HALLEY COMET GROUP
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I, MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ MỨC ĐỘ
ĐÁP ỨNG PHÚC LỢI CHO CON NGƯỜI 3
II. BẤT BÌNH ĐẲNG 4
1, Các thước đo bất bình đẳng 4
2, Các mô hình về sự bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế 6
3. Bất bình đẳng về thu nhập giữa các nước và trong từng nước 10
4. Bất bình đẳng giới 13
5. Bất bình đẳng về sức khỏe 14
6. Bất bình đẳng về giáo dục 16
III. NGHÈO ĐÓI 17
1. Bản chất của nghèo 17
2. Nghèo khổ về thu nhập 18
3. Nghèo tổng hợp 20
4. Đói và nghèo 21
5. Cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo 24
IV. CÁC CHÍNH SÁCH LÀM GIẢM BẤT BÌNH ĐẲNG Ở VIỆT NAM
26
1
HALLEY COMET GROUP
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy rẫy những bất bình đẳng về cơ hội,
trong từng nước, cũng như giữa các nước. Ngay cả những cơ hội cơ bản để được sống
cũng được phân bố rất không đồng đều. Trong khi có chưa đến 0.5% số trẻ em sinh ra
ở Thụy Điển phải chết trước khi tròn một tuổi thì có đến gần 15% số trẻ em sinh ra ở
Môdămbich không thể vượt qua ngưỡng tuổi này. Ngay ở En Xavando, tỷ lệ tử vong ở
trẻ sơ sinh trong số con cái của những bà mẹ có trình độ chỉ là 2% nhưng với con cái
của những bà mẹ thất học thì lên đến 100%. Ở Eritoria, diện tiêm chủng đối với trẻ em
trong 20% dân số giàu nhất đạt gần 100% nhưng đối với 20% dân số nghèo nhất chỉ là
sự chênh lệch về thu nhập. Xuất phát từ thực tế là tăng trương kinh tế chỉ làm tăng
phúc lợi xã hội cho người ngèo, trong khi đó đời sống của phần lớn dân cư không
được cải thiện, cùng với việc nghiên cứu các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển, các
nhà kinh tế đều thống nhất về nguyên nhân chính của việc tăng trưởng kinh tế nhanh
nhưng không đi đôi với cải thiện, nâng cao phúc lợi cho đa số dân chúng những người
nghèo xuất phát từ phân phối thu nhập.
Có thể nói tăng trưởng (GDP) là điều kiện cần nhưng chưa đủ để làm cho phúc
lợi xã hội được phân phôi rộng rãi hơn. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển bền vững của
một quốc gia, chính phủ các nước không chỉ cần gia tăng tốc độ phát triển mà còn phải
quan tâm trực tiếp đến việc “ phân phối thu nhập”
Để đánh giá ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế nếu mức độ đảm bảo phúc lợi xã
hội cho người dân, cần nghiên cứu phương thức phân phối thu nhập để biết được
nguồn gốc và giá trị của thu nhập mà người dân có được. Có hai phương thức phân
phối thu nhập là: phân phối thu nhập theo chức năng và phân phối lại thu nhập
Phân phối theo chức năng có liên quan đến sự phân chia thu nhập theo các yếu
tố sản xuất khác nhau như lao động ( theo trình độ khác nhau) máy móc thiết bị, vốn
sản xuất, đất đai…Được xác định chủ yếu dựa vào quyền sở hữu các yếu tố sản xuất
và vai trò của từng yếu tố trong quá trình sản xuất. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn
đến mức độ phúc lợi khác nhau giữa các nhóm dân
Phân phối lại thu nhập thường được thực hiện qua đánh thuế thu nhập, các
chương trình trợ cấp và chi tiêu công cộng của chính phủ nhằm giảm bớt mức thu nhập
của người giàu và nâng cao thu nhập của người nghèo. Nhưng đây không phải là
phương thức cơ bản để nâng cao thu nhập của đại bộ phận dân cư.
