Luận văn
Đề tài : kinh tế nhà nước
dẫn dắt các thành phần kinh tế khác đi theo một định hướng xó hội nhất định.
Ngay từ đầu lập nước, đảng ta đó xỏc định đưa nước Việt Nam tiến lên chủ
nghĩa xó hội, mà cơ sở hỡnh thành nên CNXH đó chính là chế độ công hữu
về tư liệu sản suất (TLSX), tức là TLSX thuộc sở hữu toàn dân. Kinh tế nhà
nước (KTNN) là thành phần kinh tế được hỡnh thành trờn hỡnh thức sở hữu
toàn dõn vỡ vậy một tất yếu khỏch quan là KTNN phải là thành phần kinh tế
nắm vai trũ chủ đạo nhằm hướng toàn bộ nền kinh tế đi theo định hướng
XHCN.
Đảng và nhà nước ta đó xỏc định rằng thời kỳ quá độ lên CNXH đũi hỏi
một thời gian rất lõu dài và sẽ gặp nhiều khú khăn thách thức đặc biệt Việt
Nam lại đi lên từ chế độ phong kiến bỏ qua chế độ TBCN. Ta biết rằng
“chớnh trị là tập trung của kinh tế”, do đó kinh tế là con đường để hỡnh
Trang 2
thành một thể chế chớnh trị. Ta định hướng xây dựng CNXH thỡ phải phỏt
triển thành phần kinh tế nhà nước thật vững chắc ,làm sao để nó thể hiện vai
trũ chủ đạo của KTNN, nắm được quy luật vận động khách quan của kinh tế
để từ đó có cách tác động để KTNN thể hiện được vai trũ trọng yếu của nú,
để đất nước ta đi đúng theo định hướng đó chọn.
Việc nhiờn cứu (NC), tỡm hiểu rồi đến nắm bắt bản chất cũng như vai trũ
của KTNN sẽ giỳp mỗi chỳng ta thấy được tầm quan trọng, tính thiết yếu phải
phát triển KTNN ở nước ta hiện nay nhận thức được những đường lối, chính
sách phát triển mà đảng và chính phủ đưa ra nhằm cải tổ và xây dựng nền
kinh tế XHCN tiến kịp với thế giới, nhưng cũng đồng thời thôi thúc mỗi
chúng ta cần phải góp sức mỡnh vào cụng cuộc đất nước bằng cách dựa trên
những gỡ mà ta đó đạt được và chưa làm được để đưa ra những giải pháp
kiến nghị hữu ích cho việc đưa KTNN lên nắm vai trũ chủ đạo cũng là để xây
dựng nền kinh tế nước nhà ổn định, phát triển và bền vững.
Đồ án của tôi sẽ đi sâu vào NC về một số vấn đề sau:
Phần I: Khát quát về một số vấn đề lý luận về KTNN, vai trũ chủ đạo
Là một nước đi sau trong tiến trỡnh xõy dựng CNXH, chỳng ta được học
hỏi rất nhiều kinh nghiệm từ những nước đi trước mà tiên phong là Nga (Liên
Xô cũ). Từ luận điển Lenin về nền kinh tế trong thời kỳ quá độ - đó phải là
nền kinh tế nhiều thành phần. Đảng và nhà nước ta đó ỏp dụng vào thực tiển ở
nước ta và đưa ra chủ trương xây dựng một nền kinh tế đa phần mang tính đặc
trưng của thời kỳ giao thời giữa kinh tế TBCN và XHCN.
Trước hết ta hiểu thế nào là một thành phần kinh tế? Thành phần kinh tế
hay đơn vị kinh tế hay đơn vị kinh tế cơ sở của nền kinh tế quốc dân là một
kiểu tổ chức kinh tế dựa trên một hỡnh thức sở hữu nhất định có quan hệ quản
lý và quan hệ phân phối riêng của nó. Trong nền kinh tế nước ta cú ba hỡnh
thức sở hữu cơ bản là: Sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Từ
đó mà hỡnh thành nờn cỏc thành phần kinh tế khỏc nhau.
Thành phần KTNN đó xuất hiện như thế nào trong nền kinh tế Việt Nam?
Ta sẽ trở lại từ những ngày đầu giai cấp vô sản giành được chính quyền và bắt
tay vào xó hội mới với một nền kinh tế mới. Đảng ta đó lónh đạo nhân xây
dựng đất nước theo con đường XHCN, thực hiện mục tiêu “Dân giàu nước
mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ và văn minh”. Để xây dựng nền chính trị
XHCN thỡ đũi hỏi phải cú nền kinh tế đặc trưng cho hỡnh thỏi chớnh trị ấy -
một nền kinh tế cú thành phần chớnh hỡnh thành trờn chế độ công hữu. Trong
lúc bấy giờ, nền kinh tế Việt Nam dựa trên chế độ tư hữu, đó là sở hữu tư
nhân của những người sản xuất nhỏ và sở hữu tư nhân của CNTB. Đối với
hỡnh thức này, Nhà nước đó tiến hành cải tổ, sắp xếp để phát triển thành phần
kinh tế cá thể tiểu thủ công nghiệp và thành phần kinh tế tư bản tư nhân - là
đại diện của quan hệ sản xuất cũ CNTB. Vậy để xây dựng một nền kinh tế
mới XHCN, nhà nước đó đầu tư xây dựng các doanh nghiệp của mỡnh trong
cỏc nghành kinh tế, kết quả là hỡnh thành nờn một thành phần kinh tế mới –
KTNN.
