Đề tài “Trong xu thế hội nhập của
thị trường hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam
(doanh nghiệp của bạn) phải làm những gì
để nâng cao chất lượng hàng hoá và bắt kịp thị
trường”
LỜI MỞ ĐẦU
Nhiều năm đã đi qua sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, bản đồ địa lý
kinh tế, chính trị thế giới đã được phân bố lại. Sự thành công hay thất bại của
từng quốc gia đã được thời gian khẳng định như giá trị chung của quá trình phát
triển nhân loại. Một trong những nước thành công trong công cuộc xây dựng và
phát triển kinh tế xã hội phải kể đến Nhật Bản và các nước NICs, Châu á tất
nhiên không thể dựa vào một vài khía cạnh kinh tế xã hội để định giá sự phát
triển, song nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thế giới, đặc biệt
là các nhà hoạch định chính sách đều khẳng định được mấu chốt ở chỗ các nước
lược tạo nguồn vốn ban đầu cho quá trình CNH. Đồng thời, họ cũng chỉ ra rằng
việc lựa chọn chiến lược nào cho phát triển kinh tế đất nước là tuỳ thuộc vào đặc
điểm, điều kiện của mỗi nước.Tuy nhiên, đối với nước nào áp dụng chiến lược
thay thế nhập khẩu cũng chỉ phát huy tác dụng trong thời gian ngắn và trong một
phạm vi nhất định là quy mô thị trường nhỏ dung lượng thương mại không lớn.
Trong khi đó, công nghiệp hoá là một quá trình đa ngành công nghiệp tác động
vào nền kinh tế xã hội một cách toàn diện, liên tục với trình độ công nghệ ngày
càng cao. Quá trình đó làm thay toàn diện nền kinh tế đa đất nước từ một nước
có nền nông nghiệp lạc hậu lên một nước có nền công nghiệp hiện đại, phát
triển. Điều đó có nghĩa là quá trình CNH đòi hỏi một khoảng thời gian dài để
xây dựng một nền kinh tế có tiềm lực mạnh về mọi mặt. Đây cũng được xác
định là nhiêm vụ trung tâm trong chiến lược phát triển của mọi quốc gia.
Trong lịch sử phát triển CNH, các quốc gia đều bắt đầu xây dựng từ một
nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp phát triển còn hết sức sơ khai trở
thành một nước xuất khẩu lương thực, công nghiệp hiện đại với công nghệ cao.
Nhưng quá trình đó ở các nước khác nhau thời gian hoàn thành là không giống
nhau : Anh cần khoảng 120 năm, Mỹ cần khoảng 80 năm, nhóm các nước NICs
chỉ cần khoảng 30 năm Như vậy một xu hướng chung là những nước tiến hành
CNH cần thời gian hoàn thành càng ngắn nhưng lại đạt được những kết quả rất
cao. Sở dĩ có xu hướng trên là do quá trình CNH ở các nước khác nhau tiến hành
vào các thời kỳ khác nhau, tại các thời kỳ đó trình độ phát triển của khoa học
công nghệ cũng không giống nhau mà cụ thể là càng ngày càng phát triển, càng
hiện đại. Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá ở các thời kỳ khác nhau được tiến
hành theo các trình tự khác nhau từ thứ tự đến nhảy vọt hoặc kết hợp cả hai và
sự can thiệp của Chính phủ vào quá trình đó cũng khác nhau. Đây là sự khác
biệt cơ bản của quá trình công nghiệp hoá ở Châu Á và các nước phương Tây.
Đối với các nước NICs và ASEAN thì sự can thiệp của Chính phủ có thể coi là
một nhân tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của quá trình CNH. Điều
đó chứng tỏ vai trò cần thiết của Nhà nước trong quản lý vĩ mô, lựa chọn đường
đi nước bước kết hợp với việc lựa chọn các chính sách phát triển kinh tế, tạo ra
Cụ thể là đối với Hàn Quốc việc thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên tạo điều kiện
tăng dần dung lượng thị trường nội địa nhất là đẩy mạnh các ngành công nghiệp
nhẹ có khả năng sử dụng nhiều sức lao động nhưng cần ít vốn như các ngành :
dệt, may mặc, chế biến
Trong khi đó, Đài Loan sử dụng chiến lược phát triển ông nghiệp gắn với
chiến lược phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng nội địa và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, ngay trong giai đoạn này Đài
Loan cũng đã thấy được khuyết điểm của chiến lược mà họ đang sử dụng đó là
thị trường trong nước có quy mô nhỏ sức mua không lớn lên tăng trưởng chậm
lại .