3
HALLEY COMET GROUP
II. BẤT BÌNH ĐẲNG
1, Các thước đo bất bình đẳng
Đường cong LORENZT: Trên đồ thị:
- Đường chéo 45 độ thể hiện sự phân phối thu nhập “ hoàn toàn công bằng”
- Đường Lorenzt: thể hiện mối quan hệ định lượng thực sự giữa tỷ lệ % thu nhập
HALLEY COMET GROUP
2, Các mô hình về sự bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế
* Mô hình chữ U ngược của Simon Kuznets
Simon Kuznets, nhà kinh tế học Mỹ năm 1995 đã đưa ra một mô hình nghiên cứu
mang tính thực nghiệm nhằm xem xét giữa thu nhập và tình trạng bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập
Ông đã đưa ra giả thiết rằng: Bất bình đẳng sẽ tăng ở giai đoạn ban đầu và giảm
ở giai đoạn sau khi lợi ích của sự phát triển được lan tỏa rộng rãi hơn.
-Giai đoạn kém phát triển: G thấp.
- Giai đoạn phát triển trung bình: G tăng cao.
- Giai đoạn phát triển: G thấp.
G tăng là do các nước hầu hết đang trong quá trình phát triển trung bình chính vì
thế mà G thế giới tăng.
- Ở các nước kém phát triển: G từ 0,3 đến 0,5.
Các nước phát triển trung bình: G từ 0,4 đến 0,6.
Các nước phát triển: G từ 0,2 đến 0,4.
Vì vậy, các nước phát triển trung bình và các nước phát triển cần ưu tiên nhiều
cho vấn đề giải quyết phúc lợi.
Tuy nhiên Mô hình chữ U ngược còn có những hạn chế là không giải thích được
2 vấn đề quan trọng: Thứ nhất, những nguyên nhân cơ bản nào tạo ra sự thay đổi bất
bình đăng trong quá trình phát triển. Thứ hai, phạm vi khác biệt giữa các nước về xu
thế thay đổi này trong điều kiện họ sử dụng các chính sách khác nhau tác động đến
tăng trưởng và bất bình đẳng?
6
HALLEY COMET GROUP
* Mô hình tăng trưởng trước, bình đẳng sau của A.LEWIS
Mô hình A.Lewis nghiên cứu về phân phối thu nhập
Mô hình cũng nhất trí với Kuznets về nhận xét cho rằng sự bất bình đẳng sẽ tăng
lên lúc đầu và sau đó giảm bớt khi đã đạt được mức độ phát triển nhất định. Nhưng
tiến thêm một bước , mô hình đã giải thích được nguyên nhân của xu thế này.
hợp giữa công bằng và tăng trưởng kinh tế.
* Mô hình tăng trưởng đi đôi với bình đẳng của H.Oshima.
Ý tưởng cơ bản của sự tăng trưởng đi đôi với bình đẳng dựa vào cách đặt vấn đề:
- Có thể hạn chế dự bất bình đẳng ngay từ giai đoạn đầu của tăng trưởng được
không?
Oshima đã xuất phát từ đặc điểm sản xuất nông nghiệp ở Châu Á, đó là sản xuất
lúa nước có tính thời vụ cao và cho rằng quá trình tăng trưởng cần được bắt đầu từ khu
vực nông nghiệp. Chính trong quá trình này sẽ dẫn đến hạn chế sự bất bình đẳng trong
qua trình tăng trưởng. Theo Oshima, trước hết khoảng cách thu nhập giữa nông thôn
và thành thị sẽ được cải thiên ngay từ giai đoạn đầu. Việc tập trung phát triển khu vực
8
HALLEY COMET GROUP
nông thôn dựa trên chính sách cải cách ruộng đất, dựa trên sự trợ giúp của nhà nước về
giống, kỹ thuật, đồng thời việc mở rộng và phát triển các ngành nghề đã làm cho thu
nhập ở khu vực nông thôn được tăng dần. Tiếp đó là quá trình cải thiện dần khoảng
cách thu nhập giữa thu nhập có quy mô lớn và xí nghiệp có quy mô nhỏ ở thành thị,
cũng như giữa nông trại lớn và nông trại nhỏ ở nông thôn
- Vậy điều này đã tác đông như thế nào đến tăng trưởng?
