Lời mở đầu
Hy lạp là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại thời cổ
đại, là thời kì phát triển rực rỡ của xã hội loài ngời. Hy lạp cổ đại không chỉ là
một trung tâm kinh tế - xã hội mà còn là một trung tâm văn hoá. Thời kì cổ
đại ở đây đã tích trữ đợc một khối lợng tri thức khổng lồ trên nhiều lĩnh vực:
toán học, vật lý, thiên văn học, thuỷ văn đặc biệt không thể không nhắc tới
chính là triết học. Triết học thời kì này đợc đánh giá là rất phát triển, với
những cái tên hết sức nổi tiếng : Acsimet, Talet, Hêraclit, Đêmocrit, Platôn,
Arixtốt. chính các đại biểu này đã tạo lên một nền triết học phát triển rực rỡ
mà ngày nay chúng ta đã đợc thừa hởng. Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học
kĩ thuật đã và đang tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế - xã hội, và hẳn ai
cũng biết đó là nhờ các lĩnh vực khoa học cụ thể nh: hoá học, vật lý, sinh
học nhng triết học thì sao? chúng ta cần phải khẳng định rằng không nhiều
ngời trong chúng ta hiểu đợc vai trò của triết học đối với cuộc sống của con
ngời, Nhiều ngời vẫn cha hiểu triết học là gì. Vậy triết học là gì? vai trò của
nó nh thế nào đối với cuộc sống của chúng ta. đây chính là nhiệm vụ của
những sinh viên. chúng ta cần phải tìm hiểu triết học nói chung và trong số đó
là triết học hy lạp cổ đại.
1
Mục lục
Lời mở đầu 1
Mục lục 2
I. đặt vấn đề 3
II. giá tri và hạn chế của các nhà triết học duy vật hy lạp cổ đại 3
1. hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học hy lạp cổ đại 3
a. hoàn cảnh ra đời 3
b. đặc điểm 5
2. các nhà triết học duy vật hy lạp cổ đại 6
a. trờng phái Milê 6
b. Hêraclit 9
c. Thuyết nguyên tử 13
Thành bang aten, nằm ở vùng đồng bằng Attien thuộc trung bộ hy
lạp , có đụa lý thuận lợi nên trở thành một trung tâm kinh tế , văn hoá là thết
chế của chủ nô dân chủ Aten
Thành bang Spác nằm ở vùng bình nguyên Iaconi , đát đai thích hợp
đối với phát triển nông nghiệp là dinh luỹ của bọn chủ nô quí tộc cha truyền
3
con nối. để thc hiện cai trị theo truyền thống , Spác đã xây dựng 1 thiết chế
nhà nớc quân chủ , thc hiện sự áp bức rất tàn khốc đối với nô lệ.
Do s cạnh tranh quyền bá chủ toàn hy lạp , nên đã xảy ra cuộc chiến
tranh tàn khốc pôlôpône kéo đàu hàng chục năm , và cuối cùng dẫn tới sự
thất bại nặng lề của Aten . cuộc chiến tranh này đã làm đất nớc hy lạp suy
yếu cả về kinh tế và chinh trị quân sự .
Sau đó hy lạp bị nớc Maxedoan xâm chiếm.
Đến thế kỉ 2, hy lạp lại bị la mã xâm chiếm.
Quá trình lịch sử đó gắn liền với sự hình thành và phát triển kinh tế xã
hội và t tởng triết học :
triết học (philosophia theo tiếng hy lạp cổ là tình yeu sự thông thái )
đồng thời xuất hiện ở cả hy lạp , trung quốc , ấn độ cổ đại vào khoảng thế kỉ
6 trCN sự ra đời của triết học đánh dấu một bớc phát triển của t tởng nhân
loại , từ cảm nhận vũ trụ một cách trực quan đến thế giới quan dựa trên các
tri thức mang tính khái quát , trừu tợng hoá của t duy .
Triết học hy lạp cổ đại phát triển trên cơ sở kinh tế đó là quyền sở hữu
của chủ nô đói với t liệu sản xuất và ngời nô lệ . vào thế kỉ 9 -7 tr.CN nền
sản xuất chiếm hữu nô lệ ở hy lạp cực kì phát triển . đó là thời kì nhân loại
chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt . với việc xuất hiện quan hệ
tiền hàng đã làm cho thơng mại và trao đổi hàng hoá đợc tăng cờng . thời
kì này ngời hy lạp đã có thể đóng những thuyền lớn cho phép họ vợt biển địa
trung hải tìm đến những miền đất mới . nhờ đó lãnh thổ của hy lạp và thuộc
địa của nó đợc mở rộng , tạo điều kiện cho sự giao lu văn hoá giữa các dân
tộc.
