giá trị của H’.
Mối quan hệ giữa tuần hoàn của tư bản với tư cách là một bộ phận của
lưu thông chung, và tuần hoàn của tư bản với tư cách là một trong những
khâu của một lưu thông độc lập, cũng biểu lộ ra khi chúng ta tiếp tục xem xét
lưu thông của T’ = T + t. Là tư bản tiền tệ, T tiếp tục tuần hoàn của tư bản; t
bị tiêu dùng đi với tư cách là thu nhập (t - h) thì đi vào lưu thông chung,
nhưng lại tách khỏi tuần hoàn của tư bản. Chỉ có bộ phận t hoạt động làm tư
bản - tiền tệ phụ thêm mới gia nhập tuần hoàn này mà thôi. Trong h - t - h tiền
chỉ làm chức năng tiền đúc, mục đích của lưu thông này là sự tiêu dùng cá
nhân của nhà tư bản. Khoa kinh tế chính trị tầm thường cho rằng lưu thông ấy
không gia nhập tuần hoàn của tư bản - tức là lưu thông của bộ phận sản phẩm
Thoạt tiên nhà tư bản thu chúng với tư cách là người bán, rồi lại bỏ
chúng ra với tư cách là người mua, việc chuyển hoá hàng hoá thành hình thái
tiền chỉ là dùng để chuyển hoá hàng hoá đó từ hình thái tiền trở lại hình thái
hàng hoá.
T
-
H

H
-
T
-
H

Tlsx
Do đó tổng lưu thông của nó là 9

9
Thứ ba, vô luận là tư bản tiền tệ được dùng đơn thuần làm phương tiện
lưu thông, hay làm phương tiện thanh toán thì hoạt động của nó cũng chỉ là
thay thế H bằng Slđ và Tlsx.
Muốn cho tuần hoàn được tiến hành bình thường, thì H’ phải bán đúng
theo giá trị của nó và bán toàn bộ. Hơn nữa, H - T - H không những bao hàm
việc thay thế một hàng hoá này bằng một hàng hoá khác, mà còn bao hàm

10
giai đoạn chuẩn bị cho quá trình sản xuất nhưng nó lại thể hiện như là bước
quay trở về quá trình ấy, như là việc lặp lại quá trình ấy, do đó như là bước
mở màn cho quá trình tái sản xuất, và vì vậy mở màn cho việc lặp lại quá
trình làm tăng thêm giá trị.
Một lần nữa T - Slđ là việc mua bán hàng hoá sức lao động dùng để sản
xuấta ra giá trị thặng dư, còn T - Tlsx là một công việc không thể thiếu được
về mặt vật chất để đạt được mục đích đó. Sau khi T - H Slđ
hoàn thành,thì T được chuyển hoá thành tư bản sản xuất thành Sx và tuần
hoàn lại bắt đầu trở lại.
Do đó, hình thái đầy đủ của Sx H’ - T’ - H Sx là: Việc chuyển hoá tư bản - tiền tệ thành tư bản sản xuất là việc mua hàng
hoá nhằm sản xuất ra hàng hoá. Chỉ khi nào sự tiêu dùng là tiêu dùng sản xuất
như thế nào thì nó mới gia nhập vào tuần hoàn của bản thân tư bản; điều kiện
của sự tiêu dùng đó bao hàm ở chỗ nhờ các hàng hoá được tiêu dùng một cách
sản xuất mà giá trị thặng dư được tạo ra. Nhưng đó là một cái gì rất khác với
việc sản xuất, và thậm chí với việc sản xuất hàng hoá mà mục đích là đảm bảo
sự tồn tại của người sản xuất; như vậy, việc thay thế một hàng hoá này
bằng một hàng hoá khác, do việc sản xuất ra giá trị thặng dư quyết định, là
một việc hoàn toàn khác hẳn với bản thân việc trao đổi sản phẩm chỉ do tiền
làm môi giới.
Ngoài sự tiêu dùng T một cách sản xuất thì tuần hoàn của tư bản còn bao
gồm khâu thứ nhất T - Slđ, khâu này đối với người công nhân là Slđ = H - T.
Về phương diện giá trị - tư bản tiếp tục tuần hoàn của nó, và về phương diện
nhà tư bản tiếp tục tiêu dùng giá trị thặng dư, thì hành vi H’ - T’ chỉ giả định