Kế hoạch 5 năm 1966 - 1970 của Malaixia thể hiện rõ đường lối phát triển
kinh tế là thực thi chiến lược thay thế nhập khẩu để khẳng của Malaixia trong
buôn bán cũng như trong phân công lao động quốc tế. Thời kỳ này Malaxyia
chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp đặc biệt là sản xuất nông
nghiệp nhằm cơ giới hoá việc gieo trồng các loại cây mà Malayxia đã phải nhập
khẩu. Có thể thấy rằng trong kế hoạch 5 năm 1966-1970 Malayxia tiến hành
chiến lược thay thế nhập khẩu nhưng lại không lấy cây lúa làm trọng tâm mà lại
phát triển cây công nghiệp dài ngày để thu sản phẩm xuất khẩu. Do đó, kết quả
của việc thực hiện chiến lược này Malayxia không những đảm bảo cơ bản về
nhu cầu lương thực mà còn tiết kiệm được ngoại tệ làm tiền đề chuyển hướng
chiến lược hướng về xuất khẩu.
Khác với Malayxia, Thái Lan ngay từ đầu đã có một cơ sở kinh tế khá
vững vàng do Mỹ xây dựng trong thời kỹ chiến tranh Đông Dương. Cộng với vị
trí địa lý thuận lợi, Thái Lan bước vào chiến lược thay thế nhập khẩu với mục
tiêu chính là đẩy mạnh phát triển công nghiệp và những ngành công nghiệp sử
dụng nhiều lao động để tận dụng nguồn lao động trong nước. Nếu như Malayxia
tong chính sách phát triển nông nghiệp chú trọng vào cây công nghiệp : cọ dừa,
cà fê, ca cao thì Thái Lan lại tập chung vào phát triển cây lương thực, áp dụng
những chính sách khuyến khích xuất khẩu hàng nông sản và những sản phẩm
dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên. Kết quả là Thái Lan luôn là một nước
dụng chiến lược hướng nội là không phù hợp. Đây có thể coi là một yêu cầu để
thực hiện chiến lược nhưng cũng có thể coi là một hạn chế của chiến lược.
Tuy nhiên nói như thế không có nghĩa là khi quy mô thị trường lớn thì áp
dụng chiến lược hướng nội là thành công mà ngay khi điều kiện đó được đáp
ứng thì những hạn chế khác của chiến lược như làm giảm khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp trong nước lại tăng lên. Sở dĩ nảy sinh ra vấn đề này là
xuất phát từ sự can thiệp của Chính phủ.
Khi mà động cơ có tác động mạnh mẽ nhất để các doanh nghiệp sản xuất
cạnh tranh với nhau là lợi nhuận thì yếu tố này đã bị triệt tiêu khi có sự can thiệp
của Chính phủ. Bởi vì, khi Chính phủ bảo hộ bằng hạn ngạch hay thuế quan tức
là Chính phủ đã chịu phần thua lỗ thực sự mà các doanh nghiệp hoạt động
không có hiệu quả mang lại. Do được bảo hộ và mua nguyên vật liệu đầu vào
với giá rẻ nên các nhà sản xuất yên tâm không phải lo cạnh tranh tìm kiếm thị
trường để mua được nguyên liệu rẻ, hay cải tiến công nghệ để nâng cao năng
xuất, hạ giá thành sản phẩm cạnh tranh với giá hàng nhập trên thị trường quốc
tế. Tất cả các quá trình đó đáng nhẽ họ phải tìm tòi nghiên cứu thì họ lại trông
chờ vào sự bảo hộ của Chính phủ. Kết quả của sự bảo hộ này làm thất thu cho
ngân sách nhà nước đồng thời làm tăng khoảng cách chênh lệch trình độ sản
xuất giữa các nước trong khu vực cũng như trong thị trường quốc tế. Quá trình
này nếu không kịp thời nhận ra, dần dần bãi bỏ bảo hộ thì sẽ làm cho nền kinh tế
trì trệ lạc hậu, ngày càng tụt hậu so với thời đại.
