Tài liệu Đề tài “Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước (Nghiên cứu vận dụng tại Nhà máy len Hà Đông)” - Pdf 98





Đề Tài : Quản lý vốn nhà nước tại doanh
nghiệp nhà nước (Nghiên cứu vận dụng tại
Nhà máy len Hà Đông)

doanh nghiệp nhà nước trở thành yêu cầu cấp bách hiện nay. Trong điều kiện ngân
sách nhà nước còn hạn hẹp, công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà
nước càng cần được thực hiện tốt hơn.

Trong thời gian thực tập tại Nhà máy len Hà Đông, em đã nghiên cứu tìm hiểu
về công tác quản lý vốn nhà nước tại Nhà máy và thấy rằng bên cạnh những thành
tựu Nhà máy gặt hái được trong những năm gần đây còn tồn tại nhiều hạn chế
trong công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại Nhà máy (cả khi giao vốn và
trong quá trình sử dụng vốn). Do đó, để thực hiện nhiệm vụ bảo toàn và phát triển
vốn nhà nước giao, công tác quản lý vốn nhà nước tại Nhà máy cần sớm được
hoàn thiện.

Em chọn đề tài: “Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
(Nghiên cứu vận dụng tại Nhà máy len Hà Đông)”
với mục đích qua nghiên cứu phát hiện những hạn chế trong công tác quản lý đối
với phần vốn tại Nhà máy len Hà Đông, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế
đó, từ đó đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn nhà nước tại
Nhà máy len Hà Đông.
NguyÔn Hång Th¾ng-TCC
41A
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Nội dung đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại Nhà
máy
len Hà Đông
Chương 3: Đề xuất hoàn thiện công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại
Nhà máy len Hà Đông

nước. Có người cho rằng doanh nghiệp nhà nước là các xí nghiệp công làm nhiệm
vụ sự nghiệp (cảnh sát, cứu hoả, y tế, giáo dục ). Khi giảng về doanh nghiệp nhà
nước, giáo sư Michel Rambolt đã đưa ra ba tiêu chí xác định doanh nghiệp nhà
nước: doanh nghiệp nhà nước trực tiếp chịu sự kiểm soát của ai? Sản xuất ra sản
phẩm đem bán hay không đem bán? Hoạt động gắn với lợi ích chung hay lợi ích
cá nhân? Từ đó, ông quan niệm rằng: Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp
chịu sự kiểm soát trực tiếp của nhà nước, được phân làm hai loại: Loại một là các
xí nghiệp, tổ chức sản xuất những sản phẩm không dùng để bán, nó làm việc vì lợi
ích chung và được gọi là các cơ quan hành chính; Loại hai là các xí nghiệp công
cộng, loại này lại được chia thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất là các doanh nghiệp
sản xuất mặt hàng để bán, trao đổi, hoạt động vì lợi ích chung, sản phẩm của nó
thường là các dịch vụ công cộng. Nhóm hai là các doanh nghiệp hoạt động trong
môi trường phải cạnh tranh, thường hoạt động vì lợi ích riêng nào đó.
Ở nước ta, theo Luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua ngày
20/4/1995: doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước thành lập, đầu
tư vốn và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm
thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước
có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ
hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Doanh
nghiệp nhà nước có tên gọi, con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt
Nam.
Doanh nghiệp nhà nước mang các đặc điểm chung với các loại hình doanh
nghiệp khác như:
Thứ nhất, chức năng kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước bao gồm: sản
xuất-cung ứng trao đổi, hợp tác và tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá dịch vụ.
NguyÔn Hång Th¾ng-TCC
41A
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
NguyÔn Hång Th¾ng-TCC
41A
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Có thể phân loại doanh nghiệp nhà nước thành hai loại căn cứ vào chức năng
hoạt động của doanh nghiệp là: doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh
(hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận) và doanh nghiệp nhà nước hoạt
động công ích (hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính
sách của Nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh )
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phát triển trong mối quan hệ
kinh tế đa dạng về hình thức sở hữu, về vốn và tài sản, về cơ chế tổ chức quản lý.
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường không chỉ tồn tại đơn nhất trong khu
vực kinh tế quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước) như trong nền kinh tế kế hoạch
hoá mà còn tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu bao gồm các loại hình tổ chức
doanh nghiệp khác nhau như: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh Nhưng doanh nghiệp nhà nước có vị trí
đặc biệt quan trọng, nó là bộ phận nòng cốt của thành phần kinh tế nhà nước,
thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Vai trò của doanh nghiệp
nhà nước được thể hiện qua những chức năng cụ thể sau:
Thứ nhất, chức năng định hướng sự phát triển của nền kinh tế. Chức năng này
thể hiện ở chỗ doanh nghiệp nhà nước phải đi tiên phong trong các lĩnh vực chiến
lược theo đường lối phát triển của nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh
tế khác tham gia; doanh nghiệp nhà nước phải là mẫu mực về trình độ quản lý, về
hiệu quả kinh doanh để các doanh nghiệp khác noi theo;
Thứ hai, chức năng hỗ trợ và phục vụ. Sự khác biệt giữa doanh nghiệp nhà
nước và các loại hình doanh nghiệp khác là sự phát triển của doanh nghiệp nhà
nước không phải đơn thuần vì bản thân nó mà quan trọng hơn cả là tạo điều kiện
cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy, doanh nghiệp nhà
nước được bố trí xây dựng ở những khu vực ngành nghề cần thiết tạo điều kiện