Trang 4
Từ đó ta khái niệm được thành phần KTNN là gỡ? Đó là thành phần kinh
nhuận.Nhà nước sẽ giữ 100% vốn đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
trong các lĩnh vực quan trọng đặc biệt và sẽ cổ phần chi phối hoặc 100% vốn
đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh mà nhà
nước cần nắm nhằm bảo đảm ổn định nền kinh tế. Các doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh thông thường là những doanh nghiệp có quy mô lớn có
Trang 5
đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, phải luôn luôn đi đầu trong ứng dụng
kỹ thuật - công nghệ hiện đại, đảm bảo nhu cầu của đời sống nhân dân.
Cũn cỏc doanh nghiệp hoạt động công ích là những doanh nghiệp hoạt
động không vỡ mục đích lợi nhuận, có thể không có thu mà nhà nước cấp
kinh phí - đó là những doanh nghiệp cung cấp các hàng hoá công cộng, dịch
vụ công như : An ninh, quốc phũng, giao thụng, giỏo dục, ytế…
*Về cỏc tổ chức KTNN:
Các tổ chức KTNN là các tổ chức hoạt động gắn với chức năng quản lý
(kiểm tra, kiểm soỏt) như tài chính ngân hàng, bảo hiểm, kho bạc nhà nước,
các quỹ dự trữ quốc gia…các tổ chức này có thể do nhà nước cung cấp 100%
vốn hoặc giữ một phần vốn cố định để đảm bảo sự hoạt động ổn định cho các
tổ chức này. Thành phần này cũng có nột vị trí quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân.
*Về cỏc tài sản thuộc sở hữu nhà nước:
Các tài sản thuộc sở hữu toàn dân (hay sở hữu nhà nước) được xem là
thành phần của kinh tế nhà nước. Khi Nhà nước nhận được lợi ích kinh tế do
quuền sở mang lại như: đất đai, tài nguyên thiên nhiên,…
2. Sự cần thiết của kinh tế Nhà nước và vai trũ chủ đạo của kinh tế
Nhà nước trong nền kinh tế
2.1. Sự cần thiết có kinh tế Nhà nước trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xó hội
của đất nước.
Với mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước từ ngày bắt tay vào xây dựng Chủ
miền Bắc và đấu tranh giảu phóng miền Nam. Để tiến hành công nghiệp
hoá xó hội chủ nghĩa, Đảng ta chủ trương “ưu tiên phát triển công nghiệp
nặng một cỏch hợp lý”, và do đó các xí nghiệp quốc doanh càng được đầu tư
nhiều hơn và phát triển hơn cả về số lượng và quy mô, đặc biệt là trong ngành
công nghiệp nặng. Một loạt các khu công nghiệp mới được hỡnh thành như:
Việt Trỡ, Thỏi Nguyờn, Vinh, Đông Anh(Hà Nội)… đây là cơ sở để kinh tế
quốc doanh được mở rộng và phân bổ được khắp các vùng kinh tế lớn, nó sẽ
làm hạt nhân, là đầu tàu thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các vùng. Kinh Tế
quốc doanh trong giai đoạng này có vai trũ vừa là cụng cụ quan trọng để nhà
nước tiến hành công nghiệp hoá XHCN ở miền Bắc nhưng lại vừa là tấm
gương phản ánh sự hành công của quá trỡnh xõy dựng CNXH ở nước ta, nó
khẳng định con đường mà Đảng ta đó lựa chọn là đúng đắn.Trên phương diện
chính trị xó hội, thỡ KTQD luụn là lực lượng tiến bộ xó hội, là đội quân tiên
phong trong việc mở rộng QHSX XHCN.
Từ năm 1975 đến 1980: Cơ chế kế hoạch hoá tập trung thuần tuý vẫn
được duy trị. Sau khi thống nhất đất nước. với định hướng đưa cả nước đi lên
XHCN, nhưng có sự chênh lệch giữa hai miền Nam-Bắc, vỡ vậy Đảng ta chủ
trương tiếp tục mở rộng QHSX XHCN và công nghiệp hoá XHCN ở miền
Bắc, đồng thời tiến hành công cuộc cải tạo XHCN ở miền Nam. Thi hành chủ
trương đó số lượng các XNQD trên tất cả các lĩnh vực kinh tế (Công nghiệp,
Trang 7
nông nghiệp, thương nghiệp) tăng lên một cách nhanh chóng trên khắp cả
nước. Mặc dù so với giai đoạn trước đó sức đóng góp của KTQD trong giai
đọan này đó giảm sỳt, song KTQD vẫn đóng vai trũ chủ đạo, tuyệt đối quan
trọng công cuộc xây dựng và phát triển QHSX mới CNXH.
