ĐẦU tư xây DỰNG XƯỞNG sản XUẤT nấm THƯƠNG PHẨM - Pdf 98

Ở ĐẦU
Ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trên thế giới hàng trăm năm
nay. Nấm là loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng. Hàm lượng protein(đạm
thực vật) chỉ sau thịt, cá và rất giàu chất khoáng, axit amin không thay thế, các
loại vitamin A, B, C, D, E…đặc biệt nấm ăn không có độc tố. Người ta vẫn liệt
nấm ăn vào loại “rau sạch”, “thịt sạch”. Ngoài giá trị dinh dưỡng, từ lâu người
ta còn biết nấm ăn có khả năng phòng bệnh, chống béo phì, ung thư… Việc
nghiên cứu và sản xuất nấm ăn trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, đã
trở thành một ngành công nghiệp thực phẩm.
Ở nước ta, nấm ăn cũng đã được biết đến từ lâu. Tuy nhiên, chỉ trong khoảng
một đến hai thập niên trở lại đây nghề trồng nấm mới phát triển và được xem
như là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Vì vậy, chúng tôi lựa chọn phương án đầu tư:
“ĐẦU TƯ XÂY DỰNG XƯỞNG SẢN XUẤT NẤM THƯƠNG PHẨM”
+ Công suất:15 tấn/năm.
+ Số ngày sản xuất: 250 ngày/năm.
+ Số lượng ca: 01 ca( 8 giờ/ ngày.
+ Địa điểm: Xã Nhân Hòa- Huyện Mỹ Hào- Tỉnh Hưng Yên.
+ Tổng số vốn đầu tư: 500.000.000 đ.
PHẦN 1: PHÂN TÍCH TÍNH KHẢ THI CỦA DỰ ÁN:
1.Phân tích tổng quan về kinh tế- xã hội của dự án:
1.1 Căn cứ pháp lý.
- Căn cứ vào công văn số 241/CP ngày 14/03/2000 của Thủ Tướng Chính Phủ
yêu cầu các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học công nghệ
và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc hỗ trợ và phát triển nấm ăn.
- Căn cứ vào quyết định 09/2000/NQ/CP ngày 15/06/2000 của Chính Phủ về
một số chủ chương chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản
phẩm nông nghiệp trong đó đề cập đến việc” Phát triển các loại rau mới như
nấm ăn và nấm dược liệu”
- Căn cứ vào công văn số 358/CBNLS-CB V/V một số biện pháp nhằm phát
triển sản xuất nấm, ngày 10/07/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

* Kết luận:Qua các phân tích trên, chúng tôi cho rằng việc sản xuất nấm ăn
thương phẩm là hoàn toàn phù hợp với các điều kiện hiện tại cho phép.
2. Phân tích thị trường của dự án.
2.1 Thị trường trong và ngoài nước.
Việc nghiên cứu và sản xuất nấm ăn trên thế giới ngày nay phát triển rất mạnh
mẽ, nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực phẩm thực thụ. Nghề trồng
nấm đã được cơ giới hóa cao từ khâu xử lý nguyên liệu đến chăm sóc, thu hái
và chế biến đều do máy móc thực hiện như: Hà Lan, Pháp, Mỹ, Đức… Ở các
nước Châu Á như: Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan… nghề trồng nấm cũng
được phát triển mạnh. Sản lượng nấm các loại của thế giới năm 2001 đạt
khoảng 10 triệu tấn, đặc biệt trong đó Trung Quốc có sản lượng đạt khoảng
5.230 nghìn tấn nấm chiếm khoảng ½ sản lượng nấm toàn thế giới. Thị trường
tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan và các nước
Châu Âu.
Nghiên cứu thị trường Mỹ, hàng năm nhập khẩu khoảng 193 triệu USD. Các
nước xuất khẩu nấm sang Mỹ chủ yếu như:Hà Lan, Indonexia, Trung Quốc,
Đài Loan, Ấn Độ, Canada. Mỹ nhập khẩu các loại nấm đông lạnh, nấm đóng
hộp, nấm tươi, trong đó chủ yếu là nấm đóng hộp chiếm khoảng 82%. Trong
những năm qua việc tiêu thụ nấm ở Mỹ tăng mạnh, đặc biệt là nấm tươi. Dự
báo trong thời gian tới nhu cầu tiêu thụ nấm tươi tiếp tục tăng và qua đó giá
nấm cung tăng theo.
Nhu cầu nấm ăn trên thế giới khoảng 15 triệu tấn mỗi năm và tăng mỗi năm
khoảng 10%. Trong khi đó sản lượng nấm hiện nay chỉ đáp ứng được ½ nhu
cầu.
Thị trường tiêu thụ nấm trong nước đang tăng nhanh và từng bước hồi sinh.
Trong đó, thị trường tiêu thụ lớn nhất của nước ta là tại TP Hồ Chí Minh và Hà
Nội, riêng tại Hà Nội có ngày cao điểm tiêu thu khoảng 30 tấn nấm mỡ, nấm
sò. Năm 2002 có 15 công ty xuất khẩu và 17 nhà máy đóng hộp nấm xuất khẩu,
sản lượng 30.000 tấn thành phẩm mỗi năm, với giá bán:
+ Nấm muối: 1.200$/tấn.