theo qui định phải ghi tăng vốn ngân sách cấp;

Ba là, vốn của doanh nghiệp nhà nước tự tích luỹ, chính là phần thu nhập sau
thuế doanh nghiệp nhà nước giữ lại để tái đầu tư.
Hình thức thực hiện đầu tư của Chính phủ vào các doanh nghiệp nhà nước cụ
thể như sau:
Một là, giá trị quyền sử dụng đất, Chính phủ giao đất cho doanh nghiệp nhà
nước hay cho doanh nghiệp thuê đất, thực hiện những chính sách ưu đãi về đất đai
đối với doanh nghiệp nhà nước;
Hai là, cấp vốn điều lệ và bổ sung vốn:
- Vốn điều lệ để san lấp mặt bằng, xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc
thiết bị đưa vào sản xuất;
- Vốn bổ sung được cấp trong trường hợp doanh nghiệp nhà nước được giao
thêm nhiệm vụ;

NguyÔn Hång Th¾ng-TCC
41A
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Ba là, không thu khấu hao, miễn giảm thuế hay cấp tín dụng nhà nước ưu đãi
Những khoản đó được doanh nghiệp nhà nước sử dụng để tái đầu tư, thay thế đổi
mới tài sản cố định và sử dụng cho các yêu cầu kinh doanh khác theo quy định của
Chính phủ.

1.1.2.2. Tính tất yếu của việc quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Nhà nước phải quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước vì:
Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu nhà nước nhưng nhà nước giao
cho một số cá nhân, đơn vị sử dụng. Như vậy có sự tách biệt giữa người sở hữu


Thứ ba, đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh, phần lợi
nhuận sau thuế thuộc về nhà nước. Nhà nước sử dụng lợi nhuận đó để duy trì và
tái sản xuất mở rộng doanh nghiệp hoặc đáp ứng một lợi ích nào đó của nhà nước.
Do đó, để lợi nhuận sau thuế được tối đa hoá, nhà nước phải quản lý phần vốn đầu
tư của mình để nó được sử dụng một cách có hiệu quả, trên cở sở đó tăng lợi ích
nhà nước.

Tóm lại, việc nhà nước quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước là một
đòi hỏi khách quan để bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu trong việc bảo toàn vốn và tài
sản cũng như để thực hiện vai trò quản lý của mình.