Từ 1980-1985: Giai đoạn này nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn, năng
lực sản xuất của KTQD không được sử dụng tối đa do thiếu vật tư một cách
nghiêm trọng. Với quan điểm định hướng xây dựng CNXH nên KTQD vẫn
được nhà nước rất chú trọng tỡm giải phỏp thỏo gỡ giai đoạn này cơ chế kế
Để hiểu đúng vai trũ của một thành phần kinh tế trong một cơ chế kinh tế
nhất định thỡ ta phải hiểu được cơ chế vận hành và đặc trưng cơ bản của cơ
chế kinh tế đó. Vỡ vậy ở đây ta nghiên cứu về kinh tế nhà nước trong cơ chế
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Thỡ trước hết ta sẽ tỡm hiểu qua về cơ
chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Ta có thể hiểu cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết nền kinh tế hàng hoá
do sự tác động của các quy luật vốn có của nó (đó là quy luật giá trị, quy luật
cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tê…), cơ chế đó giải
quyết ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế là cái gỡ, như thế nào và cho ai.
Cơ chế thị trường bao gồm các nhân tố cơ bản là cung, cầu và giá cả thị
trường.
Vậy nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN mà nước ta đang vận dụng là gỡ? Đó là nền kinh tế vận hành theo cơ
chế thị trường, tức là bất kể thành phần kinh tế nào (hay đơn vị kinh tế nào)
của nền kinh tế cũng phải chịu sự điều tiết của cơ chế thị trường, nhưng đồng
thời phải tuân thủ các nguyên tắc của chế độ XHCN dưới sự quản lý của nhà
nước XHCN. Từ khái niệm này ta có thể hiểu nôm na rằng, xây dựng nền
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN tức là xây đựng một nền kinh tế thị
trường hướng tới chế độ XHCN, hướng tới thực hiện mục tiêu của XHCN đó
là mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ văn
minh.
Đặc điểm cơ bản của cơ chế thị trường là cơ chế tự phát, các nhân tố kinh
tế của cơ chế đó tự tác động qua lại theo quy luật kinh tế khách quan mà dẫn
đến sự biến đổi, phát triển của nền kinh tế. Đặc điểm đó vừa là ưu điểm, vừa
là hạn chế của cơ chế này. Nó có thể mang lại một nền kinh tế phát triển với
tốc độ nhanh, nhưng đồng thời mang lại những khuyết tật về xó hội đó là
phân biệt giàu nghèo, bất công, tệ nạn xó hội gia tăng…
Đảng và nhà nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường theo
hướng XHCN dưới sự quản lý của nhà nước tức là muốn dựa trên ưu điểm
của cơ chế thị trường để khắc phục những khó khăn của nền kinh tế kém phát
nhưng chu kỡ quay vũng vốn nhanh và chỉ có thể cạnh trong nước, hơn một lý
do rất đơn giản là quy mô quá nhỏ hep, vốn quá ít không đủ điều kiện để hội
nhập với các nước bạn.
Trong điều kiện đó thỡ kinh tế nhà nước với các doanh nghiệp nhà nước
có quy mô lớn và vừa mới có khả năng tham gia vào hoạt động kinh tế với
các nước trên thế giới. Bởi chỉ có Nhà nước mới có đủ nguồn vốn để xây
dựng được các doanh nghiệp nhà nước đủ lớn trong các ngành, lĩnh vực then
chốt, các ngành kinh doanh mà Việt Nam có lợi thế so sánh so với các nước
khác. Do đó mà kinh tế nhà nước trở thành lực lượng giữ vai trũ dẫn dắt, làm
hạt nhõn để các danh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân dân có thể tham
gia vào nền kinh tế hội nhập.
Một lý do thứ hai khiến kinh tế nhà nước trở thành lực lượng đầu tàu
trong việc dẫn dắt nền kinh tế nước ta hiện nay là vỡ trong nền kinh tế luụn
luụn cú những ngành, lĩnh vực rất khú cú khả năng sinh lời hoặc cũn rất nhiều
Trang 10
vựng kinh tế cú cơ sở hạ tầng thấp kém khó đầu tư sản cuất, do đó mà các
thành phần kinh tế khác không muốn hoặc không có khả năng kinh doanh thỡ
kinh tế nhà nước phải tham gia vào hoạt động trong các ngành kinh tế hay các
vùng kinh tế để tạo dựng được những cơ sở vật chất ban đầu, thu hút dần các
phần tử kinh tế khác cùng tham gia vào hoạt động. Có như thế thỡ mới hỡnh
thành nờn một cơ chế kinh tế hợp lý trong nền kinh tế thị trường định hướng
xó hội chủ nghĩa ở nước ta đó là tạo nên một nề kinh tế có các ngành, lĩnh vực
được đầu tư, phát triển một cách cân bằng, có các vùng kinh tế phát triển song
song với nhau.