11

11
việc mở rộng tiêu dùng sản xuất các tư liệu sản xuất - thì sự tái sản xuất đó
của tư bản có thể kèm theo việc mở rộng tiêu dùng cá nhân của công nhân, vì
quá trình đó sở dĩ bắt đầu được và có thể tiến hành được, là do tiêu dùng sản
xuất. Nếu như những hàng hoá Tlsx và Slđ - mà T chuyển hoá thành để hoàn
thành chức năng tư bản - tiền tệ của nó, tức là chức năng của số giá trị - tư
bản phải chuyển hoá ngược trở lại tư bản sản xuất, nếu như những hàng hoá
ấy cần được mua vào hoặc được trả tiền theo những kỳ hạn khác nhau. Trong
tuần hoàn của tư bản công nghiệp tư bản - tiền tệ không thực hiện một chức
năng nào khác ngoài chức năng tiền, và những chức năng tiền này đồng thời
có ý nghĩa là những chức năng của tư bản, chỉ là do mối liên hệ chung của
chúng với các giai đoạn khác của tuần hoàn ấy mà thôi.
Tích luỹ và tái sản xuất trên quy mô mở rộng.
Vì các tỷ lệ theo đó quá trình sản xuất cos thể mở rộng ra không phải
được định đoạt một cách tuỳ tiện mà là do một nền kỹ thuật nhất định quy
định, cho nên giá trị thặng dư đã thực hiện, tuy được dành để tư bản hoá,
nhưng lắm lúc chỉ nhờ sự lắp đi lắp lại của một số tuần hoàn, mới có thể đạt
tới quy mô có thể thực tế làm chức năng tư bản phụ thêm, hay gia nhập vào
tuần hoàn của giá trị tư bản đang hoàn thành quá trình của mình.
Nếu trong các giao dịch của nhà tư bản nói trên, tiền làm chức năng
phương tiện thanh toán (thành thử người mua chỉ phải trả tiền cho hàng hoá
sau một kỳ hạn hoặc dài hoặc ngắn), thì sản phẩm thặng dư dùng để biến

cách là một tư bản sản xuất đã tăng thêm. Khi tuần hoàn thứ hay này bắt đầu,
chúng ta lại thâys Sx xuất hiện ở điểm xuất phát, nhưng chỉ khác có một điều
là Sx này là một tư bản sản xuất có quy mô lớn hơn Sx thứ nhất. Cũng giống
như là khi trong công thức T T’, tuần hoàn thứ hai bắt đầu vơis T’, thì T’ này
cũng làm chức năng giống chức năng của T’, tức là làm chức năng của một tư
bản - tiền tệ ứng trước có một đại lượng nhất định; đó là một tư bản - tiền tệ
có quy mô lớn hơn tư bản - tiền tệ mở đầu tuần hoàn thứ nhất, nhưng một khi
tư bản - tiền tệ lớn hơn đó bắt đầu làm chức năng tư bản - tiền tệ ứng trước,
thì tất cả mọi sự liên tưởng đến việc nó đã tăng thêm nhờ tư bản hoá giá trị
thặng dư đến biến mất. Tình hình như vậy cũng diễn ra đối với Sx khi nó làm
điểm xuất phát của một tuần hoàn mới.
Nếu so sánh Sx Sx’ với T T’ hay với tuần hoàn thứ nhất, thì thấy
rằng hai tuần hoàn đó hoàn toàn không có ý nghĩa giống nhau. Bản thân T T’
với tư cách là một tuần hoàn cô lập, chỉ nói lên rằng T tức là tiền tệ (hay tư
bản công nghiệp đang thực hiện tuần hoàn của nó dưới hình thái tư bản - tiền
tệ). Trái lại trong tuần hoàn của Sx khi gian đoạn thứ nhất, tức là giai đoạn
quá trình sản xuất chấm dứt, thì quá trình làm tăng giá trị đã hoàn thành rồi,
còn khi giai đoạn thứ hai. H’ - T’ kết thúc, thì giá trị - tư bản + giá trị thặng 13