1.2. Nội dung công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
1.2.1. Thiết lập căn cứ về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Thiết lập căn cứ về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước là việc
làm cần thiết nhằm tạo cơ sở giúp các đơn vị được giao vốn thực hiện quản lý vốn
được giao và giúp các cơ quan kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ giám sát của
mình.
Hình thức biểu hiện cụ thể của nội dung công tác này là việc xây dựng hệ thống
văn bản pháp luật về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Khác với cách thức
quản lý doanh nghiệp trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, trong nền kinh tế thị
trường có sự điều tiết, Nhà nước quản lý doanh nghiệp một cách gián tiếp theo
nguyên tắc: Nhà nước điều chỉnh thị trường, thị trường điều chỉnh doanh nghiệp.
Nhà nước ban hành chính sách nhằm định hướng sự phát triển theo mục tiêu của
Nhà nước và giúp doanh nghiệp tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh; Nhà
nước tạo hành lang pháp lý thông thoáng, bình đẳng và môi trường kinh doanh
vừa thuận lợi, vừa đòi hỏi hiệu quả kinh tế cao để các doanh nghiệp hoạt động.
Chính sách quản lý vốn được ban hành hướng vào việc khai thác, động viên và sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp nhằm khuyến khích


Ba là, quy định các chính sách ưu đãi về mặt tài chính đối với các doanh
nghiệp nhà nước hoạt động công ích như: hỗ trợ vốn, bù chênh lệch khi thực hiện
các nhiệm vụ nhà nước giao, bảo đảm thoả đáng lợi ích vật chất cho người lao
động trong các doanh nghiệp nhà nước này Đồng thời thiết lập cơ chế quản lý
hợp lý đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các nguồn lực nhà
nước giao.

Chính sách quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước bao trùm các
nội dung quản lý sau:

a, Quản lý việc hình thành vốn của doanh nghiệp nhà nước:

NguyÔn Hång Th¾ng-TCC
41A
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖpDoanh nghiệp nhà nước có thể được đầu tư vốn khi mới thành lập hoặc đầu tư
bổ sung trong quá trình hoạt động. Ngoại trừ các doanh nghiệp hình thành do kết
quả quốc hữu hoá, các doanh nghiệp nhà nước đều được hình thành trên cơ sở
nguồn vốn cấp phát ban đầu của nhà nước. Tuy nhiên căn cứ vào tình hình thực tế
mà nhà nước quyết định cấp dưới hình thức trực tiếp (cấp thẳng từ ngân sách nhà
nước) hay gián tiếp (qua các hình thức ghi thu-ghi chi như: chuyển vốn từ doanh
nghiệp nhà nước này sang doanh nghiệp nhà nước khác hoặc cho doanh nghiệp
nhà nước nhận trực tiếp các khoản viện trợ để đầu tư ). Đối với vốn lưu động,
nhà nước có thể cấp theo định mức một phần, phần còn lại doanh nghiệp phải huy
động trên thị trường vốn và chịu lãi suất thị trường. Đồng thời, tuỳ thuộc vào khả
năng của ngân sách nhà nước của mỗi nước mà chính sách đầu tư vốn cho doanh
nghiệp nhà nước ở các nước là khác nhau. Ở Pháp, những doanh nghiệp nhà nước

tách) là số vốn sở hữu hiện có tại doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp thành viên,
sau khi đã được kiểm tra, thẩm định theo quy định hiện hành của nhà nước.

Trong khi khu vực kinh tế tư nhân có thể được huy động một cách tự chủ và
linh động trong môi trường kinh doanh, khu vực kinh tế nhà nước thường chỉ được
phép huy động vốn dưới một số hình thức nhất định, các kênh huy động vốn đó là:
Thứ nhất, huy động vốn từ Ngân sách nhà nước: Các doanh nghiệp khi có nhu
cầu về vốn có thể đề nghị nhà nước xét duyệt cấp vốn cho doanh nghiệp mình.
Đây là nguồn vốn đặc biệt , chỉ các doanh nghiệp nhà nước mới có đặc quyền
được yêu cầu và đây cũng là nguồn vốn chủ lực của các doanh nghiệp nhà nước.