Một số nhà ngiên cứu đã sai lầm khi nói rằng triết học có xuất phát từ
bản thân thần thoại bằng con đờng phát triển nội tại của nó , tức là sự thay
đổi hình thức của nó bởi sự thay thế các hình ảnh , hình tợng bằng cấu trúc
khái niệm và t duy lôgic . trên thực tế , mặc dù triết học hy lạp cổ đại ra đời
trên nền tảng thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ nhng khác với chúng , triết
học là một dạng thế giới quan hoàn toàn mới dựa trên cơ sở trí tuệ sâu sắc.
những kết luận và tri thức triết học mang tính lý luận khái quát cao đợc nảy
sinh, đã đẩy các dạng thế giới quan khác trớc chúng vàp lĩnh vực hoạt động
nghệ thuật hay sáng tác dân gian.
Sự nảy nở các trào lu t tởng triết học hy lạp cổ đại có liên hệ mật thiết
và chịu ảnh hởng của triết học phơng đông cổ đại . vào thời kì khoa học phát
sinh ở hy lạp , thì ở phơng đông đã tích luỹ đợc những tri thức đáng kể về
thiên văn học , hình học , đại số , y học các nhà bác học lớn của hy lạp
phần nhiều đã tới Aicâp Babilon đẻ nghiên cứu và học tập . những mầm
mống về quan niệm duy vật vô thần của những nhà triết học Aicâp và
Babilon cí ảnh hởng tích cực đên sự phát triển của triết học ở hy lạp cổ đại .
có thể nói triết học phơng đông , trớc hết là triết học Aicâp và Babilon là một
trong những tiền đề của triết học hy lạp cổ đại .
b) đặc điểm của triết học hy lạp cổ đại
S ra đời của triết học hy lạp cổ đại có những đặc điểm sau:
Thể hiện ở chỗ nó là thế giới quan, ý thức hệ của giai cấp chủ nô thống
trị trong xã hội. Nh vậy ngay t đầu triết học đã mang tinh giai cấp sâu
sắc . bất chấp mọi bất công trong xã hội thời đó , triết học hy lạp cổ đại
vẫn là một công cụ lý luận nhằm duy trì trật tự xã hội theo kiểu chiếm
hữu nô lệ , bảo vệ sự thống trị của giai cấp chủ nô . chẳng hạn Platôn
5
coi ngời nông dân và thợ thủ công là những hạng ngời thấp hèn trong
nhà nớc lý tởng của ông.
Triết hoc ở thời kì này bao trùm trên mọi lĩnh vực thế giới quan của con
ngời cổ đại.ra đời trong bối cảnh các tri thức khoa học còn quá ít và sơ
Milê là một thành phố thơng nghiệp khá phát triển thời bấy giờ. Là nơi sản
sinh ra những nhà triết học đầu tiên của hy lạp cổ đại cũng nh phơng tây :
6
Talet (624-547 tr.CN):
Các quan niệm:
Talet là một nhà triết học duy vật . thành tựu nổi bật của ông là quan
niệm triết học duy vật. Ông cho rằng là nớc là yếu tố đầu tiên , là bản nguyên
của mọi vật trong thế giới. Mọi vật đèu sinh ra từ nớc và khi phân huỷ lại trở
thành nớc. Theo Talet vật chất (nớc ) tồn tại vĩnh viễn , còn mọi vật do nó sinh
ra đều biến đổi không ngừng , sinh ra và chết đi . toàn bộ thế giới là một chỉnh
thể thống nhất mà nền tảng là nớc .
Giá trị:
Quan niệm triết học của ông giới thiệu thế giới tuy còn thô sơ mộc
mạc , nhng đã có ý nghĩa vô thần , chống lại thế giới quan tôn giáo đơng thời
và chứa đựng những yếu tố biện chứng tự phát .
Hạn chế:
ông đợc gọi là nhà triết học đầu tiên, toán học đàu tiên , thiên văn
học đàu tiên, . song nhà khoa học đầu tiên này cha thể thoát khỏi ảnh hởng
của quan niệm thần thoại và tôn gioá nguyên thuỷ , điều này thể hiện ở
chỗ ;ông cho rằng thế giớ đầy dãy những vị thần linh và khi không thể giải
thích đợc hiện tợng từ túnh của nam châm thì ông khẳng định rằng nó là linh
hồn .