Thứ ba, để xây dựng nền kinh tế phát triển đúng hướng XHCN thỡ đũi hỏi
phải cú sự quản lý của nhà nước đối với các hoạt động kinh tế bằng pháp luật.
Những nhà hoạt động sản xuất kinh doanh luôn hướng tới mục tiêu quan
trọng nhất đó là làm sao tối đa hoá được lợi nhuận. Nhưng tỡnh hỡnh nước ta
hiện nay, các chủ thể kinh hoanh có thể có trỡnh độ hiểu biết về ý thức, về
nước nắm giữ nguồn vốn chi phối do đó quy mô hoạt động của các kinh tế
nhà nước và đặc biệt là thành phần doanh nghiệp nhà nước rất rộng lớn, và
đang ngày càng được tổ chức sắp xếp lại theo hướng hiện đại nhằm hoạt động
có hiệu quả hơn. Bởi nguồn vốn đầu tư lớn, chủ yếu trong các doanh nghiệp
nhà nước có 100% vốn của nhà nước hoặc nhà nước giữ cổ phần chi phối)
nên các doanh nghiệp nhà nước có điều kiện đầu tư trang thiết bị kỹ thuật,
công nghệ hiện đại. Có khả năng tạo ra năng xuất, chất lượng các loại hàng
hoá, dịch vụ cao, sử dụng tối đa và tận dụng được các nguyên nhiên vật liệu
đầu vào, tiết kiệm được chi phí sản xuất nhưng mang lại hiệu quả sản xuất
cao, đóng góp ngân sách lớn. Chỉ có doanh nghiệp nhà nước mới có khả năng
đi đầu trong việc việc ứng dụng ác công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao để có
thể đưa kinh tế đất nước theo kịp với nền kinh tế thế giới.
Kinh tế nhà nước phải tạo được động lực thúc đẩy, tạo đà và dẫn dắt các
thành phần kinh tế khác mà cơ bản nhất là thành phần kinh tế tư bản tư nhân
và thành phần kinh tế cá thể (mà chủ yếu là các doanh nghiệp dân doanh)
cũng đóng góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế. Muốn thực hiện được chức
năng này thỡ kinh tế nhà nước phải cần được chú trọng tron các ngành lĩnh
vực then chốt của nền kinh tế - bởi chỉ khi các ngành kinh tế này được phát
triển thỡ mới đủ khả năng đưa nền kinh tế phát triển theo. Tuy nhiên, trong
mỗi thời kỳ phát triển các lĩnh vực, ngành then chốt sẽ có sự thanh đổi, luân
chuyển từ ngành này sang ngành khác, do đó việc xác định ngành lĩnh vực
then chốt cho từng thời kỳ mà phải tính đến cả xu hướng hội nhập cũng như
tiềm năng kinh tế của đất nước là quan trọng. Khi nhà nước đầu tư phát triển
đúng hướng thỡ kinh tế nhà nước sẽ hoạt động có hiệu quả, thu hút dần các
thành phần kinh tế khác cùng tham gia vào – như thế là kinh tế nhà nước đó
tạo đà và dẫn dắt được các thành phần kinh tế phát triển, cùng góp phần vào
việc tăng trưởng kinh tế.
Để tạo động lực, hỗ trợ các thành phần kinh tế khỏc phỏt triển thỡ kinh tế
nhà nước phải đi đầu trong việc chuyển giao công nghệ, áp dụng công hiện
đại và sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong các lĩnh vực mà trước đây ít được
gian phỏt triển cũn ngắn nờn cỏc doanh nghiệp dõn doanh chưa thể tích luỹ để
mở rộng quy mô lớn hơn đẻ làm nguồn cốt cho việc phát triển kinh tế nước ta.
Trong điều kiện đó, chỉ các doanh nghiệp nhà nước có đủ điều kiện để trở
thành lực lượng nguồn cốt, tạo choừ dạ cững chắc cho để dẫn dắt các doanh
nghiệp dân doanh cùng phát triển. Muốn làm được điể đó thỡ kinh tế nhà
nước phải xác định được cơ cấu thành phần kinh tế của mỡnh một cỏch hợp
lý. Luụn giữ được vị trí, vai trũ xứng đáng, phát huy được lợi thế, khai thác
được khả năng đóng gốp thiết thực vào sự phát triển của kinh tế đất nước,
Trang 13
kinh tế nhà nước phải tích luỹ được vốn để phát triển trong các lĩnh vực then
chốt, chi phối nhiều mặt của đời sống kinh tế - xó hội, trở thành xương sống
của nền kinh tế quốc dân, để từ đó các thành phân kinh tế khác có được chỗ
dựa vững mà cùng phát triển, đi lên.