Theo Oshima, tiết kiệm sẽ được tăng lên ở các nhóm dân cư, kể các nhóm có thu
nhập thấp nhất, vì thu nhập ở họ dần dần thỏa mãn các khoản chi và khi đó họ bắt đầu
tiết kiệm để trả nợ các khoản vay đầu tư trước đó và tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất
và đầu tư giáo dục đào tạo cho con em họ.
* Mô hình phân phối lại cùng tăng trưởng kinh tế (của ngân hàng thế giới WB).
Quan điểm này về cơ bản cũng cho rằng: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bình
đẳng hay tăng trưởng kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề phúc lợi
Phân phối lại cùng với tăng trưởng kinh tế là cách thức phân phối lại các thành
quả của tăng trưởng kinh tế sao cho cùng với thời gian, phân phối thu nhập cần được
cải thiện hoặc ít nhất là không xấu đi trong quá trình tăng trưởng vẫn tiếp tục
Giải pháp phân phối lại thu nhập được xem là quan trọng, nó bao gồm chính sách
phân phối lại tài sản và chính sách phân phối lại từ tăng trưởng
tăng trưởng trở thành một chủ đề mang tính thời sự khi bàn về tăng trưởng của các
nước đang phát triển. Sử dụng mô hình tăng trưởng nội sinh, nhiều nghiên cứu gần đây
về một số nước( Galor& Zria, Stighliz, Aghilon, Caroli và Garci- Denalosa, Barro) đã
tìm ra mối quan hệ ngược chiều giữa bất bình đẳng trong phân phối thu nhập với tăng
trưởng kinh tế. Các chính sách nhằm tạo thu nhập bình đẳng hơn bằng cách phân phối
cơ hội một cách công bằng hơn sẽ thúc đẩy tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo.
Phân phối thu nhập công bằng hơn ở các nước đang phát triển đựoc coi là có lợi
cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn được giải thích qua bốn giả thuyết sau đây:
- Thứ nhất, nhiều nghiên cứu gần đây cho rằng, nguời giàu ở các nước phát triển
chưa thực sự muốn tiết kiệm để đầu tư vào nền kinh tế trong nước. Xu thế dễ nhận
thấy là người giàu muốn tiêu dùng hàng hóa xa xỉ. Loại tiết kiệm và đầu tư này không
đóng góp nhiều vào tăng tiềm lực sản xuất của quốc gia, thậm chí là một sự lãng phí
nguồn lựcvốn đã ít ỏi ở các nước này. Với hành vi tiêu dùng này, nếu chiến lựợc phát
10
HALLEY COMET GROUP
triển mà dẫn đến gia tăng nhanh bất bình đẳng về phân phối thu nhập sẽ tạo ra cơ hội
để duy trì vị thế của nhóm người giàu, đồng thời gây ra tổn thất cho nền kinh tế do
lãng phí nguồn lực. Trong dài hạn, một chiến lược như vậy thường có tác dụng “ phản
tăng trưởng và phát triển”.
- Thứ hai, về phía người nghèo, do thu nhập và mức sống thấp nên tình trạng sức
khỏe, dinh dưỡng và giáo dục kém. Điều này làm giảm cơ hội tham gia hoạt động kinh
tế và năng suất lao động của họ, và vì thế trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng xấu tới quá
trình tăng trưởng.
- Thứ ba, thu nhập của người nghèo tăng sẽ kích thích tăng nhu cầu về hành hóa
và dịch vụ sản xuât trong nươc, trong khi người giàu có xu hướng dành phần thu nhập
tăng thêm của họ để mua hàng nhập khẩu xa xỉ nhiều hơn. Qua đó góp phần kích
thích đầu tư, sản xuất và tạo việc làm trong nước, đồng thời tạo điều kiện cho người
nghèo có cơ hội tham gia và hưởng lợi nhiều hơn từ thị trường kinh tế.