Anaximăngđrơ (610-546 tr.CN):
Các quan niệm:
Ông là nhà triết học duy vật là bạn của Talet. Khác với Talet khi giải
quyết vấn đề bản thể luận triết học , ông cho rằng , cơ sở của sự hình thành
vạn vật trong vũ trụ là từ một dạng vật chất đơn nhất , vô định , vô hạn và tồn
tại một cách vĩnh viễn :đó là Apeiron. Các triết gia thời cổ đại đã có những
giải thích khác nhau về Apeiron :đó là vật mang tính vật chất; là hỗn hợp của
các yếu tố nh đất, nớc , lửa, không khí ; là cái trung gian giữa lửa và không khí
trời , mặt trăng và các vì tinh tú đều từ trái đát mà ra , do trái đất quay nhanh
mà bắn ra xa , điều này đến nay đã bị bác bỏ nhng ở thời ấy có giá trị lớn
trong việc đấu tranh chống lại những quan điểm duy tâm , tôn giáo về vũ trụ
về cuộc sống xã hội.Ông cũng có những tiên đoán : trái đất có hình cái trống ,
tự xoay quanh mình nó, ma đá là kết quả đóng thành băng của các tia nớc trên
cao , khi băng bị không khí làm tan ra thì thành tuyết .
Theo ông , không khí là nguồn gốc là bản chất của mọi cái là bản
nguyên của thế giới , vì nó giữ vai trò quan trọng trong đời sống của tự nhiên
và con ngời . ngay cả các vị thần cũng đợc sinh ra từ không khí . ông cho rằng,
hơi thở chính là không khí, ngời ta không thể sống nếu không thở , tâm hồn
con ngời rung động theo hơi thở mạnh, yếu. Không khí là cái vô định hình ,
mà bản thân Apeirôn cũng chỉ là một thuộc tính của không khí . không khí
sinh ra mọi vật bằng hai cách loãng ra và cô đặc lại :không khí loãng thành
lửa ; đặc thành gió , mây ; đặc nữa thành nớc ; đặc nữa thành đất ,đá .
8
Giá trị và hạn chế : cũng nh hai nhà triết học trên những quan niệm
của ômg vẫn mang nặng tính ngây thơ , chất phác; nhng nó phần nào cũng có
giá trị nhất định trong thời kì đó.
Tóm lại : trờng phái triết học Milê là trờng phái triết học duy vật. Họ
quan tam cố gắng tìm ra một bản nguyên vật chất đẻ giải thích thế giới nh một
chỉmh thể thống nhất của các dự vật muôn màu , muôn vẻ . mặc dầu còn mộc
mạc ngây thơ , song những quan niệm của họ đã đặt ra nèn móng cho sự phát
triển của các t tởng duy vật trong thời kì về sau.
b. Hêraclit : (520-460 tr. CN)
Hêraclit sinh ra ở thành phố Ephedơ - một trung tâm kinh tế , văn hoá
nổi tiếng của hy lạp cổ đại. xuất thân từ tầng lớp chủ nô quý tộc , đợc cha
truyền cho quyền cai trị theo cha truyền con nối. Nhng ông là ngời say mê
ngiên cứu khoa học nên đã nhờng quyền cai trị kế ngiệp cho em mình .
Các quan niệm :
Các quan niệm về bản thể luận :
Các t tởng của ông :
Một là, quan niệm về vấn đè vận động vĩnh viễn của vạt chất. Theo ông ,
khôngcó sự vật nào của thế giới là đứng yên tuyệt đối , mà trái lại , tất cả
đèu trong trạng thái vận động và chuyển hoá dẫn đến cái khác , và ngợc
lại. Ông nói nớc sinh ra từ cái chết của đát , không khí sinh ra từ cái chết
của nớc, lửa sinh ra từ cái chết của không khí và ngợc lại ; chúng ta
không thể tắm hai lần trên một dòng sông. ngay cả mặt trời cũng mõi
ngày một mới. Hêghen nhận xét Khi nói rằng mọi cái đang trôi đi,
Hêraclit coi sinh thành là phạm trù của mọi sự tồn tại.
Theo quan điểm của hêraclit, lửa chính là gốc của mọi sự thay đổi .
tất cả các dạng khác của vận đọng chỉ là trạng thái vậm động của lửa mà
thôi. nh vậy, hêraclit đã nêu khá rõ nét về tính thống nhất của vũ trụ : vũ
trụ là một ngọn lửa duy nhất.
Hai là , Hêraclit đã nêu nên t tởng về sự tồn tại phổ biến của các mặt đối
lập trong mọi sự vật , hiện tợng. điều đó thể hiện trong phỏng đoán của
ông về vai trò của các mặt đối lập trong sự vận động phổ biến của tự
nhiên , về sự trao đổi của các mặt đối lập ; về sự tồn tại và thống nhất
của các mặt đối lập.