+ Dạng búp: Tai nấm nhỏ, nằm trong bọc, tạo thành hình giống búp cây từ
hình cầu( hình nút) đến trứng và sau đó là hình trứng kéo dài.
+Dạng dù: Là lúc cây nấm trưởng thành xe vỏ bọc, đưa mũ lên nhờ cuống tròn,
thon. Mũ xòe rộng thành tán dù. Phần vỏ bọc ban đầu được giữ lại, bọc lấy
chân nấm nên được gọi là bao nấm. Cuống nấm là bó sợi xốp, xếp theo kiểu
vòng tròn đồng tâm, khi non thì mềm và dòn, khi già thì xơ cứng khó bẻ gãy.
Mũ nấm hình nón, cũng có sắc tố đen nhưng nhạt dần từ trung tâm ra rìa mép.
- Đặc điểm sinh lý: Nấm rơm là loại nấm ăn, sinh trưởng và phát triển tốt ở
nhiệt độ 30 độ đến 32 độ C. Độ ẩm nguyên liệu 65-70%, độ ẩm không khí
80%, độ pH=7. Loài nấm ưa thoáng. Nấm rơm sử dụng trực tiếp xenlulozo làm
chất dinh dưỡng.
- Chu kỳ sống: Chu kỳ sinh trưởng và phát triển của nấm rơm rất nhanh.Từ lúc
trồng đến khi thu hoạch khoảng 10-12 ngày. Những ngày đầu nhỏ như hạt tấm,
màu trắng( đinh ghim),2-3 ngày sau lớn bằng hạt ngô, quả táo ta, quả trứng và
trưởng thành giống như chiếc ô, có cấu tạo các phần hoàn chỉnh. Các tỉnh phía
Bắc có thể trồng từ 15/3 đến15/10 dương lịch.
b) Nấm mỡ.
3
- Nhận dạng: Nấm mỡ là loại nấm ăn, có nguồn gốc từ những nước có khí hậu
ôn đới. Quả thể nấm( cây nấm) rắn chắc, phần mũ màu trắng hay nâu tùy từng
loài và cuống. Quả thể chín, màng bao bị rách, bào tử bắt đầu phát tán từ phiến,
nấm nở ra như cái ô.
- Đặc điểm sinh lý: Hệ sợi nấm phát triển tốt ở nhiệt độ 24-25 độ C, giai đoạn
hình thành “ cây nấm” ở 16-18 độ C. Độ ẩm trong môi trường nuôi trồng từ 65-
70%. Độ ẩm không khí trên dưới 80%. Độ pH=7-8%( môi trường trung tính
đến kiềm yếu). Độ thoáng nơi trồng vừa phải. Trong thời gian phát triển không
cần ánh nắng mặt trời. Nấm mỡ không xử dụng trực tiếp xenlulozo như các loại
khác, do đó cần có lượng khoáng nhất định cho nấm ăn: đam( nito) 2,2-2,5%;
photpho( P) 1,2-2,5%; canxi( Ca) 2,5-3%; tỷ lệ C/N( lượng cacbon/nito) là14-
16; lượn amoni( NH

min
Axitascobic Iron Canxi Phospho
Trứng 0,1 0,31 0,4 0 2,5 50 210
Nấm
mỡ
42,5 3,7 8,9 26,5 8,8 71 912
Nấm