Mặt khác, trong cơ chế thị trường, lợi nhuận luôn là mục tiêu mà các
doanh nghiệp theo đuổi, do đó các thành phần khác thường tập trung kinh
doanh ở những ngành kinh tế hoặc những vùng có khả năng đưa đến lợi
nhuận cao một cách nhanh chóng mà ít rủi ro nhất, do đó sẽ tạo ra lỗ hổng là
những ngành và vùng kinh tế kém tiềm năng hoặc đũi hỏi đầu tư lớn: đó là
các vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển có cơ sở hạ tầng thấp kém. Để
khắc phục tỡnh trạng đó, đồng hởi mở đường kích thích các thành phần khác
cùng tham gia vào hoạt động sản xuất thỡ kinh tế nhà nước phải có mặt để
xây dựng cơ sở hạ tầng ở các vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển là điều
kiện tiên đề tạo thuận lợi trước mắt thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế.
Đó cũng là một chức năng thể hiện vai trũ chủ đạo, mở đường, hỗ trợ các
thành phần kinh tế phát triển theo đúng đinh hướng XHCN, bởi nó cân bằng
được trỡnh độ phát triển giữa các vùng kinh tế, giảm bớt hố ngăn cách giữa
thành thị và nông thôn.
Phát triển theo đúng định hướng XHCN cũn thể hiện ở việc tuõn theo
phỏp luật mà nhà nước XHCN đó đề ra. Thực tế hiện nay cho thấy khụng ớt
sinh lời tăng lên thỡ doanh nghiệp dõn doanh nhày vào hoạt động và đủ khả
năng cung cấp cho thị trường thỡ DNNN rút ra và tiếp tục hoạt động ở các
lĩnh vực khác.
Thứ hai : trong các vùng kinh té luôn có sự phát triển mất cân đối giữa các
ngành kinh tế đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế kém phát
triển. Nhà nước đó rất chỳ trọng đầu tư phát triển ở các vùng này từ rất lâu và
hiện nay nó đó phỏt huy chức năng điều tiết cho kinh tế của các vùng đó
tương tự như tạo ra sự cân bằng trong nền kinh tế vĩ mô của cả nước.
Thứ tư : kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể tạo dẫn nền tảng kinh tế
cho chế độ xó hội mới, XHCN.
Theo luận điểm của Mác-Lenin thỡ chế độ XHCN phải được xây dựng
dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, tức là mọi tư liệu sản xuất đều
thuộc sở hữu chung của tập thể, của toàn dân, không một cá nhân nào được
biến TLSX thành tài sản riờng của mỡnh. Đó được coi là chế độ sở hữu tiến
bộ nhất trong lịch sử phát triển của xó hội loài người. Khi xem xét về nguồn
gốc hỡnh thành KTNN ta đó biết rằng KTNN được xây dựng dựa trên hỡnh
thức sở hữu toàn dõn, cũn kinh tế tập thể được xây dựng dựa trờn hỡnh thức
sở hữu tập thể, trong thời kỳ quỏ độ lên CNXH của nước ta thỡ đây là hai
hỡnh thức sở hữu được xem là tiến bộ nhất, nó đại diện cho QHSX mới
XHCN. Vỡ vậy để xây dựng nền kinh tế XHCN thỡ KTNN cựng kinh tế tập
thể cú vai trũ là nền tảng cơ bản .
II. Thực trạng KTNN và việc thực hiện vai trũ chủ đạo của KTNN trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN hiện nay.
Trang 15
1. Những bước chuyển biến chủ yếu của KTNN trong thời kỡ đổi mới:
Từ giai đoạn đầu thực hiện đổi mới cơ chế kinh tế, chuyển từ kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng XHCN (Giai đoạn 1986 – 1990), một nền kinh tế đa phần được
tiền vốn và tài sản, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh và ổn định
việc làm cho người lao động.
Trang 16
Kết quả hoạt động của các DNNN sau các chính sách đổi mới đó được thể
hiện qua những con số sau: thời kỳ 1991 – 1995, tốc độ tăng trưởng của các
DNNN bỡnh quõn theo GDP là 11,7% bằng 1,5 lần tốc độ tăng trưởng chung
của nền kinh tế và bằng 2 lần tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ngoài quốc
doanh. Từ 1990 đến nay do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực và
thế giới cùng những thiên tai liên tiếp xảy ra thỡ tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế giảm dần, DNNN cũng nằm trong tỡnh trạng đó, tỷ trọng tổng sản
phẩm của DNNN trong GDP tăng 33,3% năm 1991 lên 40,07% năm 1996 và
41,23% năm 1998. Tỷ lệ nộp vốn ngân sách trên vốn nhà nước năm 1993 là
6,8% và năm 1999 là 12,31%. Năm 1999 các doanh nghiệp làm 40,2% GDP
trên 50% giá trị xuất nhập khẩu, đóng góp 39,25% ngân sách Nhà nước. Từ
1995 đến nay, hằng năm DNNN đóng góp từ 26 – 28% nguồn thu thuế nội
địa.