13
dư đã tồn tại thành tư bản - tiền tệ đã được thực hiện, thành T’, là các xuất
hiện thành cái cực cuối cùng trong tuần hoàn thứ nhất. Điều này nói nên rằng
giá trị thặng dư đã được sản xuất ra.
Trong Sx Sx’, Sx’ không nói nên được việc giá trị thặng dư đã được


14
tổng số của Slđ cộng với Tlsx, cho nên H’ cũng đã nói lên rằng tổng số của
Slđ cộng với Tlsx bao gồm ở trong nó lớn hơn Sx ban đầu.
Việc tích luỹ tiền
Việc t tức giá trị thặng dư đã biến thành tiền, có thể lập tức được bỏ thêm
vào giá trị - tư bản đang ở trong quá trình vận động của nó hay không, và do
đó có thể gia nhập quá trình tuần hoàn bằng cách nhập làm một với tư bản T
thành đại lượng T’ hay không - việc đó phụ thuộc vào những tình hình không
có quan hệ gì với sự tồn tại đơnthuần của t. Chức năng riêng của t là nằm
dưới hình thái tiền, cho đến khi nó nhận thức của những tuần hoàn lắp đi lắp
lại, - tuần hoàn làm tăng thêm giá trị - tức là nhận thức được từ bên ngoài,
những khoản tăng thêm đủ để đạt tới đại lượng tối thiểu cần thiết cho sự hoạt
động tích cực của nó, chỉ với đại lượng ấy thì nó mới có thể tham gia vào việc
hoạt động của tư bản - tiền tệ T’, tham gia với tư cách là tư bản tiền tệ. Vậy ở
đây việc tích luỹ tiền, tích luỹ tiền là một quá trình tạm thời kèm theo việc
tích luỹ hiện thực, tức là việc mở rộng quy mô hoạt động của tư bản công
nghiệp.
Hình thái tiền tích trữ chỉ là hình thái tiền không nằm trong lưu thông, là
hình thái của số tiền mà lưu thông của nó bị gián đoạn và vì lẽ đó mà được
giữ lại dưới hình thái tiền. Còn như bản thân quá trình hình thành tiền tích trữ,
thì nó là chung cho bất cứ nền sản xuất hàng hoá nào, và chỉ trong các hình
thái chưa phát triển của sản xuất hàng hoá trước chủ nghĩa tư bản thì quá trình
tích luỹ tiền ấy mới đóng một vai trò nào đó với tư cách là mục đích tự thân.
Quỹ dự trữ.
Bản thân tiền tích trữ là điều kiện tích luỹ. Nhưng quỹ tích luỹ cũng có
thể đảm nhiệm những công việc đặc thù, có tính chất phụ, tức là có thể gia

hình thái hàng hoá, do đó ngay từ đầu nó đã bao hàm tuần hoàn không những
của giá trị - tư bản dưới hình thái hàng hoá mà còn bao hàm cả tuần hoàn của
cả giá trị thặng dư nữa. Trong mọi trường hợp H’ thường xuyên mở đầu tuần
hoàn với tư cách là một tư bản hàng hoá ngang với giá trị - tư bản cộng với
giá trị thặng dư. H’ với tư cách là H xuất hiện trong tuần hoàn của một tư bản
công nghiệp cá biệt, dưới hình thái một tư bản công nghiệp khác, chừng nào
tư liệu sản xuất là sản phẩm của tư bản công nghiệp này.
H’ không bao giờ có thể mở đầu tuần hoàn với tư cách là H đơn thuần,
với tư cách là hình thái hàng hoá đơn thuần của giá trị - tư bản. Là tư bản -
hàng hoá, nó bao giờ cũng có hai mặt. Đứng trên quan điểm giá trị sử dụng
mà nói nó là sản phẩm hoạt động của Sx, mà những yếu tố Slđ và Tlsx xuất
hiện với tư cách là hàng hoá từ lĩnh vực lưu thông, chỉ hoạt động với tư cách 16

