Chọn lọc tự nhiên và sự hình thành
đặc điểm thích nghi (DARWIN)
1. Vai trò của chọn lọc tự nhiên
Chọn lọc tự nhiên có vai trò sáng tạo các
đặc điểm thích nghi. Giải thích tại sao
sinh vật thích nghi với hoàn cảnh sống
của nó? Đây là vấn đề chìa khoá để giải
thích nguyên nhân sự tiến hoá.
Theo Ch. R. Darwin, chọn lọc tự nhiên
có vai trò sáng tạo trong sự hình thành
các đặc điểm thích nghi. Trong các dạng
quan hệ phức tạp giữa sinh vật với hoàn
cảnh sống, cạnh tranh sinh học cùng loài
giữa các cá thể mang những biến dị khác
nhau trong cùng hoàn cảnh sống là động
lực chủ yếu của chọn lọc tự nhiên.
Khi hoàn cảnh sống thay đổi, những biến
dị có lợi cho bản thân sinh vật, mặc dù
lúc đầu rất hiếm, nhưng sẽ được tích luỹ,
tăng cường, trải qua nhiều thế hệ sẽ trở
thành những đặc điểm thích nghi phổ
biến. Còn biến dị bất lợi hay kém thích
nghi thì bị đào thải ra khỏi quần thể do
tác động của chọn lọc tự nhiên.
Sự cạnh tranh sinh học có thể diễn ra
giữa các cá thể trong một nhóm hoặc
giữa các thứ khác nhau trong một loài
dẫn đến sự tiêu diệt cá thể kém thích nghi
Màu sắc sặc sỡ báo hiệu nguy hiểm:
thường là những loài cơ thể có chất độc
không ăn được, tiết ra mùi hăng mà chim
ăn sâu không thích.
Một số động vật hoà lẫn vào môi trường
bằng hình dạng nguỵ trang. Ví dụ bọ que
có thân và chi giống hệt cành cây, cuống
lá. Bọ lá có dạng giống phiến lá. Rắn,
trăn trong rừng có hình giống như dây
leo.
Con đường hình thành màu sắc và hình
dáng tự vệ nói trên chỉ có thể được giải
thích đúng bằng tác dụng của chọn lọc tự
nhiên. Các cơ thể không có màu sắc tự vệ
tốt sẽ dễ bị kẻ thù phát hiện và bị đào thải
dần. Ngược lại, các cá thể nào có biến bị
về màu sắc, hình dạng theo hướng nguỵ
trang thì được sống sót và phát triển
trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Qua thời
gian dài, dưới tác dụng của chọn lọc tự
nhiên những biến dị theo hướng có lợi
được tích lũy và hoàn thiện dần trở thành
đặc điểm thích nghi của sinh vật.
Hình 3: Hình thái nguyên sinh vật (1-7)
và các dạng mỏ chim (8-12)
1. Paramecium 5. Chiliômnas 9. Delican
2. Ameba 6. Codosiga 10. Eagle
3. Ciliophris 7. Phacus 11. Robin
4. Noctiluca 8. Crossbill 12. Spoonbill
đều thích nghi với đời sống dưới nước,
tách ra khỏi môi trường nước sẽ bị chết.
Trong hoàn cảnh phù hợp, đặc điểm thích
nghi cũng chỉ có giá trị tương đối. Ví dụ
hoa ngô thích nghi kiểu thụ phấn nhờ
gió, nhưng khi có gió không phải 100%
hạt phấn của mỗi cây ngô đều được gió
đưa tới đầu nhuỵ hoa cái.
Khi hoàn cảnh sống thay đổi, đặc điểm
thích nghi có lợi trong hoàn cảnh cũ,
nhưng có thể bất lợi trong hoàn cảnh
mới. Lúc này tính chất hợp lý không còn
nữa. Khi đó chọn lọc tự nhiên diễn ra
theo chiều hướng mới, tích luỹ biến dị
theo hoàn cảnh mới và khi điều kiện sống
ít thay đổi thì chọn lọc tự nhiên vẫn diễn
ra Ví dụ sự tồn tại các cơ quan thoái
hoá là bằng chứng về sự thay đổi giá trị
thích nghi.
Tóm lại, các đặc điểm thích nghi chỉ
mang tính hợp lý tương đối và không
ngừng hoàn thiện do tác dụng của chọn
lọc tự nhiên.
3. Đánh giá quan niệm của Darwin về
sự hình thành đặc điểm thích nghi
Cống hiến
Darwin xem vấn đề thích nghi là chìa
khoá của toàn bộ lý luận tiến hoá, đã giải
quyết vấn đề trên quan điểm duy vật và
theo phương pháp lịch sử. Theo Ch. R.
ngoại cảnh, về sự di truyền các tập tính
thu được trong đời cá thể.