Từ thập niên 90 trở lại đây, Nhà nước đó sắp xếp, tổ chức, củng cố và
phỏt triển cỏc DNNN, cỏc tổng cụng ty Nhà nước: Chính phủ đó liờn tục chỉ
đạo và thực hiện sắp xếp lớn các DNNN đó là đợt 2 (1990 – 1993), đợt 2
(1994 – 1997), đợt 3 (1998 – 1999), qua mỗi đợt sắp xếp đó là các DNNN đó
cú sự đổi mới về quy mô, về cơ cấu tổ chức quản lý bằng cỏch sỏt nhập, giải
thể phỏ sản cỏc doanh nghiệp yếu kém, làm ăn thua lỗ kéo dài, chuyển doanh
nghiệp nhà nước thành các công ty cổ phần hoặc giao, bán, khoán, cho thuê
DNNN có quy mô nhỏ. Kết quả sau 3 đợt sắp xếp đổi mới đó là hiệu quả hoạt
động của các DNNN tăng lên, mặc dù số DN giảm xuống rất nhiều từ 12000
doanh nghiệp (năm 1990) xuống cũn 5280 doanh nghiệp (năm 2000).
Hiện nay có 17 tổng công ty 91 và 77 tổng công ty 90 đang hoạt động,
các tổng công ty này được tập trung xây dựng hầu hết trong tất cả các lĩnh
vực kinh tế của đất nước. Các tổng công ty nhà nước có 1605 DN thành viên,
cỏc DN này khỏ lờn rừ rệt: so với trước khi chuyển đổi vốn kinh doanh tăng
67,3% , doanh thu tăng 42,5%, nộp ngân sách nhà nước tăng 44,5% lao động
tăng 12,8%, thu nhập bỡnh quõn đầu người bằng 38,7%, một số cũn tớch luỹ
thờm và đó mở rộng được sản xuất. Đó là thành quả rất đáng mừng đối với sự
phát triển của kinh tế nhà nước.
Như vậy trong suốt quá trỡnh đổi mới từ 1986 đến nay, nhờ những chính
sách đổi mới, sắp xếp tổ chức lại các DNNN của chính phủ mà các DNNN đó
cú những chuyển biến tớch cực: việc tỏch quyền sở hữu đó tỏc động tích cực
đến quyền tự chủ của các doanh nghiệp và do đó hoạt động có hiệu quả hơn
trước, trỡnh độ công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ, vốn được bảo toàn và
tăng thêm, bước đầu đa dạng các nguồn vốn để phát triển, vốn tích luỹ tự bổ
sung tăng lên 27,8% tổng vốn sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của DNNN
đang từng bước được nâng lên, giúp KTNN thực hiện được vai trũ chủ đạo
của nền kinh tế quốc dân, chi phối được các ngành lĩnh vực then chốt, là lực
lượng nũng cốt trong tăng trưởng kinh tế, trong xuất khẩu và đóng góp cho
ngân sách Nhà nước, bảo đảm cân đối vốn và góp phần quan trọng trong ổn
định kinh tế vĩ mô, là lực lượng rất quan trọng trong việc bảo đảm các sản
phẩm chủ yếu của nền kinh tế.
Trang 18
1.2 Kết quả bước đầu phát huy vai trũ chủ đạo của KTNN từ những bước
đổi mới:
Thứ nhất, hệ thống kinh tế Nhà nước các thể chế thống nhất đang làm đũn
bẩy thỳc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ khá.
Thứ hai, trong những năm lại đây, hoà chung vào xu thế toàn cầu hoá nền
kinh tế thế giới, kinh tế hợp tác, liên doanh với nước ngoài rất được phát triển
mà chủ yếu là với thành phần KTNN. Điều đó khẳng định là thành phần kinh
tế đi đầu trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, mở đường cho
các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo xu hướng chung của nền
trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề xó hội, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần
kinh tế khác phát triển, làm lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức
năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ XHCN” (Văn kiện
đại hội Đảng lần thứ VIII)
Thư hai, nhà nước XHCN VN đang từng bước hoàn thiện dần hệ thống
cỏc cụng cụ quản lý vĩ mụ, của mỡnh đối với thành phần KTNN đặc biệt là
đối với các DNNN.Bằng các văn bản pháp quy các chính sách kinh tế mà nhà
nước đó thể chế hoỏ cỏc quan điểm, chủ trương của Đảng về vai trũ chủ đạo
của KTNN, DNNN; một loạt các văn bản được thực thi như quyết định về
hạch toán kinh doanh trong DNNN, quy chế quản lý tài chớnh đối với DNNN.