16
là nhân tố hình thành sản phẩm đó. Hai là, đứng trên quan điểm giá trị mà nói;
H’ là giá trị - tư bản Sx + giá trị thặng dư m, sản sinh ra trong thời gian hoạt
động của sản xuất. Chỉ có ở trong tuần hoàn của bản thân H’ thì bộ phận H
của nó = Sx = giá trị - tư bản, mới có thể và phải phân tách ra khỏi bộ phận
của H’ chứa đựng giá trị thặng dư, khỏi sản phẩm thặng dư chứa đựng giá trị
thặng dư, không kể là hai bộ phận này có thực sự tách rời nhau hay không
tách rời nhau. Một khi H’ đã chuyển hoá thành T’, thì hai bộ phận đó trở
thành có thể tách rời nhau.
Trong hình thái I: T T’ tiền được ứng ra làm tư bản trước hết cho
những yếu tố sản xuất, nhưng yếu tố này trở thành sản phẩm - hàng hoá và

hoàn đó, nhờ thế nó lại mang hình thái ban đầu trong đó nó lại mở đầu một
tuần hoàn giống như vậy. Hình thái của điểm xuất phát T, Sx, H’ đều được
cho trước đối với mỗi tuần hoàn; hình thái lặp lại ở điểm kết thúc là hình thái
bị gây nên, và do đó bị quy định bởi một loạt những sự biến hoá hình thái cảu
bản thân tuần hoàn. H’ với tư cách là điểm kết thúc một tuần hoàn của tư bản
công nghiệp cá biệt, chỉ giả định là có hình thái Sx ở bên ngoài lưu thông của
tư bản công nghiệp đã sản sinh ra nó, T’ là điểm kết thúc của hình thái I, là
hình thái chuyển hoá của H’ (H’ - T’) giả định là T nằm trong tay người mua,
tồn tại ở ngoài tuần hoàn T T’ và chỉ do việc bán H’ mới bị cuốn vào trong
tuần hoàn đó, trở thành hình thái kết thúc của bản thân tuần hoàn ấy. 3. Quan điểm của Mác - Lênin về vấn đề chu chuyển của tư bản.
Nếu như nghiên cứu tuần hoàn của tư bản, chúng ta nghiên cứu các hình
thức mà tư bản trút ra và khoác vào qua ba giai đoạn vận động của nó, thì khi
nghiên cứu chu chuyển của tư bản, chúng ta nghiên cứu tốc độ vận động của
tư bản nhanh hay chậm. Theo Mác - Lênin thì: “Sự tuần hoàn của tư bản, nếu
xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới và lắp đi lắp lại chứ không phải là quá
trình cô lập, riêng lẻ, thì gọi là chu chuyển của tư bản”
(2)
. Trong quá trình chu
chuyển của tư bản tức là để sản xuất ra hàng hoá nhà sản xuất phải mất một
khoảng thời gian mà theo Mác - Lênin nêu lên là: “Thời gian chu chuyển của
tư bản là khoảng thời gian kể từ khi tư bản ứng ra dưới một hình thức nhất
định (tiền tệ, sản xuất hàng hoá) cho đến khi nó trở về tay nhà tư bản cũng
dưới hình thức như thế, nhưng có thêm giá trị thặng dư
(3)
.Như vậy tổng thời
gian chu chuyển của một tư bản nhất định bằng thời gian lưu thông và thời
gian sản xuất của nó cộng lại. Mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