108,7 4,7 4,8 0 15,2 33 1348
Nấm
rơm
91,9 3,3 1,2 20,2 17,2 71 677
4
(Đơn vị tính:mg/100g chất khô)
Bảng 3: Thành phần axit amin.
Lizin Histidin Arginin Threonin Valin Methionin Isoloxin
Trứng 913 295 790 616 859 406 703
Nấm mỡ 527 179 446 366 420 126 366
Nấm sò 321 87 306 264 390 90 266
Nấm rơm 384 187 366 375 607 80 491
(Đơn vị tính:mg/100g chất khô)
Sau khi thu hoạch nấm sẽ được đem đi bán tươi hoặc được đóng túi và bảo
quản lạnh ở nhiệt độ 5-8 độ C( giữ được nấm trong 2-3 ngày).
3.1.2 Cách thức sử dụng nấm.
- Chần nấm: Đun nước sôi thả nấm vào luộc khoảng 5 phút vớt ra ngâm vào
nước lạnh, rửa sạch nấm, khi chế biến vớt nấm ra để ráo nước.
- Tác dụng của chần nấm: Loại bỏ mùi ngái của rơm rạ và nước tự do. Cố định
các chất dinh dưỡng, nấm sẽ giòn ngon hơn và ăn không ngán.
- Các món ăn chính:
+ Nấm luộc: Cho nấm chần vào nước đun sôi 1-2 phút sau đó vớt ra để nguội.

giải thưởng khác. Chủ trì nhiều phương án độc lập cấp nhà nước, về các
chương trình nấm ăn và nấm dược liệu.
Công nghệ, máy móc thiết bị đơn giản được chế tạo trong nước và cho phép
thu hồi nhanh.
Bảng 4:Quy trình sản xuất nấm ăn.
Giống nấm được mua tại Phòng khuyến nông, Trung tâm Công nghệ sinh học
Thực vật, Viện di truyền Nông nghiệp, đường Phạm Văn Đồng, Hà Nội.
Quy trình sản xuất nấm ăn như sau:
Sử dụng nguyên liệu là rơm rạ. Sau khi gặt lúa đem phơi khô, để tránh mốc,
đánh đống bảo quản dùng dần. Khi thấy rơm rạ có màu đen, vụn nát là đã bị
mốc do phơi không được nắng, bị thấm nước mưa nhiều ngày không trồng
được nấm.
- Cách trồng nấm rơm trên rơm rạ:
a) Xử lý nguyên liệu.
Rơm rạ phơi khô, sạch không bị mốc. bị nhiễm các loại nấm khác trải ra tưới
ướt bằng nước vôi( 3,5 kg vôi pha với 1000 lít nước), sau đó đánh đống ủ, sau
2-3 ngày đảo lần thứ nhất, ủ tiếp trong khoảng 2-3 ngày nữa, đảo lần 2 là được.
Thời gian ủ kéo dài từ 4-6 ngày.
Dùng tay cầm nắm rơm rạ đã ủ lên nếu thấy nước chảy thành dòng là rơm rạ bị
ướt, cần trải rộng ra phơi rồi mới đem trồng nấm. Rơm rạ đủ ướt là rơm rạ khi
vắt vài cọng thấy nước chảy ra thành giọt là tốt nhất. Nếu không chảy thành
giọt là rơm quá khô cần tưới thêm nước.
Trong thời gian ủ cần bổ sung thêm nguồn đạm. Người ta thường sử dụng phân
vô cơ như Ure, N.P.K với liều lượng không quá 5%, vào nguyên liệu trước khi
xếp mô.
b) Xếp mô.
Giống Nguyên liệu và xử lý nguyên
liệu
Cấy giống
Chăm sóc và thu hái