Luật DNNN, luật thương mại, chỉ thị về đẩy mạnh và sắp xếp, đổi mới các
DNNN, nghị quyết về giao, bán, khoán, đó là những công cụ điều tiết, quản lý
kinh tế của nhà nước, thể hiện sự chỉ đạo hết sức kiên trỡ của chớnh phủ cỏc
cấp, cỏc ngành.
Thứ ba, sự cố gắng phấn đấu của các DNNN, của đội ngũ cán bộ, quản lý
và người lao động trong cơ chế mới mà Đảng đề ra đũi hỏi cỏc DNNN cũng
như các cán bộ quản lý người lao động, phải có một sự thay đoỏi nhất định,
đáp ứng được những đũi hỏi của cơ chế kinh tế mới. Càng ngày ta nhận thấy
tính năng động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của nhiều cán bộ, công nhân
viên ở các DNNN được nâng cao. Các DNNN đó cú những việt làm nhằm
đưa hoạt động của sản xuất của mỡnh hiệu quả hơn như đổi mới công nghệ,
đào tạo đội ngũ cán bộ….
Thứ bốn: Hợp tác đa phương, đa hỡnh thức, hướng về xuất khẩu, của các
DNNN được phát triển cả về quy mô và hiệu quả, nhờ đó mà tranh thủ sự đầu
tư, giúp đỡ của quốc tế, của các DN nước ngoài, không chỉ cho thành phần
KTNN mà cũn cho cỏc thành phần kinh tế khỏc về thị trường, về đổi mới
công nghệ, về phương pháp sản xuất, kinh doanh…. nhờ đó mà KTNN thực
hiện được vai trũ mở đường, đón dắt cỏc thành phần kinh tế, phát triển theo
đúng định hướng XHCN của Đảng.
thấp, lóng phớ tiền vốn, phỏt sinh tiờu cực, tham nhũng, để lại những hậu quả,
khó khắc phục, Việc bảo toàn và phát triển vốn nhiều DN thực hiện chưa tốt,
tỡnh trạng ăn vào vốn, mũn vốn, mất vốn vẫn cũn rất nhiều, Khụng ớt doanh
nghiệp chưa thực hiện tốt quy chế dân chủ tại DNNN, nhất là công khai tài
chính, việc chi tiêu tuỳ tiện, lóng phớ.
Thứ hai: DNNN quy mụ vẫn cũn nhỏ, cơ cấu cũn nhiều bất hợp lý, dàn
trải, chồng chộo, về ngành và tổ chức quản lý.
Đến tháng 5-2001, cả nước có 5.655 doanh nghiệp với tổng số vốn nhà
nước khoảng 126.030 tỷ đồng (không tính giá trị quyền sử dụng đất), bỡnh
quõn mỗi DN 22 tỷ đồng. Số DNNN có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 59,8%,
trong đó số DN có số vốn từ 1 tỷ đồng trở xuống chiếm 18,2% (tại 14 tỉnh,
Trang 21
loại DN này chiếm hơn 90%, chủ yếu trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại,
du lịch); số DN có vốn từ 5 đến 10 tỷ đồng chỉ chiếm 15,2% ; số DN có vốn
trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 25%. Vốn lưu động của các DN nhà nước vào
khoảng 27 ngàn tỷ đồng, chỉ bằng trên 21% tổng số vốn nhà nước, bỡnh quõn,
một doanh nghiệp gần 4,8 tỷ, nhưng phần lớn các DN không có hoặc rất ít
vốn lưu động nên chủ yếu phải đi vay để sản xuất kinh doanh. Nhiều DNNN
cùng loại hoạt động trong tỡnh trạng chồng chộo về ngành nghề kinh doanh,
cấp quản lý và trờn cựng một địa bàn.
Thứ ba: Công nợ của DNNN ngày càng tăng, đầu tư đổi mới công nghệ
chậm, trỡnh độ công nghệ lạc hậu; lao động thiếu việc làm va dôi dư cũn lớn;
trỡnh độ quản lý phần lớn cũn yếu kộm.
Công nợ của DNNN hiện nay là quá lớn. Nợ quá hạn, nợ khó đũi ngày
càng tăng. Năm 2000, trong số 15,1% nợ quá hạn của các ngân hàng thương
mại nhà nước thỡ DNNN chiếm 74,8% đó làm ảnh hưởng rất xấu đến hoạt
động của tập thể ngân hàng. Tỡnh trạng tài chớnh không lành mạnh một phần
do lịch sử để lại, phần lớn là mới phát sinh, nhưng cũn lỳng tỳng, chưa có
phương án khả thi để xử lý dứt điểm, làm cho hoạch toỏn kinh tế bị mộo mú,
Mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh không thực hiện được, vốn của
nhà nước bị lỗ, tỷ trọng giảm. Thực chất ở đây các chủ đầu tư đó lợi dụng
danh nghĩa vào đầu tư để vào thu lợi nhuận từ phía Việt nam. Đó là hậu quả
của việc thiếu cơ chế quản lý kiểm tra, kiểm soỏt, nhất là về mặt hoạch toỏn,
tài chớnh.