trước giá trị tư bản dưới hình thái tiền tệ hay dưới hình thái hàng hoá, và bao
giờ cũng đòi hỏi giá trị - tư bản đang lưu thông phải quay trở lại hình thái mà
nó đã được ứng ra.
Những nhà kinh tế học không phân biệt các hình thái tuần hoàn khác
nhau, đã không xét chúng riêng ra trong mối quan hệ của chúng đối với chu
chuyển của tư bản. Có những nhà kinh tế học khác lại xuất phát từ những chi
phí dưới hình thái yếu tố sản xuất, và xem xét sự vận động cho đến lúc quay
trở về, nhưng họ tuyệt nhiên không hề nói đến hình thái quay trở về đó, không
hề tự hỏi xem chúng sẽ quay trở về dưới hình thái hàng hoá hay hình thái tiền.
Sau khi toàn bộ giá trị tư bản mà một nhà tư bản cá biệt bỏ vào một ngành sản
xuấta nào đó hoàn thành tuần hoàn trong sự vận động của nó, thì nó lại trở lại
hình thái ban đầu của nó và lại có thể diễn lại cùng một quá trình như thế.
Muốn cho giá trị được bảo tồn mãi mãi và tiếp tục tăng thêm giá trị với tư
cách là giá trị tư bản, thì nó phải lắp lại tuần hoàn ấy. Trong đời sống của tư
bản, mỗi tuần hoàn cá biệt chỉ là một giai đoạn không ngừng được lắp đi lắp
lại, nghĩa là một giai đoạn cấu thành một định kỳ. Hình thái T T’ tư bản tiền
tệ sẽ đi qua cái chuỗi những chuyển hoá bao gồm quá trình tái sản xuất ra nó, 19

19
hay quá trình tăng thêm giá trị. Khi định kỳ Sx Sx kết thúc, tư bản mang
hình thái những yếu tố sản xuất nó là tiền đề của việc lặp lại tuần hoàn. “Tuần
hoàn của tư bản khi được coi là một quá trình định kỳ, chứ không phải một
hành vi cá biệt thì được gọi là vòng chu chuyển của tư bản”. Thời gian của
vòng chu chuyển ấy được quyết định bởi tổng số thời gian sản xuất và thời


20

20
trình sản xuất, nhưng giá trị lại không chuyển hết một lần, mà chuyển dần
từng phần vào sản phẩm”
(4)
.
Còn “tư bản lưu động là một bộ phận tư bản sản xuất mà giá trị của nó
sau một thời kỳ sản xuất, có thể hoàn lại hoàn toàn cho nhà tư bản dưới hình
thức tiền tệ, sau khi hàng hoá đã bán xong” (5). Đó là bộ phận giá trị tư bản
dưới hình thức sức lao động và những tư liệu sản xuất khác. Nguyên liệu, vật
liệu phụ bị tiêu dùng toàn bộ vào sản xuất và cũng chuyển toàn bộ gia trị vào
sản phẩm mới. Chia tư bản ra thành tư bản cố định và tư bản lưu động cũng là
một sự phân chia khoa học, cần thiết về mặt quản lý kinh tế.
Tư bản cố định chu chuyển chậm hơn tư bản lưu động. Trong khi tư bản
cố định chu chuyển được vòng thì tư bản lưu động đã chu chuyển được nhiều
vòng. Ngay trong tư bản cố định, thời gian chu chuyển của các yếu tố khác
nhau cũng không giống nhau, có thời gian hoạt động dài, ngắn khác nhau,
nghĩa là hao mòn khác nhau. “Hao mòn hữu hình là do sử dụng và do tác
động của thiên nhiên làm cho những bộ phận tư bản đó dần dần hao mòn đi
đến chỗ hỏng, không dùng được nữa. Còn hao mòn vô hình là nói về những
trường hợp máy móc mới tốt hơn tối tân hơn xuất hiện” (6). Để tránh hao mòn
vô hình, nhà tư bản còn tìm cách nâng cao tỷ suất khấu hao tư bản cố định.
Dựa trên hai hình thức hao mòn mà C.Mác phân chia chu chuyển của tư
bản thành “Chu chuyển chung của tư bản ứng trước là con số chu chuyển
trung bình của những thành phần khác nhau của tư bản. Chu chuyển thực tế là

chu chuyển của tư bản. Sự tiến bộ của kỹ thuật và sự phát triển của lực lượng
sản xuất giúp cho nhà tư bản làm việc đó. 22

