Một vài vấn đề về quản lý con người
Hơn 8000 năm trước, khi con người sống thành xã hội thì người ta đã ý thức được vị trí
rất quan trọng của con người trong tổ chức.
Đến các nhà tư tưởng thời cổ đại, ví dụ như trong lý thuyết thiên, địa nhân đã khẳng định, trời
đất biến đổi khôn lường nhưng cũng không phức tạp bằng sự biến đổi trong tâm lý người.
Được lòng người là được tất cả, thu phục được lòng người sẽ chiến thắng. (Thiên thời không
bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hoà.)
Cho đến khi môn Khoa học quản lý ra đời và trở thành một môn khoa học độc lập, người ta
thấy rằng cũng có rất nhiều yếu tố tham gia vào hệ thống quản lý như vật chất, kinh tế, văn hoá,
thông tin… nhưng yếu tố con người vẫn là một yếu tố quan trọng nhất của ngành khoa học này.
Ngày nay, trong nền kinh tế tri thức, khi mà trong giá trị sản phẩm hơn 80% là hàm lượng chất
xám, tài sản trí tuệ điều hành tài sản của các công ty thì yếu tố con người càng được đặt vào
một vị trí quan trọng. Hãy tưởng tượng, trong hầu hết các ngành nghề, người ta dễ dàng đặt
mùa các loại máy móc thiết bị như mua tận gốc của một công ty lớn. Chất lượng của các trang
thiết bị cũng hoàn toàn giống nhau kể cả tính năng cũng như công dụng của chúng. Giả sử một
công ty vừa mất tất cả các máy móc thiết bị nhưng kỹ năng sản xuất vẫn còn nguyên thì họ có
thể nhanh chóng phục hồi tái tạo lại nhà xưởng. Nhưng nguợc lại, một công ty mất kỹ năng tay
nghề, mất người quản lý thì dù có giữ được trang thiết bị cũng không thể đứng vững trên
thương trường.
Tóm lại, muốn tồn tại và phát triển, không thể không nghiên cứu yếu tố con người. Đặc biệt
trong lĩnh vực quản lý, con người lại càng trở nên nhân tố trung tâm không thể thiếu. Trong
khuôn khổ nhỏ hẹp của tiểu luận này, chúng tôi chỉ đề cập đến cách nhìn nhận con người trong
hệ thống tổ chức quản lý, quản lý con người là gì, quản lý như thế nào và để quản lý con người
những người quản lý (lãnh đạo) phải cần có những gì.
A. Con người trong hệ thống quản lý.
Như chúng ta biết, việc quản lý con người, tập thể là nhiệm vụ chính của việc quản lý không chỉ
đối với toàn xã hội và đối với từng cấp, ngành, xã hội. Có thể nói, con người có vai trò chủ đạo
trong hệ thống quản lý. Trong lĩnh vực quản lý người ta xém xét con người và hoạt động của
con người trên 3 góc độ.
· Con người với tư cách là chủ thể quản lý: cùng với năng lực, uy tín, nhân cách của mình giúp
co người đưa ra các quyết định quản lý của mình. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
cá nhân vừa có tính độc lập, sáng tạo, vừa có mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa họ và các
thành viên khác. Thực tế cho thấy, có một số yếu tố của sự thích ứng, hoà nhập sau:
· Sự thích ứng về mặt thể chất, sinh lý, về những điều kiện của hoạt động: trình độ chuyên môn,
kỹ thuật, mức độ căng thẳng, thời gian làm việc…
· Sự thích ứng với nhau về mặt tâm lý, khí chất, tính cách, xu hướng, định hướng giá trị, hứng
thú, quan niệm, thói quen… nhằm tạo ra không khí tâm lý tốt trong tập thể.
· Sự thích nghi về mặt xã hội – tâm lý, sự thích nghi giữa cá nhân và tập thể, đồng nghiệp với
lãnh đạo… giúp cho mọi người có nhận thức và chấp nhận tự giác các quy tắc, các giá trị, tiêu
chuẩn hành vi đã được quy định bởi tập thể xã hội.
Quản lý con người còn có nghĩa là thường xuyên kiểm tra xem mỗi con người có thực hiện
đúng vai trò xã hội của mình hay không.