Thứ 6: Trỡnh độ, phẩm chất của cán bộ quản lý DNNN cũn rất nhiều yếu
kộm. Đây là hậu quả, dư âm của cơ chế kinh tế cũ để lại, các cán bộ quản lý
DN ngày trước đó quen với chế độ bao cấp, của nhà nước - dù hoạt động
không hiệu quả vẫn được hưởng lương - thiếu năng động, nhanh nhạy trước
các tỡnh huống phỏt minh kinh tế trong cơ chế mới, mặc dù vậy nhưng vẫn
bảo thủ, không chịu tỡm hiểu, học hỏi nõng cao trỡnh độ để thích ứng và quản
lý DN đi đúng hướng, mà ngược lại một số trở lên sa sút về phẩm chât đạo
đức, vi phạm pháp luật, trong khi đó, việc thay đổi, bố trí lại số cán bộ này rất
khó khăn, chậm chạp, chưa có cơ chế phù hợp cho việc tuyển chọn những
người có năng lực vào quản lý điều hành DNNN.
2.2. Nguyờn nhõn của những hạn chế yếu kộm trờn:
Nghị quyết TW III đó khẳng định: “Những hạn chế, yếu kém của doanh
nghiệp nhà nước có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu do những
nguyên nhân chủ quan.”
*Thứ nhất: Chưa có sự thống nhất cao, trong nhận thức về vai trũ, vị trớ
của kinh tế nhà nước và DNNN, về yêu cầu và giải pháp sắp xếp đổi mới, đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN.
Rất nhiều ý kiến hoài nghi, thiếu tin tưởng vào sự vào sự cần thiết cũng
như vai trũ chủ đạo của KTNN và DNNN, dẫn đến sự bất dồng trong quan
điểm, nhận thức và vai trũ của KTNN trong nền kinh tế. Theo họ, DNNN
Trang 23
khụng thể hoạt động có hiệu quả, không có khả năng cạnh tranh bằng DN tư
nhân và do vậy không nhất thiết phải duy trỡ, vỡ những lý do:
-Cỏc DNNN cũn chậm đổi mới công nghệ, cũn nhiều bất cập trong việc tổ
chức sản xuất, bố trí xây dựng dây chuyền sắp xếp cán bộ, công nhân viên
chưa đúng chức năng, Trong khi đó bộ máy quản lý DN cũn nặng nề, cồng
kềnh số lượng lao động cũn dư thừa chưa được giải quyết nên năng suất thấp.
Trang 24
-Việc quản lý, sử dụng tài sản và tiền vốn hiện cú trong cỏc DN cũn thiếu
chặt chẽ, chớnh xỏc, hiệu quả sử dụng vốn thấp dẫn đến tỡnh trạng thiếu vốn
tăng lên. Tỡnh trạng tiền lương, khen thưởng phân phối cho người lao động
chưa công bằng, chưa đúng với năng lực làm việc của mỗi người, do đó chưa
khuyến khích phát triển tài năng và nâng cao năng suất lao động.
-Công tác kiểm tra, kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước đối với các
hoạt động của các DN và thủ trưởng của các đơn vị sản xuất cũn bị buụng
lỏng.
* Thứ ba: Quản lý của nhà nước đối với KTNN vũn nhiều thiết sút.
-Một là: Chưa có chiến lược quy hoạch dài hạn đầy đủ về phát triển các
ngành kinh tế, kinh doanh, đặc biệt là quy hoạch phát triển DNNN trên các
vùng kinh tế, khu kinh tế trọng điểm trong các ngành kinh tế, dịch vụ then
chốt mũi nhọn. Do vậy mà hệ thống DNNN chưa có cơ cấu hợp lý, chưa có
chiến lược kinh doanh và phát triển DN một cách đầy đủ và đúng. Đó là
nguyên nhân dẫn đến việc tổ chức sản xuất, kinh doanh chưa có hiệu quả.
Hoặc do cơ quan quản lý không đầu tư đúng hướng dẫn đến sản phẩm làm ra
không tiêu thụ được đưa DN đến làm ăn thua lỗ, phá sản.
-Hai là: Chính sách đổi mới công nghệ, phương pháp, phương tiện trong
sản xuất – kinh doanh và quản lý chậm được thực hiện. Trong những năm đổi
mới, công nghệ thiết bị, phương tien trong sản xuất kinh doanh và quản lý tuy
cú hiện đại hơn trước nhưng lại nhập từ các nước khác nhau dẫn đến thiếu
đồng bộ, khi muốn thay thế đũi hỏi chi phớ rất lơn do đó mà công nghệ rất
chậm được cải tiến. Mặt khác, do thiếu trỡnh độ mà một số DNNN khi đó cú
kinh phớ để đổi mới công nghệ thỡ lại mua về “rỏc thải cụng nghiệp” là