Thực tế các nước NICs và ASEAN cũng nhanh chóng nhận ra hạn chế
này và họ khắc phục bằng cách giảm dần bảo hộ hoặc thay đổi chiến lược bảo
hộ cho phù hợp với điều kiện của đất nước mình. Hàn Quốc là một ví dụ: trong
giai đoạn phát triển mậu dịch 1962-1971 Hàn Quốc thực thi chiến lược thay thế
nhập khẩu gặp khó khăn là năng lực xuất khẩu hạn chế dẫn tới mất cân đối xuất
và nhập khẩu. Hàn Quốc cũng phát triển một số ngành công nghiệp nặng tạo
điều kiện chuyển mạnh sang chính sách hướng về xuất khẩu.
Như vậy, hạn chế thứ nhất của chiến lợc hướng nội là làm giảm cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong nước được xuất phát từ sự can thiệp của Chính
chế sự hình thành cơ cấu công nghiệp đa dạng của đất nước.
Theo một số nhà kinh tế hiện đại thì chiến lược thay thế nhập khẩu không
đồng nhất với sự đóng cửa nền kinh tế mà nó song song diễn ra hai quá trình :
một mặt hạn chế thậm chí ngăn cấm việc nhập khẩu hàng hoá trong nước có khả
năng sản xuất, khuyến khích tiêu dùng nội địa, Mặt khác cho phép nhập khẩu
các yếu tố để sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu. Trong khi đó để khuyến
khích các nhà đầu tư phát triển sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu, Chình phủ
áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó quan trọng nhất là hàng hoá sản
xuất trong nước bằng thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu, ưu đãi đầu tư, Chính từ
những ưu đãi này nên các sản phẩm sản xuất trong nước không có khả năng
cạnh tranh và khả năng tiêu thụ trên thị trường quốc tế. Do đó, không có khoản
thu ngoại tệ từ xuất khẩu nhưng vẫn phải chi ngoại tệ để nhập khẩu máy móc
thiết bị và ngyuên liệu từ nước ngoài dẫn tới tình trạng thâm hụt cán cân thương
mại và nợ nước ngoài gia tăng. Nền kinh tế đó trái hẳn với mô hình kinh tế mà
các nước đang phát triển xây dựng đó là : xây dựng một nền kinh tế độc lập,
phát huy nội lực là chính, ít bị phụ thuộc vào nước ngoài.
Do chiến lược hướng nội có những hạn chế trên, muốn khắc phục nó để
đưa nền kinh tế phát triển đi lên tất yếu phải tìm cách thay đổi chiến lược. Các
nước đang phát triển nhận thấy rằng để khắc phục vấn đề nợ nước ngoài, mất
cân đối trong hoạt động xuất khẩu, quy mô thị trường nhỏ hẹp thì chỉ có cách là
dựa vào thị trường rộng lớn bên ngoài. Muốn vậy, phải mở cửa tiến hành chiến
lược hướng ngoại.
III. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN THỰC THI CHIẾN LƯỢC HƯỚNG VÀO
XUẤT KHẨU.
Như đã phân tích ở trên, lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế cho một
đất nước có tầm quan trọng như thế nào tới sự thành công hay thất bại của nước
đó. Nó quyết định nhanh chóng phát triển cùng với xu hướng thời đại hay
không, hoàn thành quá trình CNH nhanh hay chậm. Chiến lược thay thế nhập
khẩu đã nhanh chóng bộc lộ những hạn chế đặt ra một đòi hỏi tất yếu cho các n-
ước đang áp dụng nó phải đổi hướng chiến lược. Điều đó là phù hợp với xu hư-
nhập là ngoại tệ, không phải nợ lần bị động mà còn có tiền để mua sắm máy
móc thiết bị hiện đại, đầu tư cho nghiên cứu phát triển máy móc điều đó giúp
cho nền kinh tế chủ động hơn trong chiến lược của mình.
Tất cả những ưu điểm mà chiến lược hướng ngoại khắc phục được hạn
chế của chiến lược hướng nội là một nguyên nhân để các nước chuyển hướng
chiến lược phát triển thì nguyên nhân thứ hai là xu hướng hội nhập kinh tế
quốc tế .
Có thể nói hội nhập kinh tế quốc tế là nhu cầu cần thiết của quá trình phát
triển lực lượng sản xuất. Sự lớn mạnh của lực lượng sản xuất khiến thị trường
nội địa trở nên nhỏ hẹp, buộc các quốc gia phải ngồi lại với nhau để tìm cách
khơi thông dòng chảy của hàng hoá, dịch vụ, đồng vốn và sức lao động. Họ đấu
tranh thoả hiệp với nhau nhằm mở rộng hơn nữa thị trường cho phát triển kinh
tế. Xét cả về phương diện nhu cầu phát triển của bản thân, cả về phương diện
buôn có bạn, bán có phường.Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế này.