- Thứ tư, chênh lệch thu nhập lớn và nghèo đói tuyệt đối phổ biến có thể dẫn đến
bất ổn về mặt xã hội và chính trị, và rốt cuộc là có hại cho tăng trưởng kinh tế.
2. Thu nhập cao nhất
Chênh lệch giữa hai
nhóm thu nhập(lần)
226.7
509.4
187.9
2.71
519.58
74.33
6.99
295
516.7
225
2.30
741.6
97
7.65
365.2
622.0
275.1
2.26
877
104.7
8.14
Nguồn: Tổng cục Thống kê; Niên giám Thống kê năm 2003.
Theo điều tra của Tổng cục Thống kê, nếu chia các hộ điều tra thành mười nhóm
thu nhập, mỗi nhóm 10% số hộ theo độ dốc đi lên của thu nhập bình quân trên người,
thì thu nhập nhỏ nhất và thu nhập lớn nhất có khoảng cách lớn và tăng theo các năm.
Năm 2000, thu nhập bình quân của nhóm người hộ nhất(nhóm 10) gấp 12 lần nhóm hộ
nghèo nhất(nhóm 1). Năm 2002, tỷ lệ này tăng lên 13.75 lần.
- Thước đo vị thế giới( GEM): thước đo này tập trung xem xét cơ hội của người
phụ nữ chứ không phải là khả năng của họ. Nó chỉ ra sự bất bình đẳng giới trên ba
khía cạnh:
+ Thứ nhất, tham gia hoạt động chính trị và có quyền quyết định: được đo bằng
tỷ lệ có ghế trong quốc hội của phụ nữ và nam giới.
13
HALLEY COMET GROUP
+ Thứ hai, tham gia các hoạt động kinh tế và có quyền quyết định: được đo bằng
tỷ lệ các vị trí lãnh đạo, quản lý và tỷ lệ các vị trí trong ngành kĩ thuật, chuyên gia do
phụ nữ và nam giới đảm nhiệm.
+ Quyền đối với các nguồn lực kinh tế: được đo bằng thu nhập ước tính của phụ
nữ và nam giới(ppp- USD).
Vì vậy, bất bình đẳng giới được coi là trung tâm, mục tiêu của phát triển, đồng
thời cũng là một yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo của
một quốc gia.
5. Bất bình đẳng về sức khỏe
Tự bản thân sức khỏe đã là một khía cạnh quan trọng của phúc lợi, sức khỏe kém
có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội của cá nhân- khả năng kiếm thu nhập của họ, kết
quả học tập, khả năng chăm sóc con cái, tham gia vào các hoạt động của cộng đồng…
Chức năng quá trình của sức khỏe với tư cách là một phương tiện có nghĩa là bất bình
đẳng về sức khỏe sẽ chuyển thành bất bình đẳng về các phương diện phúc lợi khác. Và
sự bất bình đẳng này lại kéo dài qua thời gian. Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh đến trẻ em,
trong khi vẫn thừa nhận rằng sự khác biệt về địa vị xã hội, của cải và sức khỏe cũng có
ý nghĩa quan trọng đối với người lớn. Chúng tôi cũng chủ yếu xem xét ở khía cạnh sự
khác nhau về sức khỏe của trẻ em giữa các nhóm dân cư được phân biệt theo học vấn
của mẹ, nơi cư tú là thành thị hay nông thôn, và địa vị kinh tế của cha mẹ, được phản
ánh gián tiếp qua một số chỉ số về sở hữu các tài sản lâu bền của hộ gia đình.