Muốn làm được điều đó cần thường xuyên tác động, uốn nắn và đánh giá đúng về kết quả hoạt
động của con người (phải hiểu rõ các nét tâm lý chung của những người bị lãnh đạo để có
những cách thức cư xử hợp lý.)
c. Để quản lý con người, nhà quản lý cần gì?
1. Một trong những yêu cầu đầu tiên đề ra cho người lãnh đạo đã được Onosandro Vizantiez
Mavriky (thế kỷ 11) trình bày gồm:
· Người ta muốn thấy người lãnh đạo nghĩa cả và công bằng, có kinh nghiệm trong công việc
của mình, thông minh và quyết đoán. Đối với mọi việc anh ta đều có thái độ bình tĩnh và tựu tin,
bình dị và biết kiềm chế trong cư sử, không quá bận tâm về bản thân và những nhu cầu của
mình. Lường tránh tính tham lam và vụ lợi vì người vụ lợi thì người tốt không yêu mến mà kẻ
thù thì coi khinh.
· Người lãnh đạo phải tôn trọng các quyền của thuộc cấp, ít ngủ và thường đêm nghĩ xem trong
tương lai phải làm gì.
· Sau khi đã quyết định phải hành động mau lẹ, bởi lẽ dịp may hiếm đến phải kịp thời chớp thời
cơ. Không phởn chí khi thành công và không ngã lòng khi thất bại.
· Biết tiên đoán là một trong những phẩm chất giá trị nhất.
· Phải biết xác định chính xác có thể giao cho ai làm việc gì. Nên tránh xa những kẻ láu cá hơn
là những người dữ tính.
2. F.Tailor, người được coi là cha đẻ của khoa học tổ chức và quản lý hiện đại cho rằng một
6. Các tác giả Việt Nam phát triển từ quan điểm đức – tài cũng nhấn mạnh đến 3 nhóm đặc
điểm đó là: Nhóm về tư tưởngchính trị, nhóm các phẩm chất tâm lý đạo đức và nhóm các phẩm
chất năng lực.
Tóm lại để quản lý con người thành công, yếu tố người lãnh đạo là quan trọng nhất. Từ các tiêu
chí về phẩm chất của người cán bộ lãnh đạo, người quản lý trên. Chúng ta cần có cách nhìn đa
chiều nhưng cũng phải chọn lọc để phù hợp với điều kiện văn hoá từng nước và hoà nhập
cùng xu thế của thế giới. Chúng tôi có nhiều điểm đồng ý với những tổng kết sau của tác giả
Thương Mưu Tử về cách quản người.
“Cách quản người lấy phục tùng làm gốc. Nếu muốn người khác phục tùng người lãnh đạo phải
có tố chất cao hơn người một cái đầu, phải có biện pháp khiến người ta tin phục, chế độ quản
lý chặt chẽ và nguyên tắc kiên định. Bản lĩnh nhìn người, nhận biết con người, biết tỏ rõ uy
nghiêm ngăn cấm và lời nói thuyết phục lòng người”
Chúng ta sẽ xem xét từng yếu tố trên:
Tố chất của người lãnh đạo
· Lấy đức quản người: Người xưa nói “Bản thân phải chính trực, không cần ra lệnh cấp dưới
vẫn nghe theo, bản thân không chính trực, có ra lệnh cấp dưới cũng không thi hành” Như vậy,
người lãnh đạo lợi dụng chức quyền, vi phạm pháp luật, kỷ luật làm tổn hại đến của công vì lợi
ích cá nhân thì sẽ mất hết uy tín. Ngược lại “Không tư lợi, thân giá sẽ cao, không kiêu căng, uy
càng lớn”
· Lấy học thức quản người: Một người lãnh đạo nếu không có đủ tri thức và trình độ nghiệp vụ
cao, thậm chí vô học mà lại khoa chân múa tay trứoc mặt cấp dưới có chuyên môn thật khó
tưởng tượng liệu có ai phục anh ta. Ví dụ hiệu trưởng một trường lại không thể lên lớp giảng
bài, viện trưởng bệnh viện lại không biết gì về y thuật, thì làm gì có uy tín. Ngựoc lại, nếu có
đầy đủ chuyên môn cần thiết, không những có thể vận dụng hiểu biết của mình lãnh đạo tốt
công tác của nàgnh mình đồng thời lại có nhiều tiếng nói chung với cấp dưới. Người lãnh đạo
như thế ai cũng phải kính phục.