ông cho rằng : cùng một cái trong chúng ta sống và chết , thức
và ngủ , trẻ và già . và rằng cái này mà biến đổi là cái kia , và ngợc lại cái
kia mà biến đổi là cái này cái lạnh nóng lên , cái nóng lạnh đi ; cái ớt
khô đi , cái khô ớt lại ; gắn bó với nhau : toàn bộ và không toàn bộ ,
hợp lại và phân cách , hoà hợp và không hoà hợp, và từ mọi sinh vật duy
nhất , từ duy nhất sinh ra mọi vật. cái thù địch thống nhất lại, từ những
điểm phân cách xuất hiện cái đẹp nhất , và mọi sinh vật sinh ra qua đấu
tranh. bệnh tật làm cho sức khoẻ quý hơn , cái ác làm cho cái thiện cao
cả hơn , cái đói làm cho cái no dễ chịu hơn , mệt mỏi làm cho nghỉ ngơi
dễ chịu hơn. một con khỉ dù đẹp đến đâu nhng vẫn là xấu nếu đem so
sánh với con ngời.
Qua các đoạn trích trên đây , ta có thể thấy Hêraclit đã phỏng đoán
của nhận thức (Lênin).vì vậy ta sẽ xem xét quan niệm của Hêraclit về cảm
giác.
Hêraclit cho rằng , nhận thức bắt đầu từ cảm giác , không có cảm giác
thì không có bất cứ nhận thức nào. ông nói mắt, tai là ngời thầy tốt nhất , nh-
ng mắt là nhân chứng nhính xác hơn tai. Coi trọng nhận thức cảm tính nhng
ông không tuyệt đối hoá giai đoạn này. ông viết thị giác thờng bị lừa bởi tự
nhiên thích giấu mình , nên không đẽ dàng nhận thức đợc. Nhiệm vụ của
nhạn thức là phải đạt tới cái Logos của sự vật , nghĩa là phải chỉ ra đợc cái
bảm chất, quy luật của sự vật. Hêraclit càn nêu nên tính tơng đối của nhận
thức , tuỳ theo họ và điều kiện mà thiện - ác, xấu tốt , lợi hại chuyển
hoá cho nhau.
11
Nhân bản học :
Hêraclit cho rằng , linh hồn là vật chất là một trạng thái của lửa. Quan
niệm này dới ánh sáng của khao học hiện đại , rõ ràng đã không còn đúng.
Nhng nó đã có giá trị nhất định vào thời đó.
Mặt khác, do trong con ngời không chỉ có lửa mà còn có cả những chỗ
ẩm ớt, vì vậy sẽ xuất hiện ngời tốt ngời xấu.
Linh hồn con ngời là sự thống nhất của lửa và ẩm ớt. ở ngời nào yếu tố
lửa càng nhiều bao nhiêu thì anh ta càng tốt bấy nhiêu, vì linh hồn anh ta khô
ráo. và chính yếu tố lửa trong tâm hồn con ngời là Logos của nó. Nhng phần
đông mọi ngời chủ yếu theo suy nghĩ vầ quan niệm riêng của mình mà cha
tuân theo Logos do vậy mà họ là nhẽng ngời tầm thờng. Hạnh phúc không
phải là sự hởng lác thuần tuý về thể xác mà là ở việc biết suy nghĩ , nói và
hành động tuân theo thế giới tự nhiên. ở đây nhà bác học đã có quan niẹm
đúng đắn và sâu sắc. lênin đã đánh giá cao những quan niệm đó của Hêraclit
cho rằng chúng đã thể hiện một trong những điểm cơ bản của phép biện
chứng.
Giá trị:
Hêraclit đã đa triết học duyvật cổ đại tiến len một bớc mới với những
ông tiếp thu quan điểm của Empecơlơ về đa khởi nguyên của vật chất ,
nhng ông cho rằng khởi nguyên của vật chất không phải là 4 căn nguyên mà là
vô số nguyên tử.
Lơxíp cho rằng , mọi sự vật đợc cấu thành từ những nguyên tử. đó là
những hạt vật chất tuyệt đối không thể phân chia đợc, nó vô hạn về số lợng và
vô hạn về hình thức : nó vô cùng bé , không thể thẩm thấu đợc , không có chất
lợng. Các nguyên tử chỉ khác nhau về kích thớc và hình thức, sở dĩ có những
sự vật khác nhau là vì có những hình thức sắp xếp khác nhau của các nguyên
tử.
Tán thành quan niệm về tồn tại của Pácmênít nheng khác với Pácmênít
ở chỗ, ông không phủ nhận cái không- tồn tại. theo ông , cái không -tồn tại
chính là khoảng chân không không gian rỗng nhờ có không gian rỗng
này mà mà các nguyên tử và các vật thể có thể vận động, kết hợp và phân tán.
ông hiểu sự vận động là sự thay đổi vị trí trong không gian.