ngoài thành mô. Đến ngày thứ 7-8 bắt đầu xuất hiện nấm con, 3-4 nấm đã bằng
quả táo ta, quả trứng và chỉ sau vài giờ nấm đã trở thành dạng dù. Nấm ra mật
độ dày, kích thước lớn, phải tưới 2-3 lần, mỗi lần chỉ 0,1 lít nước cho mỗi mô.
Nếu tưới quá nhiều nấm sẽ bị thối chân và chết.
d) Thu hái nấm.
Nấm rơm lớn nhanh, thường từ khi xuất hiện nụ đến thu hoạch khoảng 4- 5
ngày. Trên một mô nấm thời gian thu hoạch một đợt kéo dài 3-4 ngày, nấm ra
nhiều nhất vào ngày thứ 2- 3, còn ngày đầu ngày cuối số lượng không đáng kể.
Từ lúc trồng đến lúc thu hái hết lần một khoảng từ 15-17 ngày. Khi thu hết lần
một, khoảng 7-8 ngày sau nấm ra lần hai, và khoảng 3-4 ngày là kết thúc một
đợt nuôi trồng( thời gian một đợt khoảng khoảng 25-30 ngày). Sau đó, dọn vệ
sinh sạch sẽ, quét nước vôi, để 3-4 ngày sau có thể trồng thêm đợt nữa.
Nấm rơm được hái ở giai đoạn trứng là luc nấm có chất lượng cao nhất.
- Cách trồng nấm mỡ trên rơm rạ:
a) Chế biến nguyên liệu.
Quá trình xử lý nguyên liệu trồng nấm mỡ phải phối trộn thêm phụ gia để tạo
môi trường thích hợp cho nấm phát triển.
* Công thức 1:
7
Rơm rạ khô:1000 kg.
Đạm sunfat amon: 20 kg.
Đạm ure: 5 kg.
Bột nhẹ( CaCO
3
): 30 kg.
Supe lân: 30 kg.
* Công thức 2:
Rơm rạ khô: 1000kg.
Đạm Ure: 3 kg.
Phân gà: 150 kg.

đống ủ để ngoài trời phải làm mái che tránh nước thấm sâu vào trong đống ủ.
nền đất nơi đặt đống ủ phải có nơi thoát nước, nhiệt độ trong đống ủ 70
0
C đến
80
0
C vào ngày thứ tư đến ngày thứ 7 kết thúc quá trình ủ, độ ẩm đống ủ phải
đạt 65-70%, độ pH 7-7.5; rơm rạ có mùi thơm dễ chịu, không có mùi khai của
amoniac và rơm rạ có màu nâu sẫm là được.
c) Vào luống.
Có thể vò rối hoặc cuộc rơm rạ thành bó rạ, cao 18-20cm, bó vừa chặt tay, bề
mặt phẳng. trung bình 1 tấn rơm rạ khô sau khi ủ vào luống được 30-35m
2
.
Sau khi vào luống 7-8 ngày thì kiểm tra nhiệt độ trong luống, nếu đạt 28
0
C ,
không có mùi amoniac là tiến hành cấy giống.
d) Cấy giống.
Dùng que săt uốn cong để lấy giống trong chai ra. Kiểm tra thật kỹ xem giống
có bị nhiễm bệnh không( như giống có màu khác thường, màu xanh ), bẻ tơi
8
hạt giống rắc đều lên bề mặt luống, cứ một mét vuông rắc 300-350g giống. Lấy
tay hoặc cào giũ nhẹ cho các hạt giống cho nó lọt xuống 3cm-5cm. Lấp phẳng
bề mặt nguyên liệu như lúc đầu, lấy giấy báo hoặc giấy để thấm nước phủ kín
bề mặt luống. Hàng ngày tưới nước đủ ướt lớp giấy phủ. Khoảng 15 ngày sau
thì tiến hành phủ đất.
e) Đất phủ và phủ đất.
Đất phủ lên nấm mỡ là đất giàu chất hữu cơ và có dạng viên( có thể lấy từ đất
trồng lúa, hoặc đất trồng màu), độ pH=7, kích thước 0,3-1cm.