Thứ hai, huy động vốn thông qua hoạt động liên doanh, liên kết: Đây là việc
góp tiền hoặc tài sản với các doanh nghiệp khác để mở rộng sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp có thể liên doanh liên kết với các doanh nghiệp, tổ chức khác để
huy động vốn.

Thứ ba, huy động vốn bằng cách đi vay: Doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu
vốn của mình bằng cách đi vay những khoản tín dụng dài hạn, ngắn hạn, hoặc
trung hạn từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các doanh
nghiệp khác, các cá nhân (kể cả các cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp),
được phát hành trái phiếu huy động vốn để đầu tư phát triển.

Thứ tư, huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, cổ phiếu thường mới để
bán cho công nhân viên chức trong doanh nghiệp và ngoài xã hội.

Ngoài ra, doanh nghiệp có thể huy động vốn cho sản xuất kinh doanh từ chính
các quỹ của doanh nghiệp. Nhà nước có quy định cụ thể về việc sử dụng các quỹ
này.

b, Quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước

có hiệu qủa, bảo toàn và phát triển vốn

Doanh nghiệp Nhà nước phải xây dựng quy chế quản lý, bảo quản, sử dụng tài
sản của doanh nghiệp; quy định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân đối với
các trường hợp làm hư hỏng, mất mát tài sản.

Định kỳ và khi kết thúc năm tài chính doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê
toàn bộ tài sản và vốn hiện có. Xác định chính xác số tài sản thừa, thiếu, tài sản ứ
đọng, mất phẩm chất, nguyên nhân và xử lý trách nhiệm; đồng thời để có căn cứ
lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp phải mở sổ theo dõi chi tiết tất cả các khoản công nợ phải thu
trong và ngoài doanh nghiệp. Định kỳ (tháng, qúy) doanh nghiệp phải đối chiếu,
NguyÔn Hång Th¾ng-TCC
41A
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖptổng hợp, phân tích tình hình công nợ phải thu; đặc biệt là các khoản nợ đến hạn,
qúa hạn và các khoản nợ khó đòi. Các khoản nợ không thu hồi được, cần xác định
rõ mức độ, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp xử lý.

Doanh nghiệp được quyền cho thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý
và sử dụng của mình, để nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu nhập nhưng phải
theo dõi, thu hồi tài sản khi hết hạn cho thuê. Đối với tài sản cho thuê hoạt động,
doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định. Doanh nghiệp được
đem tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn
hoặc bảo lãnh tại các tổ chức tín dụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của
pháp luật. Doanh nghiệp không đợc đem cầm cố, thế chấp, cho thuê các tài sản đi
mượn, đi thuê, nhận giữ hộ, nhận cầm cố, nhận thế chấp của doanh nghiệp khác


Doanh nghiệp Nhà nước được phép đưa vốn và tài sản đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài theo quy định của pháp luật.

 Bảo toàn và phát triển vốn:

Bảo toàn vốn và phát triển vốn là nghĩa vụ của doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích
của Nhà nước về vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước, tạo điều kiện cho
doanh nghiệp ổn định và phát triển kinh doanh có hiệu quả, tăng thu nhập cho
người lao động và làm nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước. Các biện pháp bảo toàn
vốn thường được áp dụng là:

Thứ nhất, thực hiện đúng chế độ quản lý, sử dụng vốn, tài sản theo các qui định
của Nhà nước;

Thứ hai, thực hiện việc mua bảo hiểm tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng
của doanh nghiệp. Tiền mua bảo hiểm được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh
doanh;