Lơxíp đã đè cập đén tính nhân quả tất yếu trên quan điểm luận duy vật,
chống lại mục đích luận của chủ nghĩa duy tâm. ông khẳng định: không mọt
sự vật nào phát sinh một cách vô cớ mà tất cả đều phát sinh trên một căn cứ
nào đấy, và do tính tất nhiên.
13
Giá trị :
ông là ngời đầu tiên nêu len học thuyết nguyên tử , đã đua triết học hy
lạp cổ đại lên một tầm cao mới. Mà giá trị của học thuyết này vẫn còn đén
ngày nay.
Hạn chế :
Tuy học thuyết của ông là một tiên đoán tuyệt vời, nhng ông cũng
không thể tránh khỏi những hạn chế nh các nhà triết học thời trớc, do trình độ
khoa học thời này còn thấp, đó là triết học của ông mang nặng tính chất phác,
thô sơ.
Đêmôcrit (460-370 tr.CN):
Là học trò giỏi của Lơxíp. ông đã đén Aicập, Babilon, Ânđộ tìm hiểu và
của cái không tồn tại. theo nhận xét của Arixtôt thậm chí còn cho rằng cái
tồn tại có thực không hơn gì cái không tồn tại , bởi vì sự vật tồn tại không mảy
may hơn gì khoảng khônng và cả hai đều có nguyên nhân vật chất. Cái
không tồn tại chính là khoảng không trống rỗng, nó không chịu ảnh hởng
gì các sựvật (tức cái tồn tại) trong nó cả.
Giữa tồn tại và không tồn tại có những đặc tính khác nhau. Các nguyên
tử thì đậm đặc hoàn toàn, còn khoảng không lại hoàn toàn trống rỗng. Các
nguyên tử thì rất đa dạng trong khi khoảng không lại thuần nhất. Các nguyên
tử bao giờ cũng có kích thớc hình dạng nhất định (Đemôcrit cha đạt đến quan
niệm nguyên tử có khối lợng) nhng khoảng không lại vô tận và không có hình
dạng nào cả.
ông đã nêu ra lý thuyết về vũ trụ học. Lý thuyết này đợc xây dựng trên
cơ sở lý luận nguyên tử về cấu tạo của vật chất, thấm nhuần t tởng biện chứng
tự phát và có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử triết học. Theo ông, dẹ xuất hiện
cảu vô số những thế hình thành vũ trụ và tất cả những biến đổi xảy ra trong tự
nhiên đèu là sự kết hợp khác nhau (tật hợp , phân tán ) cuả những nguyên tử
vận động trong chân không và tuân theo tính tất nhiên của tự nhiên. trong
không gian vô tận của vũ trụ, những nguyên tử vận động, rung chuyển về mọi
phía, xô đi đảy lại lẫn nhau và làm thành những cơn lốc nguyên tử, đẩy các
nguyên tử nặng to vào tâm, các nguyên tử nhẹ và nhỏ hơn ra vùng ngoại biên,
nhờ đó các hành tinh và cả trái đất đợc hình thành. Sự kết hợp trong cơn lốc đó
nh làn sóng biển đánh vào bờ, làm cho những viên đá có hình thù cùng loại
(dài , tròn) dồn thành từng đám từng lớp trên bãi biển. Do các vận động đó các
nguyên tử có cùng một kích thớc , cùng một hình thức kết hợp với nhau tạo
thành : lửa, đát, nớc, không khí. Trong thế giới mọi sự vật đều luôn luôn quy
tụ về trung tâm do trọng lợng của chúng. Đemôcrit khẳng định : vũ trụ vô tận
và vĩnh viễn, có vô số thề giới vĩnh viễn phát sinh phát triển và bị tiêu diệt.
Quan niệm về sự vận động :
Quan điểm của Đemôcrit về vận động, gắn liền với vật chất là một
phoán đoán thiên tài có giá trị đặc biệ. Theo ông vận động của nguyên tử là
nguyen tử của lửa, và vận động với tốc độ lớn. Nguyên tử linh hồn sinh ra
nhiệt, nhiệt làm cho toàn bộ cơ thể hng phấn và vận động. Song ông lại coi
linh hồn khôn gphải là một hiện tợng tinh thần, ý thức mà là một hiện tợng vật
chất. ông bác bỏ quan niệm tôn giáo về linh hồn cho rằng linh hồn bất tử và
cho rằng linh hồn có thể chết cùng với cái chết của con ngời.
Nhận thức luận :
Đêmôcrit cho rằng trên thực tế chỉ tồn tạ các sinh vật khác quan do
nguyên tử tạo ra, còn tất cả những ccái nh mùi vị, màu sắc, âm thanh chỉ tồn
tại trong cảm nhận của con ngời, là kết quả tác động của các nguyên tử lên
các giác quan của chúng ta.