cụm tránh hái tỉa. Sau khi hái xong cần loại bỏ phần “rễ”già, nấm nhỏ bị chết,
bổ sung đất phủ vào nơi vừa hái. Một đợt trồng nấm cho đến khi thu hoạch kéo
dài khoảng 2,5-3 tháng.
- Cách trồng nấm sò trên rơm rạ:
a) Xử lý nguyên liệu.
Có hai phương pháp xử lý nguyên liệu để trồng nấm sò.
+ Thứ 1 : Nguyên liệu từ 300 kg khô trở lên, được ủ đống trong 6-7 ngày, để
nhiệt độ đống ủ đạt 60-70
0
C , thời gian kéo dài 6-7 ngày.
9
Rơm rạ trước khi đem ủ phải làm ướt bằng nước vôi theo tỷ lệ 3,5kg vôi tôi hòa
với 1000 lít nước, ủ trong 3 ngày, đảo đống ủ, sau đó ủ tiếp 3 ngày nữa, đảo lần
2 rồi ủ tiếp 2 ngày là được. trong khi đảo, điều chỉnh độ ẩm. phía ngoài đống ủ
nên dùng nylon, bao dứa vây quanh để nhiệt độ đống ủ lên cao ( chú ý không
che kín đỉnh đống ủ).
Rơm rạ đã ủ trong 8 ngày phải đảm bảo yêu cầu: độ ẩm 65% (vắt chặt nấm rơm
rạ thấy nước ướt vân tay), nếu nước chảy thành dòng là quá ẩm, nước không
dính vân tay là quá khô, nếu nước ướt có thể trải ra phơi, nếu khô bổ sung thêm
nước, ủ lại 1-2 ngày mới trồng.
Sau khi ủ rơm rạ phải có mùi thơm, màu vàng óng, mềm là được. Thời gian ủ
8 hoặc 9 ngày tùy thuộc tính chất rơm rạ: rơm rạ mềm chỉ cần ủ 8 ngày, rơm rạ
cứng ủ 9 ngày. Sau đó băm rơm rạ thành đoạn 15-20cm hoặc nhỏ hơn càng tốt.
+ Thứ 2: Khử trùng nguyên liệu trong hơi nước ở nhiệt độ 100-125
0
C kéo dài
trong 90-180 phút.
Nguyên liệu là rơm rạ đã chặt ngắn 10-15 cm, ngâm trong nước vôi 15-20 phút,
vớt ra để ráo nước 1-2 ngày.
Nguyên liệu sau khi kiểm tra đủ độ ẩm, phối trộn thêm 5-10% bột cám gạo

Sau khi cấy giống 25-30 ngày, dùng sao nhọn, sắc, rạch 4-5 đường xung
quanh, các đường rạch đều nhau, dài 3-4cm. gỡ bỏ nút bông, phơi sấy khô đưa
10
thanh trùng ở 121-125
0
C trong 90 phút để dùng lại đợt trồng sau. úp miệng túi
quay xuống và đặt túi cách nhau 15-20cm để khi nấm ra không chạm nhau.
d) Chăm sóc và thu hái.
Sau khi rạch bịch 4-6 ngày, nấm bắt đầu lên thì tưới nước. tùy theo lượng nấm
ra nhiều ít mà điều chỉnh lượng nước tưới, số lần tưới trong ngày. dùng bình
ôdoa hay bình phun sương tưới ít một nhưng kéo dài thời gian tưới sao cho bề
mặt mũ nấm lúc nào cũng có lớp nước đọng. trung bình ngày tưới nước 4-6 làn.
trong giai đoạn này độ ẩm rất quan trọng, thiếu nước “cây” nấm cằn cỗi. nhẹ
cân ăn rất dai. ngược lại, nếu tưới quá nhiều, nấm sẽ có màu vàng, thối rữa. sau
mỗi lần thu hái ngừng tưới từ 5 đến 7 ngày để nám tiếp tục ra đợt khác.
nấm sò mọc tập trung thành cụm trên thành bịch nên lúc hái phải hái cả cụm.
hái đúng độ tuổi sẽ đạt năng suất cao. hái trước lúc nấm có “làn khói trắng”
bay ra từ cây nấm ra là nấm quá già. nấm quá già ăn không ngon, dai. khi hái
không để sót các “cây” nhỏ lại, phải cấu sạch hết chân để nâm ra tiếp đợt sau.
Thời gian thu hái nấm một đợt trồng kéo dài 30-45 ngày kể từ khi hái lứa đầu
tiên.
3.2 Công suất.
Công suất thiết kế của cơ sở là: 15 tấn/ năm.
Trong đó:+ 60% là nấm sò.
+ 30% là nấm rơm.
+ 10% là nấm mỡ.
Những năm đầu tiên sau khi đầu tư( chưa ổn định) dự kiến sản xuất qua các
năm đạt công suất như sau:
+ Năm 1: 70% sản lượng = 10,5 tấn.
+ Năm 2: 90% sản lương = 13,5 tấn.

