TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH CỐ PHIẾU SACOMBANK - STB
Tác Giả : Huỳnh Minh Hòa
Tp HCM, Ngày 30 Tháng 10 Năm 2009
Hội Sở : 278 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, TP. HCM
Điện thoại: 84-(8) 3932 04 20 Fax 84-(8) 3932 04 24
Email: [email protected]
Website: http://www.sacombank.com.vn
I . Tổng Quan :
Lịch sử hình thành :
• Sacombank chính thức đi vào hoạt động từ ngày 21/12/1991, trên cơ sở
chuyển thể Ngân hàng Phát triển kinh tế Gò vấp và sát nhập 3 Hợp tác xã
tín dụng Tân Bình - Thành Công - Lữ Gia với số vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ
đồng.
• Sau nhiều năm hoạt động, Sacombank vươn lên một trong những ngân
hàng TMCP hàng đầu tại Việt Nam, với mạng lưới hoạt động hơn 274 Chi
nhánh và Phòng giao dịch tại 45/63 tỉnh thành trong cả nước, 01 văn phòng
đại diện tại Trung Quốc, 01 Chi nhánh tại Lào và 01 Chi nhánh tại
Campuchia. 10.978 đại lý thuộc 306 ngân hàng tại 81 quốc gia và vùng
lãnh thổ trên thế giới. Gần 7.000 cán bộ nhân viên trẻ, năng động và sáng
tạo.
• Sacombank đang hướng tới mô hình tập đoàn với nhiều công ty con:
+ Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín
• Hùn vốn và liên doanh theo pháp luật
• Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng
• Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, thanh toán quốc tế
• Hoạt động thanh toán
• Huy động vốn từ nước ngoài và các dịch vụ khác.
Cơ cấu vốn :
• Nhóm ngành: Tài chính - Ngân hàng
• Vốn điều lệ ban đầu : 3 tỷ đồng
• Vốn điều lệ hiện nay: 5,115,830,840,000 đồng
• KL CP đang niêm yết: 511,583,084 cp
• KL CP đang lưu hành: 665,058,009 cp
Cơ cấu sơ hữu :
• Tổng số cổ đông: 70.031
International Finance Corporation: 5,25%
Dragon Financial Holdings: 8,73%
Ngân hàng ANZ: 10,00%
CƠ CẤU CỔ
ĐÔNG
VỐN SỞ HỮU (VND) TỶ LỆ %/VĐL
SỐ LƯỢNG CỔ
ĐÔNG
Pháp nhân
Trong nước: 727.288.320.000 14,22 337
Nước ngoài: 1.533.703.660.000 29,98 31
Thể nhân
Trong nước: 2.850.762.150.000 55,72 69,514
Nước ngoài: 4.076.710.000 0,08 149
Tổng 5.115.830.840.000 100,00 70.031
(Đvt : 1000,000 đ )
Chỉ Tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
TÀI SẢN
I. Tiền mặt, chứng từ có giá
trị, ngoại tệ, kim loại quý, đá
quý
1.370.108 2.827.452 3.335.063 8.458.614
II. Tiền gửi tại NHNN 408.685 993.590 3.878.785 3.224.539
III. Tín phiếu kho bạc và các
giấy tờ có giá ngắn hạn đủ tiêu
chuẩn khác
162.307 145.718
IV. Tiền, vàng gửi tại các
TCTD khác và cho vay các
TCTD khác
1.284.904 1.873.811 4.656.456 7.047.583
V. Chứng khoán kinh doanh 96.602 263.631 4.142.069 370.105
VI. Các công cụ tài chính phái
sinh và các tài sản tài chính
khác
4.911 6.928
VII. Cho vay khách hàng 8.379.335 14.312.895 35.200.574 34.757.119
VIII. Chứng khoán đầu tư 1.514.919 2.065.024 9.173.801 8.969.574
IX. Góp vốn đầu tư dài hạn 316.988 780.577 1.495.608 1.254.261
X. Tài sản cố định 621.522 958.805 1.019.813 1.696.288
XI. Tài sản có khác 298.968 554.680 1.665.795 2.653.558
TỔNG CỘNG TÀI SẢN 14.454.338 24.776.183 64.572.875 68.438.569
NGUỒN VỐN
I. Các khoản nợ chính phủ và
NHNN
- Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) : 10% -12%
- Tỷ lệ đầu tư tài sản cố định : < 50%
- Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần tối đa : < 40%
- Tỷ lệ cho vay/Tổng huy động : 60% - 70%
- Tỷ lệ sinh lời/Tổng tài sản bình quân : 1,5% - 2%
- Tỷ lệ sinh lời/Vốn điều lệ bình quân : 20% - 23%
- Tỷ lệ nợ quá hạn : <2,5%
Kết quả kinh doanh 3 quý đầu năm 2009 : (Đvt : 1000 đ )
Chỉ tiêu Quý 1-2009 Quý 2-2009 Quý 3-2009 Kế hoạch năm
2009
Tổng doanh thu 1,860,919,000 2,007,401,000 2,274,685,000
Tổng Chi phí 1,468,909,000 1,525,322,000 1,751,545,000
Tổng lợi nhuận
trước thuế
392,010,000 620,394,000 523,140,000 1,600,000,000
Lợi nhuận sau thuế 297,397,000 482,079,000 409,061,000 1,200,000,000
Nhận xét :
Kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất quý III năm 2009 của Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Thương Tín – Sacombank tổng doanh thu là 2,274.685 tỷ đồng
tăng 6,3% so với quý II năm 2009.