IV. TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP HÌNH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN HOẠT
ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM
Hoạt động đối ngoại gồm ba nội dung cơ bản, hoạt động ngoại thương,
hoạt động hợp tác và hoạt động du lịch-dịch vụ thì hoạt động ngoại thương
chiếm vị trí quan trọng.
Thông qua hoạt động ngoại thương các quốc gia phát hiện ra những lợi
thế của mình và phát huy trên thị trường quốc tế. Hội nhập kinh tế tạo điều kiện
cho các quốc gia tận dụng đợc lợi thế so sánh, mà muốn tận dụng được thì phải
thông qua buôn bán ngoại thương. Quan hệ giữa hội nhập quốc tế và hoạt động
ngoại thương là quan hệ hữu cơ với nhau. Khi hội nhập càng mạnh mẽ thì ngoại
thương cần được tự do hoá, xoá bỏ độc quyền. Do đó, hoạt động ngoại thương
được quan tâm vào bậc nhất ở tất cả mọi quốc gia. Bản thân hoạt động ngoại
thương có những tác động đến tăng trưởng kinh tế.
Kết quả của hoạt động ngoại thương được đánh giá qua cán cân thanh
toán xuất nhập khẩu biểu hiện sự tăng hoặc giảm thu nhập ngoại tệ của đất nớc.
Ở nước ta, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế là một chủ trương của đại
mà nước ta đang rất thiếu và rất cần. Tuy nhiên để có thể thu hút đựợc nguồn vật
chất đó, nớc ta phải tạo ra những cơ hội đầu tư hấp dẫn để thu hút vốn nước
ngoài, phải có ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị tiến kịp khoa học và
công nghệ hiện đại. Đồng thời phải đón đầu những kiến thức quản lý kinh tế
hiện đại để vận dụng có hiệu quả .
Hoạt động xuất nhập khẩu là một nội dung quan trọng trong hoạt động
ngoại thương. Do đó hoạt động này chịu ảnh hưởng trực tiếp của các chính sách
ngoại thương. Những thay đổi trong hoạt động xuất nhập khẩu làm thay đổi căn
bản hoạt động ngoại thương, đến lượt mình, những thành công trong hoạt động
ngoại thương thúc đẩy hoạt động xuất khẩu phát triển.
Trong những năm qua, nước ta đã có những chính sách đổi mới theo
hướng mở cửa rất hấp dẫn thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thay đổi một cách toàn
diện trên các mặt nhu : quy mô mở rộng và tốc độ tăng trưởng nhanh, cơ cấu
nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu cũng đợc mở rộng theo chiều sâu cơ cấu thị
trường xuất khẩu được mở rộng đặc biệt là hàng xuất khẩu Việt Nam đã xâm
nhập vào một số thị trường khó tính nhất trên thế giới là Mỹ và EU .
Bước vào thế kỷ mới Việt Nam vẫn phát triển trên tinh thần phát huy nội
lực là chính nhưng phải tận dụng các nguồn ngoại lực. Kết hợp nội lực với ngoại
lực thành sức mạnh tổng hợp tiến công mạnh mễ vào CNH- HĐH. Qua đó ta
thấy hoạt động xuất nhập khẩu trong thời gian tới không những không bị xem
nhẹ mà còn được quan tâm tạo điều kiện phát triển từ những chính sách ưu đãi.
Đặc biệt là từ nay đến 2006 Việt Nam phải dần dần hoàn thành giảm dần tiến tới
xoá bỏ hạn ngạch và thuế quan theo hiệp định hiệu lực chung (CEPT) để tham
gian trên tinh thần phát huy nội lực là chính nhth thuế quan có hiệu lực chung
(CEPT) để tham gian trên tinh thần phát huy nội lực là thuế quan có hiệu lực
chung (CEPT) để tham gian trên.