Khác với các nhà triết học trớc đây phủ nhận vai trò của nhận thức cảm
tính, tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức lý tính, ông chia nhận thức của con
ngời thành hai dạng : nhận thức mờ tối là dạng nhận thức cảm tính, do các
16
giác quan đem lại ; và dạng nhận thức chân lý thông qua những phoán đoán
lôgic, đó là dạng nhận thức đợc bản chất của sự vật.
Hai dạng nhận thức trên có liên hệ chặt chẽ với nhau và đều có vai trò
quan trọng, nhng dạng nhận thức chân lý đáng tin cậy hơn. đêmôcrit gọi dạng
nhận thức mờ tối là nhận thức theo d luận chung; vì theo ông những cảm
giác nh mùi vị, màu sắc, âm thanh là những cảm giác phổ biến mà mọi ngời
đều cảm nhận đợc một cách dễ dàng khi nhận thức. đó là nhận thức chân thực
nhng còn mờ tối vì cha nhận thức đợc cái bên trong, cái sâu kín cảu sự vật. chỉ
có dạng nhận thức chân lý mới có khả năng nhậm thức đợc bản chất của sự
vật. Vì thế , con ngời không thể dừng lại ở nhận thức mờ tôi mà phải đi sâu
hơn đẻ nhận thức đợc cái bản chất sự vật, đó là chức năng của nhận thức chân
lý.
Trong lý luận nhận thức của mình, Đêmôcrit đã nêu ra khái niệm hình
tợng hay còn gọi là Iđôlơ. mác đã giải thích Iđôlơ của Đêmôcrit là cái vỏ
hình thức của vật thể bị tách khỏi vật thể, nhng hình thức đó bắt nguồn từ
chính vật thể rồi xâm nhập vào cảm giác và đợc ớc lệ thành hình tợng khác
quan điểm của ông là đúng. Ngoài ra quan điểm về nguồn gốc vũ trụ cũng có
một số giá trị nhất định. Tuy dới ánh sáng của khoa học, thì quan niệm của
Đêmôcrit là sai lầm; nhng nó đã góp phần chống lại thế giới quan tôn giáo,
duy tâm đang thống trị thời đó.
Quan điểm về vận động của ông cũng là một phoán đoán có giá trị đặc
biệt. Theo đó ông đã đi tìm nguồn gốc của sự vật động ở trong chính thế giới
vật chất. đây là một quan điểm đúng đắn mà sau này các nhà triết học Macxit
đã công nhận.
Quan điểm quyết định luận cũng là một quan điểm của ông có giá trị đã
đóng góp cho nền triết học hy lạp cổ đại. quan điểm này đã chống lại quan
điểm mục đích luận, thế giới quan duy tâm và tôn giáo.
Về quan điểm nguồn gốc của con ngời cũng có giá trị nhất định. Nó
cũng chống lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo.
Ông đã đa lý luận nhận thức duy vật lên một bớc mới. Khác với các nhà
triết học trớc, Đêmôcrit không phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính, tuyết
đối hoá vai trò của lý tính. đây cũng là một quan điểm đúng đắn mà sau này
các nhà triết học Macxit cũng công nhận.
Ngoài ra, các quan niệm của ông còn có vai trò quan trọng trong chủ
nghĩa vô thần, đó là những quan điểm về nguồn gốc, phủ nhận sự tồn tại của
thần linh.
Hạn chế :
Tuy có nhiều thành tựu rực rỡ, nhng triêt học của Đêmôcrit vẫn có
nhiều hạn chế không thể tránh khỏi:
Triết học của Đêmôcrit vẫn thể hiện tính chất thô sơ chất phác, thể hiện
t duy trực quan, cảm tính, thể hiện trong các quan niệm về nguyên tử, linh hồn
con ngời, về nguồn gốc của vũ trụ, về nguồn gốc bản chất của con ngời, thần
thánh,
Trong quan niệm về sự vận động của vật chất, tuy đã có những giá trị
đạt đợc nhng ông cha thể giải thích đợc nguồn gốc của sự vận động.
Khi nói về cai tất yếu và cái ngẫu nhiên, ông đã phủ nhận cái ngẫu
thế giới thì cần có triết học thứ nhất tức siêu hình học. Theo cách hiểu của
Arixtot, siêu hình học là một khoa học ít nhiều mang tính thần thánh vì đối t-
ợng nghiên cứu của nó là những cái thần thánh , trong đó có cả thợng đế.