Lợi nhuận trước thuế quý III đạt 523.140 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế là
409.061 tỷ đồng, so với quý II năm 2009 cả hai mức lợi nhuận này đều giảm lần
lượt là 15,6% và 15%.
Lũy kế 9 tháng đầu năm tổng doanh thu của ngân hàng này đạt 6,264.474 tỷ
đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 1,535.544 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt
1,188.537 tỷ đồng.
Như vậy, so với kế hoạch được đề ra tại ĐHCĐ hồi đầu năm thì lợi nhuận trước
thuế 9 tháng của STB đã hoàn thành 96% kế hoạch năm 2009 (1.600 tỷ đồng).
Tính đến hết tháng 9, tổng tài sản của Sacombank đạt 98,242.5596 tỷ đồng,
tăng 43,5% so với cuối năm 2008 (68,438.5 tỷ đồng).
Chỉ Tiêu
Nội Dung Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 TTM
Chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Tỷ suất sinh lời
trên tổng tài
sản- ROA
LN ròng / Tổng
TSBQ
1,9% 2,2% 1,4% 1,7%
Tỷ suất sinh lời
trên vốn chủ sở
hữu- ROE
LN ròng / Vốn
chủ sở hữu BQ
16,4% 27,4% 12,6% 16,0%
LNST / Tổng
Thu Nhập
42,2% 57,3% 38,9% 17,3%
Tỷ lệ thu nhập
từ lãi
3,6% 4,1% 3,8%
Chỉ tiêu trên cổ phiếu
Thu nhập trên
mỗi cổ phần
thường- EPS
(LN ròng –
CTUD) / CP
lưu hành BQ
2,634.4 4,195.6 1,996.4 2,406.7
73,3% 160,9% 6,7% 45,6%
Tốc độ tăng
trưởng tài sản
71,4% 160,6% 6% 45,6%
Khả năng an toàn vốn
Tổng huy động
(triệu đồng)
20,963,352 54,688,478 58,328,398
VCSH/ tổng
huy động
13,7% 13,4% 13,3%
Tỷ số đòn bẩy
tài chính
Tổng vốn/ vốn
cổ phần thường
8,6 8,8 8,8
Chất lượng tài sản
Tỷ lệ tài sản có
sinh lời
80,9% 80,0% 70,2%
Tổng cho vay/
tổng huy động
68,3% 64,4% 59,6%
Hệ số rủi ro tín
dụng
57,8% 54,5% 50,8%
Tỷ lệ nợ xấu/
tổng dư nợ
0,6% 0,5% 0,99% 1,2%
Năng lực quản trị
• Trong 9 tháng đầu năm 2009 lãi suất cho vay bị khống chế ở mức 10,5%
(150% của lãi suất cơ bản) và khả năng tăng lãi suất trong năm 2009 là rất
nhỏ. Hoạt động cho vay tiêu dùng, vốn được áp dụng lãi suất thỏa thuận
(vượt 10,5%) lại đang bị NHNN kiểm soát chặt do có dấu hiệu nhiều
khoản cho vay tiêu dùng thời gian đầu năm đã sử dụng sai mục đích để đầu
từ vào các lĩnh vực nhiều rủi ro như chứng khoán và bất động sản. Mặc dù
các NHTM bằng nhiều cách vẫn có thể thu thêm các khoản phí để tận thu
nhưng các khoản phí này không thể cao do quyết định cấm các khoản phí
liên quan đến cho vay của NHNN vẫn còn hiệu lực.
Lãi suất cho vay bị khống chế trong khi lãi suất huy động tăng cao là nguyên
nhân làm cho lợi nhuận lãi biên của ngân hàng giảm sút. Cộng hưởng với đà tăng
trưởng tín dụng chậm lại trong quý 4, nguồn thu từ lãi của các ngân hàng sẽ bị
ảnh hưởng.