Thứ ba, doanh nghiệp Nhà nước được hạch toán vào chi phí kinh doanh, chi
phí hoạt động khác một số khoản dự phòng theo quy định như: Dự phòng giảm giá
hàng tồn kho, dự phòng các khoản nợ thu khó đòi, dự phòng giảm giá các loại
chứng khoán trong hoạt động tài chính

Việc lập và sử dụng các khoản dự phòng nói trên thực hiện theo quy định hiện
hành. Ngoài các biện pháp trên, doanh nghiệp được dùng lãi năm sau (trước thuế
hoặc sau thuế) để bù lỗ các năm trước, được hạch toán một số thiệt hại (thiên tai,
dịch bệnh ) vào chi phí hoặc kết qủa kinh doanh theo qui định của Nhà nước.

1.2.2. Phân cấp trong quản lý


Thứ hai, công ty đầu tư tài chính là một doanh nghiệp nhà nước, công ty được
thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước.

Thứ ba, công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, được Chính phủ
giao vốn ban đầu và đầu tư bổ sung vốn trong quá trình hoạt động.

Thứ tư, chức năng của công ty là kinh doanh vốn nhà nước. Điều này khẳng
định mục đích đầu tư vốn vào các doanh nghiệp nhà nước là để đảm bảo đồng vốn
chẳng những được bảo toàn mà còn được phát triển (gia tăng giá trị của chủ sở
hữu).

Thứ năm, đối tượng hoạt động của công ty là các doanh nghiệp, bao gồm:
doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác có
phần vốn góp của nhà nước như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

NguyÔn Hång Th¾ng-TCC
41A
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Ở Việt Nam, tháng 10/1999, Chính phủ quyết định giải thể Tổng cục quản lý
vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, thành lập Cục tài chính doanh nghiệp
trực thuộc Bộ tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính đối với
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và đại diện chủ sở hữu đối với số vốn
nhà nước đã đầu tư vào doanh nghiệp. Chức năng của Cục tài chính doanh nghiệp
được cụ thể hoá như sau:

Một là, thống nhất quản lý nhà nước về tài chính doanh nghiệp thuộc các thanh


nghiệp nhà nước; giám sát việc phân phối lợi nhuận sau thuế, việc sử dụng các
quỹ tại doanh nghiệp;
+ Thẩm định nhu cầu hỗ trợ tài chính hàng năm và cấp phát các khoản chi hỗ
trợ cho doanh nghiệp. Tham gia ý kiến về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh doanh của các doanh nghiệp trọng điểm, các tổng công ty nhà nước;
tham gia xây dựng và thông báo chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nước hàng năm của
doanh nghiệp theo uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ tài chính; tham gia các phương án
giá sản phẩm và dịch vụ do nhà nước quy định giá; tham gia việc xây dựng đơn
giá, quỹ tiền lương và xếp hạng doanh nghiệp theo quy định của nhà nước;
+ Kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ quản lý tài chính, kế toán, kiểm
toán của doanh nghiệp; kiểm tra báo cáo tài chính, xác định khả năng hoàn trả nợ,
mức độ bảo toàn và phát triển vốn hàng năm của doanh nghiệp;
+ Tổng hợp, phân tích tình hình quản lý, sử dụng vốn, việc bảo toàn và phát
triển vốn thuộc sở hữu nhà nước tại các loại hình doanh nghiệp trong cả nước và
theo ngành kinh tế;
+ Quản lý các quỹ tài chính hỗ trợ doanh nghiệp do Bộ trưởng Bộ tài chính uỷ
quyền;
+ Hướng dẫn các Sở tài chính-vật giá thống nhất quản lý nhà nước về tài chính
đối với doanh nghiệp do tỉnh thành phố thành lập hoặc góp vốn, tổng hợp phân
tích tình hình tài chính doanh nghiệp trên địa bàn;
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ tài chính giao.