Nhng thợng đế là một trong những đối tợng nghiên cứu của triết học thứ nhất,
khoa học nghiên cứu các khởi nguyên của tồn tại nói chung. Nếu các khoa học
khác nghiên cứu ccs sự vật của giới tự nhiên, dạng cụ thể đang vận động và
biến đổi không ngừng; thì triét học thứ nhất nghiên cứu những gì có tính vĩnh
hằng trong thế giới hiện thực, vì thế nó là nền tảng của mọi lĩnh vực thế giới
quan khác của con ngời.
Các quan điểm phê phán Platôn:
19
Thứ nhất, ông phản đối quan điẻm của Platôn coi các ý niệm nh một
dạng tồn tại độc lập, tối cao, còn mọi sinh vật cảm tính của thế giới chúng ta
đều tồn tại ở cấp độ thấp hơn.
Thứ hai, Aixtốt phê phán Platôn tách dời thế giới ý niệm với thế giới
hiện thực. ông cho rằng nh vậy tức các phạm trù khái niệm thành cái vô dụng
đối với sự nhận htức các sự vật. Vì thế, để có ý nghĩa, theo Arixtốt thì thế giứo
ý niệm phải thuộc thế giới các sự vật.
Thứ ba, học thuyết của Platôn có nhiều mâu thuẫn. Một mặt, Platôn
phân biệt các ý niệm, và cho rằng các ý niệm chung nhất là thực thể, bản chất
của những thực thể mang tính đặc thù hơn. nh vạy, các ý niệm vừa là thực thể,
vừa không phải là thực thể. Mặt khác, Platôn còn thừa nhận ý niệm hoàn toàn
tách biệt với các sự vật cảm biết; đồng thời lại vừa khẳng định các sự vật là cái
bóng của ý niệm, là bản sao của ý niệm tức là thừa nhận sự vật và khái niệm
có điểm tơng đồng nhất định. Từ các khẳng định trên buộc Platôn phải thừa
nhận một thế giới thứ 3 giống hai thế giới kia và đứng trên chúng.
Thứ t, các ý niệm của Platôn không thể là công cụ nhận thức thế giới vì
chúng tách dời quá trình vận động, phát triển không ngừng của thế giới các sự
vật.
Học thuyết về sự tồn tại:
quá trình vận động kết quả của sự vật là theo ý muốn của con ngời ; còn
Arixtốt hiểu mục đích theo nghĩa khác quan hơn. dới con mắt của ông, mọi
vật đều phát triển theo trình tự, quy luật và xu hớng của chúng, tức là có mục
đích nhất định theo sự sắp đặt trớc của thợng đế.
Những ý tởng thần học và mục đích luận của Arixtôt gần gũi với quan
điểm của Platôn và đợc chủ nghĩa kinh viẹn trung cổ sử dụng. tuy nhien quan
điểm duy tâm của Arixtốt khác với học thuyết duy tam của Platôn : platôn xây
dựng một hệ thống chủ nghĩa duy tâm còn Arixtốt đề ra quan điểm duy tâm tự
mâu thuẫn với xu hớng duy vật trong triết học tự nhiên của mình.
Xu hớng duy vật trong triết học tự nhiên của ông thể hiện ở chỗ, ông
thừa nhận tự nhiên là toàn bộ những sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi
vận động và biến đổi, không có bản chất của vật chất của sự vật nào nằm
ngoài sự vật, hơn nữa sự vật nào cũng là một hệ thống có quan hệ với sự vật
khác. ông cho rằng, vạn động gắn liền với các vật thể, mọi sự vật hiện tợng
của thế giới tự nhiên. ông cũng khẳng định vận động là không bị tiêu diệt, đã
có vận dộng và mãi sẽ có vận động. Trong lập luận này, ông đã tiến gần với
quan điểm vận động là tự thân của vật chất. Nhng cuói cùng ông lại rơi vào
duy tâm. vì cho rằng, thần thánh là nguồn gốc của mọi vận động.
Trớc đây, Hêraclit, Đêmôcrit còn cha phân biệt đợc các hình thức vận
động, đến Arixtốt là ngời đầu tiên đã hệ thống hoá các hình thức vận động
thành 6 dạng:
Phát sinh
Tiêu diệt
Thay đổi trạng thái
Tăng
Giảm
Di chuyển vị trí
21
Lý thuyết vận động của Arixtốt là một thành quả có giá trị của khoa học cổ hy
lạp.
Thành tựu nổi bật của Arixtot trong lý luận nhạn thức ở chỗ, ông coi
nhận thức là một quá trình:từ cảm tính đến lý tính, cũng là qua trình đi từ cảm
giác đơn lẻ, ngẫu nhiên đến t duy trừu tợng; từ khái niệm đến phạm trù quy
luật.