750 m
2
12 9.000
1.2 Thuê đất 30
tr
/360m
2
62.500
1.3 Rào kẻm gai, cột BTCT,kẻm gai
đan ô 20x 20
110
m
110m 110 12.100
1.4 Nhà văn phòng 4x10 40m
2
900 36.000
1.5 Nhà cấy 5x10 50m
2
900 45.000
1.6 Nhà vệ sinh 2x5 10m
2
100 1.000
1.6 Cổng 3x3 9m
2
900 8.100
2 Lán trại 650m
2
120 78.000
3 Công lắp đặt thiết bị 100
công

Vốn lưu động năm đầu tiên đi vào hoạt động sản xuất, sẽ được lấy từ nguồn
vốn tự có. Các năm tiếp theo nguồn vốn tự có sẽ được bổ sung từ dự án, khi dự
án đi vào hoạt động có lãi.
Tổng nguồn vốn lưu động cần sử dụng là: 78.921.680 đ.
4.2 Nguồn vốn đầu tư.
Vốn cố định: Vay dài hạn từ ngân hàng thương mại với lãi suất 26%( 2%/tháng
cộng 2% phí/năm.).
Vốn lưu động: Được huy động từ nguồn vốn tự có của bản thân chủ cơ sở.
4.3 Bảng cân đối kế toán tại thời điểm cơ sở đi vào hoạt động sản xuất.
Dự kiến tại thời điểm cơ sở đi vào sản xuất ta có bảng cân đối kế toán đợn giản
của cơ sở như sau:
Đơn vị: đồng
Tài sản Số tiền Nguồn vốn Số tiền
1 2 3 4
A. Tài sản lưu động và đầu
tư ngắn hạn
78.921.680 A. Nợ phải trả. 300.000.000
1. Tiền 78.921.680 1. Nợ ngắn hạn.
2. Các khoản đầu tư tài
chính ngắn hạn.
2. Nợ dài hạn. 300.000.000
3. Các khoản phải thu. 3. Nợ khác.
4. Hàng tồn kho.
5. Tài sản lưu động khác.
6. Chi sự nghiệp.
B. Tài sản cố định, đầu tư
dài hạn.
365.005.000 B. Nguồn vốn chủ
sở hữu.
143.926.680