Sự phát triển nhanh chóng của hoạt động xuất khẩu trong mười năm qua
có thể xem là một thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới. Điều đó thể hiện qua
tốc độ tăng trưởng, quy mô xuất khẩu, cơ cấu nhóm, mặt hàng xuất khẩu, cơ cấu
thị trường xuất khẩu và cơ cấu chủ thể tham gia hoạt động xuất khẩu.
khẩu của Trung Quốc đã làm cho việc xuất khẩu thịt lợn sang thị trường Hồng
Kông trở nên bế tắc.
Về quy mô, xuất khẩu của nước ta còn hết sức nhỏ bé xét cả về tương đối
lẫn tuyệt đối. Nếu tính bình quân đầu người ngay từ những năm 1986 và hiện
lên tới 80-90 tỷ USD. Thái Lan đạt kim ngạch xuất khẩu 10 tỷ từ những năm
1987, hiện lên tới 55-60 tỷ USD. Philipin là nước kém hơn nhưng cũng đạt kim
ngạch xuất khẩu 10 tỷ USD vào năm 1992 và hiện nay xấp xỉ 25 tỷ USD. Nếu
tính kim ngạch xuất khẩu/đầu người, năm 1996 Malaixia đã đạt 3700 USD, Thái
Lan đạt 930 USD và Philipin đạt 285 USD trong khi đó Việt Nam mới đạt 96
USD. Năm 2000 Indolexia đạt 267 USD, Philipin 344 USD, Thái Lan 943 USD,
Malaixia 3750 USD, Hàn Quốc 3961 USD, Xingapo 4167 USD, VIệt Nam 150
USD/đầu người.
Thực tế cho thấy, nguy cơ này xa hơn là hiện thực nếu như chúng ta
không có giải pháp để tạo ra những chuyển biến cơ bản cho hoạt động xuất nhập
khẩu nói chung và cho xuất khẩu nói riêng. Như trên đã phân tích một trong
những nguyên nhân chủ quan quan trọng gây ra hiện tượng tốc độ xuất khẩu
ngày một chậm dần là do cơ cấu mặt hàng ít có sự thay đổi căn bản.
Trong thời gian qua, việc chuyển dịch cơ cấu diện ra chủ yếu nhờ tăng
nhanh kim ngạch xuất khẩu của bốn nhóm hàng : dệt may, giầy dép, sản phẩm
gỗ tinh chế và điện tử (bao gồm cả linh kiện máy tính ). Trong số này chỉ có sản
phẩm gỗ tinh chế là đạt hàm lượng nội địa cao các nhóm hàng còn lại chủ yếu
dựa vao phương pháp gia công hàm ưlợng nội địa tương đối thấp.
Song một điều không thể phủ nhận khi nhìn lại trong thời gia qua cơ cấu
nhóm, mặt hàng xuất khẩu vẫn tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ
trọng hàng đã qua chế biến, nhất là chế biến sâu. Nếu nh năm 1991, hàng
nguyên liệu thô chiếm trên 92%thì nay chỉ còn 60% kim ngạch xuất khẩu. Hàng
chế biến trong đó có hàng chế tạo năm 1991 chỉ chiếm khoảng 8% thì đến năm
2000 đã tăng lên 40%. Nhóm hàng nông lâm thuỷ-hải sản năm 91 chiếm 53%
đến nay xuống còn 36,5%, nhóm hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm
91 chiếm 47%, năm 2000 đã lên tới 63,5% tổng kim ngạch xuất khẩu.
hàng này tăng nhóm hàng kia giảm nhưng nếu biết phát huy để bù trừ cho nhau
thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng trưởng bền vững”.
Nếu như trên phân tích cho rằng một trong những nguyên nhân quan
trọng của hiện tượng tốc độ tăng trưởng giảm dần là do cơ cấu hàng xuất khẩu
chưa có những thay đổi trên tất cả các mặt hàng mà chủ yếu nhờ tăng nhanh
kimh ngạch của bốn nhóm hàng cơ bản : dệt may, giầy dép, sản phẩm gỗ tinh
chế và điện tử thì vấn đề thị trường xuất khẩu là lời giải cho câu hỏi vì sao cơ
cấu hàng xuất khẩu có sự thay đổi tích cực mà tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn
tiềm ẩn nguy cơ tăng trưởng chậm.