Tình trạng tử vong ở trẻ sơ sinh. Ở Việt Nam, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh là 34 ca
trên 1.000 ca sinh, trong đó tỷ lệ này đối với những trẻ em có mẹ thất học là 14 trẻ trên
1.000 ca sinh, cao gấp hơn hai lần so với tỷ lệ của những trẻ em có mẹ có trình độ học
tật thất nghiệp. Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 750 triệu trên thế giới bị tàn tật. 80%
người tàn tật sống ở các nước đang phát triển. 10% dân số ở các nước nghèo là người
tàn tật. Chỉ 2-3% số trẻ em tàn tật ở các nước nghèo được tới trường. Tàn tật dẫn đến
đói nghèo: khi người tàn tật không được đến trường hoặc không có việc làm họ dường
như là những người nghèo nhất của xã hội. Và những người khuyết tật không chỉ phải
chịu sự “bất lợi về thu nhập”, điều đó có liên quan đến cơ hội có việc làm thấp và nhận
được nhận thù lao thấp cho công sức của mình, mà còn có cả sự “bất lợi khi muón đổi
đời” nữa. Nói như vậy có nghĩa là những người khuyết tật về thể chất cần có nhiều thu
nhập hơn người lành lặn để có thể có mức sống tương đương. Theo kết quả khảo sát
15
HALLEY COMET GROUP
của Bộ Lao động thương binh xã hội năm 2005 thì phần lớn các hộ có người khuyết tật
đều có mức sống thấp. Theo khảo sát thì 32,5% số hộ có người khuyết tật thuộc loại
nghèo( chung cho cả nước là 22%), 58% số hộ có mức sống trung bình, 9% số hộ là
khá và 0,5% là số hộ có mức sống trung bình. Hộ có càng nhiều khuyết tật thì mức
sống càng giảm. Trong nhóm hộ có một người khuyết tật thì có đến 31% là thuộc diện
hộ nghèo; trong nhóm hộ có ba người khuyết tật thì tỷ lệ hộ nghèo là hơn 63%.
Dịch vụ y tế có tác động lớn. Người nghèo có ít khả năng hơn nhiều so với
người không nghèo trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế có tác động lớn, chẳng hạn như
việc được cán bộ y tế có chuyên môn đỡ đẻ, chăm sóc tiền sinh sản và nuôi trẻ hỗ trợ.
Dựa vào số liệu điều tra hộ gia đình của 15 Châu Phi cho thấy: Trong khi hầu hết tất cả
các hộ gia đình thành thị đều sống cách các trung tâm y tế không quá một giờ đi đường
thì tỷ lệ này chỉ còn khoảng 50%.
6. Bất bình đẳng về giáo dục
Giáo dục có tầm quan trọng thiết yếu khi đánh giá sự bất bình đẳng về cơ hội. Nó
cũng là yếu tố quan trọng quyết định mức thu nhập, sức khỏe của cá nhân( và con cái
họ), và năng lực tương tác và giao tiếp với người khác. Vì thế sự bất bình đẳng trong
giáo dục góp phần gây ra sự bất bình đẳng trong các phương diện khác của phúc lợi.
Đặc biệt, kết quả kiểm tra ở trẻ nhỏ phản ánh rõ nét sự bất bình đẳng về cơ hội trong
giáo dục, nhưng những số liệu như vậy lại không có sẵn ở nhiều nước đang phát triển.
tình trạng nghèo về xã hội thể hiện ở tính dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất lợi
( bệnh tật, khủng hoảng kinh tế…) , hoặc không có tiếng nói trong hầu hết các thể chế
trong xã hội và sự bất lực trong việc cải thiện điều kiện sống của cá nhân.
Ngày nay, nghèo được chia ra làm hai loại cơ bản là nghèo lương thực thực phẩm
và nghèo chung (nghèo tổng hợp )
*Các chỉ số đánh giá nghèo
Để đánh giá nghèo nói chung, người ta sử dụng các chỉ số :
Từ công thức chung:
1
1
( )
m
i
i
Z Y
P
N Z
α
α
=
−
=
∑
17
HALLEY COMET GROUP
Trong đó: M : số hộ dưới ngưỡng nghèo
N : tổng số hộ dân
Z : ngưỡng nghèo
Y
: Khoảng nghèo
Chỉ số này phản ánh tổng mức thiếu hụt của tất cả người nghèo trong nền kinh tế
(chi phí tối thiểu để đưa tất cả những người nghèo lên mức sống ngang bằng ngưỡng
nghèo).