+ Năm 2: 90% sản lương = 13,5 tấn.
+ Năm 3: 100% sản lượng = 15 tấn.
Dự kiến sau 3 năm sản xuất đạt 100% công suất.
-Hạch toán doanh thu:
Giá thành sản xuất sản phẩm dự kiến như sau:
+ Nấm sò: 20.000 đ/1kg.
+ Nấm rơm: 50.000 đ/1kg.
+ Nấm mỡ: 35.000 đ/1kg.
Doanh thu hàng năm như sau:
+ Năm 1: 320.250.000 đ.
+ Năm 2: 411.750.000 đ.
+ Từ năm thứ 3 trở đi: 475.500.000 đ.
- Hạch toán các khoản chi phí:
Phân bổ khấu hao tài sản cố định theo quy định số 206/2003/QĐ-BTC ngày
12/12/2003 của Bộ Tài Chính. Khấu hao tài sản theo khung như sau;
+ Khấu hao hệ thống hàng rào, lán trại trong 5 năm, mỗi năm dự trù khấu hao:
18.020.000 đ.
+ Khấu hao phần xây dựng trong 10 năm, mỗi năm dự trù khấu hao: 9.010.000
đ.
+ Khấu hao lò xấy nguyên liệu trong 10 năm, mỗi năm dự trù khấu hao:
2.000.000 đ.
+ Khấu hao thiết bị trong nhà cấy trong 10 năm, mỗi năm dự trù khấu hao:
1.800.000 đ.
+ Khấu hao hệ thống tưới nước trong 6 năm, mỗi năm dự trù khấu hao:
2.500.000 đ.
* Chú ý: Phương pháp tính khấu hao là phương pháp khấu hao đường thẳng.
Chi phí lương nhân công: 10 nhân công( 1.000.000 đ 1 người/tháng)-
120.000.000 đ.
Chi phí rơm rạ sử dụng làm nguyên liệu qua các năm:( đơn giá: 500 đ/1 kg.)
+ Năm 1: 29.925.000 đ.

dự án đi vào sản xuất kinh doanh thì năm thứ 2 đã hoàn trả vốn và có lãi. Vậy
đự án là hoàn toàn khả thị.
15
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Vay 300
Xây dựng cơ bản 255.7
Thiết bị 53
Dự phòng 10
Chi phí khác 46.305
Doanh thu 320.25 411.75 475.5 475.5 475.5 475.5 475.5 475.5 475.5 475.5
Chi phí 295.59 318.75 331.23 270.03 270.03 252.01 249.51 249.51 249.51 249.51
- Lương 120 120 120 120 120 120 120 120 120 120
- Mua rơm, rạ 29.925 38.475 42.75 42.75 42.75 42.75 42.75 42.75 42.75 42.75
- Mua giống 23.1525 29.7675 33.075 33.075 33.075 33.075 33.075 33.075 33.075 33.075
- Chi phí khác 11.97 15.39 17.1 17.1 17.1 17.1 17.1 17.1 17.1 17.1
- Chi phí quản lý, bán hàng 16.0125 20.5875 23.775 23.775 23.775 23.775 23.775 23.775 23.775 23.775
- Khấu hao 33.33 33.33 33.33 33.33 33.33 15.31 12.81 12.81 12.81 12.81
- Lãi vay 61.2 61.2 61.2
Lợi nhuận trước thuế 24.66 93 144.27 205.47 205.47 223.49 225.99 225.99 225.99 225.99
Thuế 6.9048 26.04 40.3956 57.5316 57.5316 62.5772 63.2772 63.2772 63.2772 63.2772
Lợi nhuận sau thuế 17.7552 66.96
103.874
4
147.938
4
147.938
4
160.912
8
162.712