Hiện nay, nước ta đã có quan hệ thương mại với hơn 60 nước và có thoả
thuận đối xử tối hậu quốc (MFN) với 68 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Sự tan rã của khối SEV dẫn tới những thay đổi lớn trong cơ cấu thị trường
xuất khẩu của nước ta thể hiện : Liên Xô (cũ) và Đông Âu, Việt Nam chỉ còn
chiếm gần 2% kim ngạch xuất khẩu đạt 230 triệu USD. Do đó, Châu Á trở thành
thị trường xuất khẩu chính ở nước ta. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cho thị
trường này tăng từ 26,73% vào năm 1989 lên 43,29% vào năm 1990 và năm
1991 tăng lên tới 76,73% và luôn duy trì trong khoảng 72-74% từ đó đến nay.
Trong đó Nhật Bản và ASEAN đóng vai trò lớn ( Nhật Bản chiếm 15,8%; các
nước ASEAN chiếm 21,3%). Nhìn chung, cơ cấu thi trường xuất khẩu đã có
những chuyển hướng tích cực. Ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do các thị
trường trong khu vực đang trên đà khôi phục, sức mua tăng lên một số mặt hàng
của Việt Nam xuất khẩu tăng lên ( điện tử, lương thực, thực phẩm…).
Khu vực Âu- Mỹ hàng năm nước ta xuất siêu trên 2000 triệu USD. Các
mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là: hàng may mặc, giầy dép, thuỷ sản, cao su….
Với thị trường Tây-Nam A-Châu Phi quan hệ kinh tế-thương mại giữa
Việt Nam và khu vực này chưa được phát triển đáng kể, mặc dù ta có khả nâng
xuất khẩu gạo, chè. đồ điện tử, hàng may mặc, giầy dép… có thể nhận định rằng
đây là khu vực còn nhiều tiềm năng để khai thác nếu sử lý tốt vấn đề thông tin,
xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm.
Bên cạnh nước ta là Trung Quốc, sự gia tăng của Trung Quốc là một hạn
nước độc quyền ngoại thương sang cơ chế mở rộng quyền xuất nhập khẩu cho
cacs địa phương, các ngành và các thành phầ kinh tế; từ cơ chế hành chính mệnh
lệnh sang sự vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngày
30/7/1999, chính phủ đã ban hành nghị định số 57/1999 ND-OP quy định chi
tiết về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và mua bán hàng hoá, đại lý
với nước ngoài. Nghi định và xu hướng thay đổi cơ chế trên đã xoá bỏ hoàn toàn
chế độ giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu. Tới nay đã có 8.137 doanh nghiệp
đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tăng hơn 3 lần so với
thời thời gian trước ngày 1/9/1999, trong đó các doanh nghiệp quốc doanh là
4.497, ngoài quốc doanh là 3.640. Cùng với sự thay đổi cơ cấu mặt hàng, cơ cấu
thị trường, thì sự thay đổi cơ cấu chủ thể tham gia hoạt động xuất khẩu được
xem là sự thay đổi sâu rộng nhất. Điều đó chứng tỏ nhà nước ta đã có những
nhận định ban đầu đúng đắn, những chính sách đưa ra dù chưa được là hoàn
chỉnh thì cũng đã phần nào phù hợp với xu hướng phát triển và điều kiện thực
tiễn. Kết quả của những cố gắng đó là “ kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn
tăng trưởng bền vững” như phó vụ trưởng vụ tổ chức Bộ thương mại nhận xét.
Ngoài việc phát huy nội lực của các doanh nghoiệp trong nước, để đạt được kết
quả trên cong có phần đóng góp của các doanh nghiệp cóa vốn đầu tư nước
ngoài chưa kể kim ngạch xuất khẩu dầu thô (trên 2,75 tỷ USD), kim ngạch xuất
khẩu của các mặt hàng khác của khu vực đầu tư nước ngoài cũng đạt trên 2,7 tỷ
USD, tăng 29,7% so với kết quả 10 tháng đầu năm 2000.
Tựu chung lại, xuất khẩu Việt Nam trong thời gian qua có những thay đổi
lớn cả về quy mô, tốc độ, cơ cấu mặt hàng, cơ cấu thị trường và đặc biệt là cơ
cấu chủ thể tham gia hoạt đông xuất khẩu. Những chuyển biến này làm thay đổi
cục diện nền kinh tế đất nước, góp phần lớn vào thu nhập quốc dân, cải thiện đời
sống của nhân dân, thay đổi căn bản cơ cấu công nghiệp của đất nước thúc đẩy
sự hình thành cơ cấu copong nghiệp đa dạng của đất nước. Qua đó, phát hiện
những ngành có tiềm năng phát triển lớn, có khả năng tạo bước đột phá và trở
thành ngành xuất khẩu đầu tầu như dệt may, dầy dép, điện tử và đặc biệt là
ngành khai thác và chế biến thuỷ sản.
so với năm 1998, năm 2000 tăng 13,08% so với năm 1999. Nếu tính cả giai
đoạn 11 năm 1990 đến 2000 tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng gấp 4,06
lần so với năm 1990.
Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu trong hai năm 1999 và 2000 những mặt
hàng thuỷ sản xuất khẩu chính là: đơn vị là %.
Mặt hàng 1999
2000
Hàng khô 7
5
Cá đông lạnh 10
8
Tôm đông lạnh 59
35
Nhuyễn thể đông lạnh 11
9
Các loại khác 13
43
qua đã có những thay đổi đáng kể. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đủ điều kiện
xuất khẩu sang thị trường EU, có thể liệt kê ra một số doanh nghiệp như An
Giang fisery import-export company, work shop No 1- AGIFISH Ngoc Ha
company Ltd. Food processing and trading đặc biệt là ngày 14-7-1999 Chủ
tịch nước ký quyết định 287/KT/CTN đã phong tặng danh hiệu anh hùng lao
động với thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới cho xí nghiệp chế
biến thuỷ sản xuất khẩu Cần Thơ (Cafatex). Đây là xí nghiệp đạt được những
thành công to lớn trong việc xác định đúng thị hiếu của khách hàng để cân đối
cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, tìm được sự tin cậy hợp tác quý báu của khách hàng
trong và ngoài nước. Mặt khác Cafatex là đơn vị đi đầu trong việc tìm kiếm
nguyên liệu cho chế biến.
Công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản An Giang cũng là một doanh nghiệp có
nhiều đóng góp trong kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nước nhiều năm liền là
đơn vị dẫn đầu ngành thuỷ sản và là một trong những đơn vị đứng đầu tỉnh An
Giang về năng suất, chất lượng và hiệu quả. Trong 11 năm 1990 và 2000 tổng
doanh thu của doanh nghiệp tăng 11 lần nộp ngân sách nhà nước 7,45 tỷ. Là một
trong 18 doanh nghiệp đầu tiên được cộng đồng châu Âu đưa vào danh sách
nhóm một các doanh nghiệp được phép xuất khẩu thuỷ sản vào EU.
VI. CÁC CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU .
1. Chính sách thuế ưu đãi đối với hàng xuất khẩu .
Thuế là một công cụ Nhà nước dùng để đánh vào các loại hàng hoá và
dịch vụ.
Tác động của thuế tới hoạt động xuất khẩu là tác động xuôi chiều, khi
thuế thấp kích thích xuất khẩu (thuế ưu đãi). Phần lớn các nước hiện nay có xu
hướng khuyến khích xuất khẩu nên việc đánh thuế vào hàng hoá xuất khẩu hay
đầu vào dùng để xuất khẩu đều được hưởng những ưu đãi nhất định. Đặc biệt là
ở Việt Nam khi mà thiếu ngoại tệ để nhập công nghệ mới, cải tiến kỹ thuật thì
những chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu được các nhà lập chính sách
cân nhắc rất kỹ sao cho có lợi nhất cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu,
tham gia hoạt động xuất khẩu. Cụ thể là :
nhau. Đưa đến những kết quả khó lường trước, đụng chạm không chỉ tới xuất
nhập khẩu, cán cân thương mại mà còn tới mặt bằng giá cả, lạm phát và tiền
lương thực tế, đầu tư và vay nợ nước ngoài, ngân sách nhà nước ,cán cân thanh
toán quốc tế cũng như sự ổn định kinh tế vĩ mô nói chung .
Ngay từ 1996, thực hiên chính sách đổi mới toàn diện và sâu sắc, nước ta
có những điều chỉnh lại tỷ giá một cách căn bản. Hoạt động ngoại thương phát
triển mạnh, kim ngạch xuất khẩu 2000 gấp hơn 4 lần so với 1990, quan hệ với
các nước trên thế giới mở rộng. Với sự phá giá rất mạnh nội tệ, sau đó nhanh
chóng thống nhất tỉ giá chính thức với thị trường, xoá bỏ cơ bản hệ thống tỉ giá
cũ quá phức tạp thì cơ chế quản lý ngoại hối và chính sách tỉ giá của Việt
Nam đã có bước chuyển biến rất căn bản sang cơ chế thị trường, thoát khỏi trạng
thái thụ động để trở thành công cụ điều chỉnh vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế
mở.