2
2 P
α
= →
: Bình phương khoảng nghèo
Chỉ số này phản ánh mức độ nghiêm trọng ( hay cường độ) của đói nghèo
Bảng số liệu về các chỉ số ở Việt Nam
2. Nghèo khổ về thu nhập
Nước ta là một nước đang phát triển, việc phát triển và đánh giá nghèo khổ chủ
yếu dựa trên tiêu chí thu nhập (hoặc chi tiêu). Phương pháp này cho phép so sánh tình
trạng nghèo khổ giữa các nước, các vùng khác nhau theo thời gian. Nhưng ngày nay,
phạm vi của sự nghèo khổ ngày càng mở rộng, việc đánh giá nghèo khổ không chỉ đơn
thuần là đưa ra những con số mà còn phải phản ánh được cả ý nghĩa của nó. Chính vì
Chỉ số (%) 1993 1998 2002
1.Chỉ số đếm đầu ( TCTK) 58 37 28,9
2.Khoảng nghèo 19 10 6,9
3.Bình phương khoảng nghèo 8 4 -
18
HALLEY COMET GROUP
vậy các nhà kinh tế đã chia nghèo khổ về thu nhập thành nghèo tương đối và nghèo
tuyệt đối.
a. Nghèo khổ tuyệt đối
- Khái niệm: Nghèo khổ tuyệt đối biểu hiện một mức thu nhập tối thiểu cần thiết
để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản” như lương thực, quần áo, nhà ở…”, để
cho mỗi người có thể tiếp tục tồn tại.
- Tuy nhiên khi xem xét mức nghèo khổ theo khái niệm đó nảy sinh một số vấn
Vùng thành thị 150.000
Bắt đầu từ ngày 1/1/2006, Việt Nam sẽ áp dụng chuẩn nghèo, cao gấp 2 lần so
với chuẩn cũ với các mức tương ứng là: 180.000 VNĐ, 220.000 VNĐ, 250.000 VNĐ;
tỷ lệ hộ nghèo tăng từ 7% lên 22%. Cả nước sẽ có 4 triệu hộ nghèo. Dự kiến hết năm
2010, Việt Nam sẽ ra khỏi nước kém phát triển và hơn 22% số người nghèo theo tiêu
chí mới sẽ giải quyết được vấn đề cơ bản.
b. Nghèo tương đối:
- Khái niệm: Nghèo tương đối được xét trong tương quan xã hội, phụ thuộc vào
địa điểm dân cư sinh sống và phương thức tiêu thụ nơi đó, được biểu hiện những
người sống dưới mức tiêu chuẩn có thể chấp nhận được trong những địa điểm và thời
gian xác định, đây là những người cảm thấy bị tước đoạt những cái mà đại bộ phận
dân chúng được hưởng.
- Chỉ tiêu này được xác định theo phương pháp thu nhập và tiêu dùng chung
trong cả nước để phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình
của cộng đồng, do vậy tiêu chí để xác định nghèo tương đối khác nhau ở các nước,
trong các vùng của cùng một nước.
3. Nghèo tổng hợp
- Khái niệm: Nghèo tổng hợp nghèo khổ tổng hợp của con người biểu thị sự
nghèo khổ đa chiều của con người, là thiệt thòi theo 3 khía cạnh cơ bản nhất của cuộc
sống con người.
Đối với các nước đang phát triển, đó là sự thiệt thòi trên các khía cạnh:
20
HALLEY COMET GROUP
- Thiệt thòi trên khía cạnh cuộc sống lâu dài và khoẻ mạnh được xác định bằng tỷ
lệ người dự kiến không thọ quá 40 tuổi.
- Thiệt thòi về tri thức, tỷ lệ người lớn mù chữ.
- Thiệt thòi về đảm bảo kinh tế, xác định bởi tỷ lệ người không tiếp cận được các
dịch vụ y tế, nước sạch, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng.
Nghèo tổng hợp được đánh giá bằng chỉ số nghèo khổ của con người (HPI).
Ở Việt Nam năm 1999, HPI là: 29.1% và xếp hạng theo HPI, nước ta đứng thứ
do sự phân phối quá bất bình đẳng giữa các nước cũng như trong nội bộ từng nước.