· Lấy tài quản người: Một người lãnh đạo tài hoa có thể tạo ra cho người khác cảm giác tin cậy,
an toàn dù trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn và hết sức nguy hiểm, nhân viên do người đó lãnh
đạo vẫn đồng tâm nhất trí theo người lãnh đạo vượt qua mọi khó khăn. Nếu người lãnh đạo có
cách nói năng sinh động, lưu loát, ngắn gọn, có tính logic, có sức thuyết phục lan truyền thì đó
Nguyên tắc bổ sung cho nhau. Xí nghiệp hiện đại cần phải có nhiều nhân tài.
Nguyên tắc phải theo tình hình động. Tình hình công tác có thay đổi, nhân tài cũng sẽ thay đổi,
nhân tài lưu động sẽ giúp cho việc phát huy tài năng.
Phương pháp của người lãnh đạo
· Coi công việc của cấp dưới là việc của mình.
· Phải hoà mình với cấp dưới. Hành vi thường ngày của người lãnh đọ cấp dưới đã nhìn thấy
rõ. Đừng nên cho rằng mình có thể thao túng mọi người mãi mãi, khi lợi ích thiết thân của nhân
viên bị tổn hại, họ cũng sẽ vùng lên chống lại. Cho nên phải hoà mình với họ, có thể xoá bỏ
được ý nghĩ thù hằn của họ.
· Phải đặt mình vào vị trí của họ. PhảI luôn xuất phát từ quan điểm của họ để kiểm nghiệm
quyết định của mình.
· Phải biết giao quyền, một người lãnh đạo kinh doanh có hiệu suất cao cần phải hết sức phóng
tay giao quyền để dành thời gian vào những việc người lãnh đạo cần làm.
· Phải nói cho nhân viên biết những khó khăn, và ngăn ngừa những mâu thuẫn.
· Phải quan tâm đến nhân viên. Có khi chỉ quan tâm đến một việc nhỏ cũng có thể cải thiện rất
lớn đến quan hệ quần chúng của bạn.
· Khai thác phát triển trí tuệ của nhân viên. Tranh thủ ý kiến của nhân viên dưới quyền, khiến họ
phải động não suy nghĩ, khai thác phát triển trí tuệ của họ.
· Phải biết lắng nghe nhiều loại ý kiến. Khi đưa ra quyết định, phải biết lựa chọn những phương
án có thể lựa chọn. Phương án tốt là phương án được chọn ra qua việc loại các phương án
kém hơn.
· Phải quan tâm đến cách thức bố trí các nhiệm vụ. Người cấp trên thông minh nhất là người rất
ít phải sử dụng đến uy quyền.
· Phải nhìn vào kết quả công việc chứ không phải lượng công việc nhiều hay ít. Đánh giá một
con người phải chú trọng đến những cống hiến của anh ta.
· Phải có dúng khí nói “không”. Một nhà kinh doanh giỏi phải có dũng khí nói không và sau chữ
không mạnh mẽ đó phải làm cho cấp dưới thấy sự uy nghiêm của người lãnh đạo.
Bản lĩnh của người lãnh đạo
· Phải biết nói năng: Đó là năng lực cơ bản nhất của con người dù là ra lệnh, biện hộ cho bản
thân hay trình bày lập trường của mình, nếu nói năng khéo léo có thể có được hiệu quả lớn gấp
con người lại càng quan trọng. Quản lý con người hiện nay vừa được xem như một ngành
khoa học vừa được xem như một nghệ thuật vì quản lý con người là quản lý các cấu trúc phức
tạp với những yếu tố bản sắc, những nhân cách riêng của từng cá nhân không ai giống ai. Bởi
vậy, để quản lý con người cần những người có tài và phải được đào tạo một cách bài bản.
Những nhà quản lý này cũng sẽ phải tự ý thức việc học liên tục, học suốt đời không ngừng
hoàn thiện năng lực quản lý của mình vì xu hướng của xã hội và những con người của xã hội
hiện nay biến đổi ngày càng nhanh. Nhà quản lý nếu không “học liên tục” sẽ bị tụt hậu không đủ
khả năng quản lý công việc và những người dưới quyền có hiệu quả. Nguồn : Theo Tâm lý học và bạn