Dưới Cục tài chính doanh nghiệp, ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
có các Chi cục tài chính doanh nghiệp thuộc Sở tài chính vật giá. Cục tài chính
doanh nghiệp quản lý trực tiêp các doanh nghiệp nhà nước trung ương. Các doanh
nghiệp nhà nước địa phương chịu sự quản lý trực tiếp của các Chi cục tài chính
doanh nghiệp thuộc Sở tài chính-vật giá tỉnh, thành phố.

Hình thức phân công mới này có ưu điểm ở chỗ do doanh nghiệp nhà nước vẫn

nước theo phạm vi chức năng của mỗi cấp đã được quy định.

1.2.3.1. Quản lý việc hình thành vốn của doanh nghiệp nhà nước

Một việc không dễ song không thể thiếu trong hoạt động quản lý là phải xác
định được nhu cầu vốn của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đánh giá và xét duyệt các
trường hợp để đầu tư, giao vốn cho doanh nghiệp một cách hợp lý.

BỘ TÀI CHÀNH
Cục tài chính doanh
nghi

p

Chi cục tài chính doanh
nghiệp tỉnh, thành phố
Quản lý vốn các doanh
nghiệp trung ương
Quản lý vốn các doanh
nghi

p
đ

a ph
ươ
ng

NguyÔn Hång Th¾ng-TCC
41A


Sau khi đã xác định nhu cầu vốn của doanh nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền tiến hành đầu tư, giao vốn cho doanh nghiệp, công việc này được thực hiện
căn cứ vào các quy định đã được nêu ra trong các văn bản pháp luật liên quan.

Ở nước ta, cấp vốn đã trở thành hình thức đắc lực nhất đối với doanh nghiệp
nhà nước trong suốt thời kỳ bao cấp. Đến nay tuy đã giảm nhiều song các doanh
nghiệp nhà nước vẫn được bao cấp nhiều qua giá và qua cấp vốn từ ngân sách nhà
NguyÔn Hång Th¾ng-TCC
41A
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖpnước. Trước đây và hiện nay, Nhà nước cấp toàn bộ vốn cố định và một phần vốn
lưu động cho các doanh nghiệp nhà nước căn cứ vào nhu cầu vốn lưu động của
doanh nghiệp, thường là 30%. Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp nhà nước
ở nước ta được xác định theo công thức sau:

Tổng doanh thu
Nhu cầu vốn lưu động =
Vòng quay vốn lưu động

Nếu trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thiếu vốn, số vốn thiếu
xin được cấp bổ sung. Nhu cầu vốn cấp bổ sung tính theo công thức:

Số vốn thiếu xin được
cấp bổ sung
=

Nhu cầu vốn lưu


hợp vốn ngân sách với các nguồn vốn tự có của doanh nghiệp. Số vốn tự bổ sung
của một số ngành chiếm tỷ trọng rất lớn trong nguồn vốn chủ sở hữu và cũng tăng
về số tuyệt đối liên tục qua các năm, ví dụ: ngành Hàng hải, Bưu điện, Hàng
không. Kết quả thống kê của Cục tài chính doanh nghiệp cho biết: Quy mô vốn
nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua tăng. Tuy nhiên, việc
cấp vốn của nhà nước vẫn còn những hạn chế. Hiện tượng thiếu vốn trầm trọng tại
số đông các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay là một minh chứng cho sự
chưa hợp lý trong việc cấp vốn cho doanh nghiệp nhà nước. Tình trạng chung của
các doanh nghiệp nhà nước ta hiện nay là tình trạng thiếu vốn sản xuất kinh
doanh. Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước đầu tư thành lập nhưng vốn nhà nước
không đủ mức tối thiểu cho sản xuất kinh doanh. Có tới 60% doanh nghiệp nhà
nước không đủ vốn pháp định theo Nghị định 50/CP. Trên 50% các doanh nghiệp
nhà nước chưa đủ vốn lưu động tương ứng với quy mô hoạt động kinh doanh.
Tổng công ty nhà nước được ưu tiên các điều kiện vật chất, nguồn lực để phát
triển song hiện vẫn có tới gần 80% số Tổng công ty có mức vốn nhà nước dưới
mức vốn bình quân của các Tổng công ty, trong đó 35% Tổng công ty có mức vốn
nhà nước dưới 1000 tỷ đồng. Con số này chứng tỏ có tình trạng chênh lệch về vốn
khá lớn giữa các Tổng công ty và số Tổng công ty thiếu vốn, ít vốn là chiếm đa số.