- Tăng thêm khoản nộp thuế cho nhà nước.
- Tạo thêm hàng trăm công lao động, tăng thêm thu nhập cho xã hội mỗi
năm hàng chục triệu đồng.
PHẦN 2: CHIÊN LƯỢC KINH DOANH, KẾ HOẠCH KINH DOANH
CỦA DỰ ÁN.
1. Chiến lược kinh doanh.
1.1 Thực trạng của nghề trồng nấm ở nước ta.
Theo phân tích đã nói ở trên, trồng nấm không cần nhiều diện tích, vốn đầu tư
thấp, kỹ thuật không khó lắm nếu so với hoa lan, cây kiểng nhưng lại tạo ra
nhiều giá trị vượt trội so với cây trồng và vật nuôi khác, gấp 20 lần so với trồng
lúa và cả chục lần so với trồng rau…
Tuy nhiên, hàng chục năm nay nghề trồng nấm ở nước ta vẫn bình bình, nhìn
tổng thể thì không lên cũng không xuống được bao nhiêu. Tổng sản lượng nấm
của nước ta nhiều năm nay chỉ giao đông xung quanh con số 150 nghìn tấn.
Đồng bằng sông Cửu Long cung ứng phần lớn nấm rơm cho cả nước và 1 kg
nấm rơm tươi xuất khẩu cũng có giá tới 7 USD , nhưng ở đó nấm chỉ đứng sau
tôm cá.
Bên cạnh đó, thống kê của ngành nông nghiệp cũng cho thấy, tổng sản lượng
quy lúa của nước ta khoảng 40 triệu tấn mỗi năm và lượng phụ phẩm cũng
tương đương. Nếu kể thêm các phế phẩm khác như mạt cưa, xác cà phê, điều,
mía đường… thì ta sẽ có nguồn nguyên liệu gần như vô tận để chế biến nấm.
Trên thị trường quốc tế, việc xuất khẩu nấm ăn của chúng ta không được thuận
lợi do vướng phải những tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu.
1.2 Chiến lược kinh doanh của cơ sở.
Đánh giá chung về cơ sở có thể nhận thấy một điểu đơn giản như sau. Trước
tiên chúng tôi là một cơ sở nhỏ bé, các trang thiết bị còn chưa hiện đại, khó
lòng cạnh tranh với các công ty đang hoạt động lâu năm trong lĩnh vực sản xuất
nấm thương phẩm. Do vậy, chiến lược kinh doanh của chúng tôi là một chiến
lược của một công ty mới gia nhập thị trường gồm những đặc điểm sau:
- Nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần tiêu thụ nấm ăn trong miền Bắc, đặc

tạo về kỹ thuật trồng và chăm sóc nấm. Vì vậy, tổ chức lớp học cho công nhân
trước khi đưa họ vào sản xuất bằng cách: Hợp tác với trung tâm giống cây
trồng trong việc đào tạo công nhân. Địa điểm tổ chức là tại sơ sở sản xuât.
- Về mặt thị trường: Nhận thấy thị trường Hà Nội là một thị trường tiềm năng,
bởi số lượng tiêu thụ lớn. Cơ sở chú trọng đưa sản phẩm ra các nhà hàng, quán
ăn trong địa bàn thành phố và tiến tới ký hợp đồng cung cấp sản phẩm cho các
khách sạn. Củng cố vững chắc địa bàn Hà Nội từ đây ta tiến tới các địa bàn
khác, trong đó tập trung vào địa bàn tỉnh vì ở đây có chi phí vận chuyển là thấp
nhất.
- Về nguyên liệu: Ký hợp đồng với các hộ nông dân trong địa bàn xã về việc
cung cấp rơm rạ sau khi thu hoạch, và bán các phế phẩm của quá trình sản xuất
cho nông dân làm phân bón. Mục tiêu, tạo ra nguồn cung ổn định về nguyên
liệu.
- Về mặt công nghệ: Sau khi dự án hoàn vốn vay và có lãi sẽ từng bước đầu tư
vào trang thiết bị nhà xưởng, nhằm nâng cao năng suât nấm trên một tấn rơm
rạ. Đồng thời đầu tư vào thiết bị bảo quản nấm: thùng lạnh, máy ozon.
PHẦN 3: RỦI RO VÀ PHƯƠNG ÁN KHẮC PHỤC
Trồng nấm là việc đơn giản xong không phải là không có rủi ro trong khi sản
xuất.
Trước hết, rủi ro lớn nhất của việc trồng nấm là vấn đề dịch bệnh hại nấm, và
chuột bọ phá hoại. Để tránh rủi ro này cần phải tuân thủ các quy tắc vệ sinh
trong khi nuôi trồng và thu hoạch. Công tác vệ sinh cơ sở phải được đảm bảo
làm ngay sau mỗi đợt thu hoạch
19
Tiếp theo đó là thị trường, xu hướng trồng nấm đang rộ lên, nếu trong một vài
năm tới phong trào trồng nấm lại rộ lên, nguồn cung ra quá nhiều khiến thị
trường bị chia sẻ và do vậy ảnh hưởng tới doanh thu của cơ sơ. Để khắc phục
được ta cần phải xây dựng mạng lưới tiêu thu đáng tin cậy, đảm bảo quá trình
tiêu thu không bị gián đoan, ta có thể giảm chi phí để giảm giá thành, cạnh
tranh hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status