Ở các quốc gia trên thế giới thì nghèo thực chất vừa là nguyên nhân, vừa là hậu
quả của nạn đói. Điều đó được thể hiện rõ thông qua sơ đồ sau:
21
HALLEY COMET GROUP
Đến đây có một câu hỏi được đặt ra là: “Có hy vọng để sớm thoát khỏi đói -
điều lớn nhất làm mất đi giá trị của con người không?”
Điều đó phụ thuộc rất lớn vào ý chí chính trị và tinh thần trách nhiệm của chính
phủ các nước (về vấn đề này Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm từ Braxin. Tổng
thống nước này: ông Luiz Inácio Luna da Silva đã cam kết thanh toán nạn đói vào cuối
nhiệm kỳ bốn năm của ông và đã khởi xướng một dự án toàn diện nhằm thanh toán
nạn đói. Đây quả là một thách thức lớn đối với ông vì Braxin là một trong những nước
xuất khẩu chính các sản phẩm trồng trọt và thịt, nhưng hơn 40 triệu trong số 170 triệu
người của nước này đang sống dưới mức 1$/ ngày); vai trò của cộng đồng quốc tế(Ví
dụ: vòng đàm phán Doha); việc xác định rõ và mức độ quan tâm đưa ra các chính sách
có hiệu quả:
- Trong ngắn hạn, đó là các biện pháp khẩn cấp giúp người nghèo được trực tiếp
tiếp cận với các nguồn lương thực
- Trong dài hạn, đó là việc giải quyết các nguyên nhân sâu xa dẫn đến đói nghèo
như:
Đói
Lương thực sẵn có ít
Sản xuất lương
thực ít
Nhập khẩu lương thực ít
Khả năng tiếp cận bấp
bênh đến thị trường
Khả năng tiếp cận thấp đến lương
thực, tài sản vật chất và kinh tế
22
HALLEY COMET GROUP
5. Cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo
Nhìn chung, sự sẵn sàng tiết kiệm cho tiêu dùng trong tương lai của người dân
tăng lên cùng với thu nhập của họ. Và một điều dường như khá tự nhiên là một người
càng nghèo thì càng ít có khả năng lập kế hoạch cho tương lai và tiết kiệm. Vì vậy, ở
các nước nghèo, nơi mà hầu hết thu nhập được dùng cho các nhu cầu hiện tại - thường
là nhu cầu bức thiết – tỷ lệ tiết kiệm quốc dân thường có khuynh hướng thấp. Ở các
nước nghèo cộng với quy mô nền kinh tế nhỏ, “ tỷ lệ tiết kiệm” thấp hơn lý giải cho
việc tiết kiệm được ít nguồn lực hơn cho nhu cầu “đầu tư” nội địa hết sức cần thiết cả
về “vốn vật chất và vốn con người”
Ngựợc lại, ở các nước có thu nhập cao trong giai đoạn 1996-2000, tỷ trọng tiết
kiệm trên GDP bé hơn một vài quốc gia đang phát triển nhưng quy mô tiết kiệm của
họ lớn hơn gấp ba lần so với các nước phát triển hợp lại. Song nếu không có các khoản
đầu tư mới, năng suất của một nền kinh tế và thu nhập không thể tăng lên. Điều này
khép kín vòng luẩn quẩn của đói nghèo
Vậy, liệu có phải các nước nghèo sẽ mãi mãi phải chịu cảnh đói nghèo hay
không?
Câu trả lời là không!
Thu nhập thấp
Tiết kiệm thấpNăng suất thầp
Đầu tư thấp
Tiêu dùng thấp
24
HALLEY COMET GROUP
- Dựa vào quy luật: tổng tiết kiệm nội địa và tổng đầu tư nội địa tăng cao sẽ dẫn
đến tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao. Để đạt được điều đó thì các nước phải đảm bảo:
• sự ổn định về chính trị và kinh tế
• hệ thống ngân hàng đáng tin cậy
• các chính sách ưu đãi của Chính Phủ
- Các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêmg cũng có thể dựa vào