22
II. SỰ VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TUẦN HOÀN VÀ CHU CHUYỂN CỦA TƯ
BẢN TRONGN VIỆC QUẢN LÝ CÁC DOANH NGHIỆP CỦA NƯỚC TA KHI
CHUYỂN SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN.
1. Sự vận dụng ở Việt Nam từ trước đại hội VI ban chấp hành trung
ương Đảng - 1986.
Cả nước cùng tiền lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến vẫn
còn là sản xuất nhỏ: cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhỏ yếu, đại bộ phận lao động
kỹ thuật vẫn còn thủ công, phân công lao động xã hội còn kém phát triển,năng
suất lao động xã hội rất thấp, tình trạng tổ chức và quản lý kinh tế còn thiếu
chặt chẽ, việc kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân còn yếu, nền kinh tế bị mất
cân đối nghiêm trọng. Công cuộc xây dựng nền kinh tế đòi hỏi đất nước ta
phải có chính sách phát triển và khôi phục nền kinh tế, đưa đất nước đi lên
thoát khỏi sự lạc hậu của nền kinh tế sau những năm chiến tranh xâm lược.
Doanh nghiệp Việt Nam lúc này còn quá nhỏ bé chủ yếu là các xí nghiệp dưới
sự che chở của nhà nước, nhà nước bao cấp và chịu gần như toàn bộ hậu quả
mà doanh nghiệp nhà nước và xí nghiệp gặp phải. Hàng Việt Nam được sản
xuất ra có khi không đúng thời vụ, hàng chưa về đến nông thôn thì đã hết.
Nhà nước lại không có chính sách, biện pháp mở rộng sản xuất, không thu hút
vốn đầu tư nước ngoài. Vốn của các doanh nghiệp chủ yếu là do nhà nước
cấp, doanh nghiệp không tồn tại loại hình doanh nghiệp tư nhân tư bản, doanh

sản bỏ chạy ra nước ngoài đều bị quốc hữu hoá và trở thành quốc doanh. Năm
1978 là năm tuyên bố hoàn thành cải tạo tư sản trong công nghiệp loại vừa và
nhỏ ở miền Nam. Củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất trong các xí nghiệp
quốc doanh, ngày 21 - 1- 1981 Hội đồng chính phủ đã ban hành quyết định 25
- CP về: “Một số chủ trương và biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản
xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính cho các xí nghiệp quốc doanh”.
Trên cơ sở đó các xí nghiệp phải biết chu chuyển vốn sao cho hợp lý, sản xuất
phải phù hợp với yêu cầu đòi hỏi, nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị và
ngày càng củng cố cơ sở vật chất kỹ thuật.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần IV đã chủ trương “xoá bỏ
ngay thương nghiệp tư bản tư doanh”. Đối với tiểu thương, Đảng chủ trương
“Tổ chức lại thương nghiệp nhỏ, chuyển phần lớn tiểu thương sang sản xuất.
Đối với số còn lại được phép kinh doanh, phải tăng cường quản lý bằng
những chính sách và biện pháp thích hợp”. Nền kinh tế bên cạnh những thành
tựu đạt được vẫn còn những hạn chế về mặt quản lý còn thiếu hiêủ biết, ít
kinh nghiệm quản lý, chưa tổng kết kinh nghiệm thực tiễn tạo điều kiện cho
một số xí nghiệp lợi dụng sự sơ hở để mưu lợi ích cục bộ.
Nhìn chung trong giai đoạn này các xí nghiệp rất còn yếu kém trong việc
tuần hoàn sản xuất và chu chuyển vốn, có nhiều xí nghiệp hoàn toàn phụ
thuộc vào nhà nước đến khi bị thua lỗ thì nhà nước phải chịu hoàn toàn cho
nên các xí nghiệp chưa có được tinh thần trách nhiệm đối với hoạt động sản
xuất của mình.

(8)
Báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ IV. NXB Sự thật, Hà Nội,
1997, trang 67. 24


pháp và được cụ thể hoá bằng hệ thống các luật: luật doanh nghiệp nhà nước,
luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật đầu tư nước ngoài, Luật hợp tác xã,
Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân, các luật thuế và luật ngân sách, Luật
đất đai, Luật dân sự, Luật phá sản, Pháp lệnh ngân hàng Đó chính là cơ sở
pháp lý để các chủ thể kinh tế và mọi người dân đầu tư phát triển sản xuất,
kinh doanh, trong cơ chế thị trường. Trên cơ sở đó từng bước phân biệt quản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status