ông cũng nêu ra mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính và
nhận thức lý tính. ông cho rằng, đối tợng của nhận thức là hiện thực khác
22
quan, cơ sở của nhận thức là cảm giác. cảm giác là sản phẩm của sự tác dộng
của sự vật khác quan vào các giác quan của con ngời. Tuy nhiên, cảm giác
không đem lại tri thức về tính tất yếu, do đó nhận thức của con ngời không thể
tiến xa đợc. Vì vậy, nhận thức phải đi từ cảm giác dến khái niệm thông qua
quá trình trừu tợng hoá, khái quát hoá để nhận thức cái chung và nhờ đó mới
có thể có đợc những tri thức khoa học. Nếu ngòi ta chỉ nhìn (bằng thị giác)
vào một hình tam giác thì không thể tìm ra định lý về tổng các góc trong một
tam giác bằng hai góc vuông; không thể tìm thấy bản chất của hiện tợng
nguyệt thực, nhật thực đợc. Lý tính giữ vai trò nhận thức khái quát trừu tợng.
Nhng nhận thức luận của ông lại mắc phải sai lầm: ông đã thần thánh
hoá nhận thức lý tính, coi đó là chức năng cảu linh hồn, của thợng đế. đây là
một quan điểm có tính chất duy tâm của Arixtot.
Vật lý học :
Vật lý học đợc coi là triết học thứ hai, đợc xây dựng trên nền tảng của
triết học thứ nhất. Mọi sự vật trong thế giới chúng ta, theo Arixtốt, đều vận
động và phát triển không ngừng. Vì thế, nghiên cứu vận động là điều cần thiết
để hiểu thế giới tự nhiên. chính sự thiếu hiểu biết về vận động kéo theo sự
không hiểu biết về giới tự nhiên. coi vận động là sự biến đổi nói chung
Arixtot thờng nhấn mạnh rằng không thể có vận động ngoài sự vật.
Coi tự nhiên là sự thống nhất giữa hình dạng và vạtt chất, nhng do sự
thiếu triệt để trong quan niệm của mình dẫn đến việc ông cho rằng hình dạng
của hình dạng nh là động cơ đầu tiên. động cơ đầu tiên nằm ngoài thế giới và
đống vai trò tựa nh cú hích đầu tiên làm cho mọi vật vận động. ví toàn bộ vũ
Tuy còn nhiều quan điểm du ytâm trong học thuyết này nhng nhìn chung nó
đã có những giá trị nhất định.
Giá trị của triết học của ông còn thể hiện ở quan điểm biện chứng thừa
nhận là toàn bộ sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vận động và biến đổi
thông qua vận động mà thế giới tự nhiên đợc biểu hiện ra. Vận động không
tách rời tự nhiên. ở quan điểm này, ông đã tiến gần với quan niệm vận động là
tự thân của vật chất, quan điểm mà sau này các nhà triết học Macxit đã chứng
minh là đúng. Ngoài ra ông có những quan điểm biện chứng thể hiện về sự
giải thích về cái riêng và cái chung. Khi phê phán Platôn tách rời ý
niệm nh là cái chung khỏi các sự vật cảm biết nh là cái riêng, Arixtot đã cố
gắng khảo sát cái chung trong sự thống nhất không tách rời cái riêng. theo
ông, nhận thức cái chung trong cái đơn lẻ là thực chất của nhận thức cảm tính.
Lý luận nhận thức của ông cũng là một thành tựu đóng góp cho nền
triết học nhân loại. trong lý luạn nhận thức của ông chứa đựng những yếu tố
duy vật đó là cảm giác luận và kinh nghiệm luận, đây là những quan điểm có
giá trị.
Ngoài ra nhiều quan điểm khác của ông cũng đã đóng góp vào nền tri
thức nhân loại những giá trị nhất định: học thuyết về linh hồn, vật lý học và vũ
trụ học
Hạn chế:
Giống nh các nhà triết học trớc đây hạn chế của ông vẫn là sự ngây thơ,
chất phác trong quan niệm và sự t duy trực quan cảm tính.
Hạn chế của ông còn thể hiện trong học thuyết về sự tồn tại: ông cho
rằng, giới tự nhiên vừa là vật chất đầu tiên, là cơ sở của mọi sinh tồn, vừa là
hình dáng (cái đợc đa từ bên ngoài vật chất) nhận thức của con ngời là thu
24
nhận hình dáng chứ không phải chính sự vật. Ngoài ra ông còn thừa nhận
hình dáng của mọi hình dáng là thần thánh , xuất phát từ thần thánh.
Hạn chế của ông còn đợc thể hiện ở chỗ khi quan niệm về sự vận động
của vật chất, ông cho rằng thần thánh là nguồn gốc của mọi vận động.