Trong giai đoạn 1992-1996, ổn định tỉ giá hối đoái quan trọng hơn là tăng
giá để khuyến khích xuất khẩu là điều cốt lõi và cũng là thành công của chính
sách tỷ giá trong giai đoạn này biểu hiện kim ngạch xuất khẩu liên tục qua các
năm tăng cao từ 20-30%/năm.
Sự ra đời của thị trường ngoại tệ cho phép 7 ngoại tệ được sử dụng để
giao dịch: USD, DEM, GBP, FF, JPY, HKD, VND, cùng với việc ra đời 2 trung
tâm giao dịch ngoại tệ ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là bước tiến đáng kể theo
hướng thị trường gián tiếp kích thích xuất khẩu thông qua tạo mặt bằng giá hợp
lý hơn. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, xuất khẩu là một trong những nguồn
cung ngoại tệ chủ chốt song cung cầu ngoại tệ luôn luôn căng thẳng và VND
không có khả năng chuyển đổi hoàn toàn nên trong thời gian tới vẫn tập chung
ngoại tệ vào các ngân hàng, để ngân hàng thống nhất ngoại hối. Đồng thời tự do
hoá quyền sở hữu và sử dụng ngoại tệ, đặt ngoại tệ thành một hàng hoá đặc biệt
được trao đổi trên thị trường. Đẩy mạnh các biện pháp khuyến khích không tiêu
dùng tiền mặt trong thanh toán ngoại tệ, mở rộng tiến tới tự do hoá mở và sử
dụng tài khoản nước ngoài và kinh tế trong nước. Để kích thích xuất khẩu giảm
dần tiến tới xoá bỏ việc bảo đảm cân đối ngoại tệ từ phía chính phủ. Mở rộng
là giải pháp quan trọng húc đẩy xuất khẩu. Trong đề án này em xin đưa ra giải
pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy xuất khẩu .
Trước tiên, cần phải khẳng định rằng, trong thời gian qua khu vực có vồn
đầu tư nước ngoài cung cấp cho xã hội khối lượng hàng hoá ngày càng lớn, nhất
là hàng hoá xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Cụ thể là: Kim ngạch xuất khẩu
của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm 1991 là 52 triệu USD, năm 1995
tăng lên 440 triệu, năm 1996 đạt 786 triệu, năm 1998 đạt 1,5 tỷ(chiếm khoảng
15% tổng kim nghách xuất khẩu cả nước) chưa kể dầu thô. Trong 10 năm qua
đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã
hội và đóng góp ngày càng cao và tăng kim nghạch xuất khẩu cũng như đóng
góp vào GDP: năm 1992 là 2%, đến năm 1998 là 8,6%. Trong những năm tới
Nhà nước liên tục có những điều chỉnh chính sách đầu tư nước ngoài nhằm phát
huy vai trò của nố đối với hoạt động xuất khẩu thông qua: Bổ sung nguồn vốn
cho doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên
tiến, mở rộng thị trường
Như vậy có thể thấy rằng gia tăng quy mô và nâng cao hiệu quả sử dung
vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là một trong những giải pháp hữu hiệu nhất
nhằm đạt mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu .
Hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt động thuỷ sản nói riêng đều “khát
vốn”. Như ta đã biết, ngành khai thác và chế biến thuỷ sản có tiềm năng phát
triển rất lớn mà quy mô vốn đầu tư mới chỉ đáp ứng được 20%. Trong đó chưa
kể đầu tư còn chưa đồng bộ mang nặng tính tự phát khiến dự án thuỷ sản chưa
phát huy được hiệu quả.
Có lẽ việc quy hoạch vùng nuôi còn dang dở nên các tổ chức cho vay tín
dụng tỏ ra khá e dè trong việc thẩm định dự án vay vốn để nuôi trồng. Đây là
nguyên nhân đầu tiên khiến cho khu vực nuôi thuỷ sản “khát vốn”
Hiện nay, nhiều tỉnh chưa có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội
hoặc có nhưng lại không cập nhật với thực tiễn cộng với việc chưanh chấp và
thiếu phân định rõ ràng giữa nuôi trồng thuỷ sản và đất nông nghiệp gây trở ngại
klhông nhỏ cho quá trình xét duyệt cấp vốn.