Bên cạnh nguồn vốn nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý, sử dụng, nguồn
vốn huy động được bằng việc sử dụng các khoản nợ, đặc biệt là các khoản vay
cũng được quản lý khá chặt chẽ do nó ảnh hưởng đến cơ cấu vốn, cơ cấu tài sản
của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu. Ở nước
ta, các khoản nợ phải trả cũng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của các doanh
nghiệp nhà nước. Theo kết quả kiểm kê nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước
thời điểm 0 giờ ngày 1/1/2000, tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước là
527.267 tỷ đồng trong đó vốn chủ sở hữu là 173.857 tỷ đồng (chiếm 32,9%), còn
tổng vốn huy động qua các khoản nợ phải trả là 353.410 tỷ đồng (chiếm tới 67%
tổng nguồn vốn). Việc huy động vốn qua các khoản nợ cũng ngày một tăng. Nợ

quản lý và điều hành doanh nghiệp hoặc sắp xếp lại doanh nghiệp. Ngoài ra, giám
sát doanh nghiệp còn để đánh giá việc chấp hành các văn bản quy phạm pháp luật,
chế độ tài chính, chuẩn mực kế toán hiện hành và đánh giá tổng thể về tình hình
hoạt động sản xuất kinh đoanh của doanh nghiệp để phục vụ cho việc ban hành,
hoàn thiện các chính sách vĩ mô và chế độ đối với doanh nghiệp trong từng ngành,
từng lĩnh vực, thực hiện sự hỗ trợ đối với trường hợp cần hỗ trợ của nhà nước
nhằm khắc phục những khó khăn tạm thời và phát triển doanh nghiệp. Các hình
thức giám sát doanh nghiệp nhà nước bao gồm:

Thứ nhất, giám sát từ bên trong: là giám sát nội bộ do các tổ chức của doanh
nghiệp như kiểm toán nội bộ, ban kiểm soát, thanh tra nhân dân và do doanh
nghiệp tự tổ chức thực hiện.

NguyÔn Hång Th¾ng-TCC
41A
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Thứ hai, giám sát từ bên ngoài: là giám sát do cơ quan chức năng của nhà
nước hoặc các tổ chức cá nhân bên ngoài doanh nghiệp tổ chức thực hiện. Việc
giám sát bên ngoài doanh nghiệp được thực hiện dưới hai hình thức:

Một là, giám sát gián tiếp: là theo dõi và kiểm tra từ xa thông qua báo cáo
tài chính, thống kê và chế độ báo cáo khác do các cơ quan chức năng của nhà
nước quy định, thông qua báo cáo công khai tình hình tài chính tại thị trường
vốn, thị trường chứng khoán.

Hai là, giám sát trực tiếp: được thực hiện bằng các hoạt động kiểm tra,
thanh tra, khảo sát nắm tình hình trực tiếp tại doanh nghiệp.

Chỉ tiêu này dùng để xem xét một đồng doanh thu đem lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận.

Tổng lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

=
Vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu này được dùng để xem xét một đồng vốn chủ sở hữu đem lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
 Mức độ bảo toàn vốn:

Số vốn nhà
nước bảo toàn
cuối kỳ
=

Số vốn nhà
nước đầu kỳ
+
Số vốn nhà nước
đầu tư thêm hoặc
rút về
+
Số vốn đầu tư
thêm từ lợi
nhuận sau thuế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status