Nguồn thu từ hoàn nhập dự phòng và kinh doanh vàng sẽ không còn cao như
hồi đầu năm do đà tăng của TTCK đã chậm lại và giá vàng không còn biến động
mạnh như trước:
• TTCK trong quý 3 đã tăng 35%, thấp hơn quý 2 (48%), chưa kể mức tăng
từ đáy lên đỉnh của quý 2 là 117% trong khi quý 3 này chỉ là 41%, nên các
khoản hoàn nhập dự phòng trong quý 3 sẽ giảm đáng kể và sẽ còn thấp hơn
trong quý 4.
• Nguồn thu từ vàng dự báo sẽ giảm trong quý 3 do thị trường vàng trầm
lắng trong hầu hết quý 3. Giá vàng chỉ có một đợt tăng trong đầu tháng 9
rồi sau đó giữ ổn định cho đến cuối tháng. Những ngày đầu tháng 10, giá
vàng mới tăng mạnh lên hơn 1.050 USD/ounce. Với diễn biến giá vàng như
vậy thì nguồn thu từ kinh doanh vàng trong quý 3 có thể sẽ không cao hơn
quý 2.
Chi phí vào cuối năm sẽ tăng cao do vào cuối năm các NH sẽ phải trích lập dự
phòng rủi ro tín dụng đầy đủ hơn thời gian đầu năm. Trong bối cảnh kinh tế vẫn
còn khó khăn, tỷ lệ nợ xấu chắc chắn sẽ tăng và làm tăng chi phí dự phòng rủi ro
tín dụng của các ngân hàng. Ngoài ra chi phí tiền lương, khoản chi phí hoạt động
ngành tài chính sẽ tiếp tục hoàn nhập các khoản dự phòng đầu tư tài chính trong
những năm trước và đồng thời đây cũng là điều kiện để các doanh nghiệp này
tăng vốn từ các khoản thặng dư có từ 2-3 năm trước đó.
Mặt khác với sự sôi động trở lại của nền kinh tế, các ngân hàng có thể gia tăng
lợi nhuận từ các nghiệp vụ ngoài tín dụng (kinh doanh ngoại hối, sàn vàng, bảo
lãnh ) và hoạt động đầu tư chứng khoán thông qua các công ty con hoặc chính
danh mục đầu tư của mình.
Như vậy, cổ phiếu nhóm tài chính được nhận định sẽ hưởng lợi khi kinh tế đang
phục hồi mạnh và rõ nét, nhất là sau khi nhóm này đã có sự tích lũy trong thời
gian qua
Dự báo cuối năm và khuyến nghị: Ngành ngân hàng vẫn được dự báo là một
ngành có tiềm năng tăng trưởng trong tương lai. Theo dự báo lợi nhuận của STB
cuối năm khoảng 1.218 tỷ đồng tương đương với EPS khoảng 1.819 đồng/cổ
phiếu. Với mức giá hiện tại của STB là 32.100 đồng thì STB đang giao dịch ở
mức PE là 18 thấp hơn so với PE trung bình của thị trường hiện nay (20 lần). Với
kỳ vọng về sự tăng trưởng của thị trường và ngành ngân hàng trong tương lai, nhà
đầu tư có thể xem xét mua vào STB ở mức giá hiện tại. Xin lưu ý thêm là lợi
nhuận ước tính ở trên chưa bao gốm lợi nhuận STB có thể thu được từ việc IPO
công ty chứng khoán Sacombank. Chứng khoán SBS sẽ bán 24,6 triệu cổ trong
đợt IPO ngày 28/11/09 tới. Nếu giả định giá thành công và giá bán cho đối tác
chiến lược là 3 chấm (tức là gấp 2 lần giá khởi điểm phát hành cho công chúng)
thì STB sẽ có khoản lợi nhuận khoảng 492 tỷ. Đây có lẽ là khoản lợi nhuận sẽ tạo
ra đột biến cho STB trong quý 4 năm 2009 này.
Với chỉ số định giá ở mức hợp lý và là một trong những ngân hàng lớn của
ngành ngân hàng, khuyến nghị MUA ở mức giá hiện tại cho mục tiêu đầu tư trung
và dài hạn.
Kết Luận
Từ nay đến cuối STB hoàn toàn có đủ khả năng hoàn thành kế hoạch lợi nhuận
và tăng trưởng so với năm 2008.
Giá cổ phiếu của ngân hàng đã tích lũy trong một thời gian khá dài, Cuối 2009