Di tích lịch sử văn hóa 2
Ao Miếu
Ao Miếu
Khu di tích lịch sử văn hóa Thạch Linh thần tướng và chùa Bồ Đà thuộc xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên,
tỉnh Hà Bắc, cách thị xã Bắc Giang 20km về phía Tây.
Khu di tích này được xây dựng từ thời Lê -Nguyễn, là nơi tưởng niệm vị anh hùng có công với nước, là
công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc.
Khu di tích gồm một hệ thống di tích có liên quan đến nhau, cụ thể là: Ao Miếu, nơi dấu tích của Thánh,
chùa Hang (Khám), đền Ngự, đền Núi Lùn thờ tượng độc cước, đền Trung, Đền Thượng, chùa Cao, chùa
Bồ Đà. Từ khi khởi dựng cho tới nay, các di tích vẫn đứng nguyên vị trí ban đầu.
Điểm Ao Miếu - nơi sinh ra thánh phật, giữa ao có xây 1 miếu thờ.
Chùa Hang (Khám) nằm trên một gò đất cao rộng khoảng 1300m2.
Đền Ngự rộng 24m2 thuộc thôn Hạ Lát.
Đền Núi Lùn nằm trên một gò đất cao thuộc thôn Thượng Lát. Trong thờ pho tượng độc cước bằng đất
cao 50cm.
Đền Trung, đền Thượng là nơi thánh phật hóa, nằm trên núi Phượng Hoàng thuộc thôn Thượng Lát. Đền
Thượng nằm trên đỉnh núi. Đền Trung xây theo kiểu chữ đinh (T).
Chùa Cao ở lưng chừng phía bắc núi Phượng Hoàng, được xây theo kiểu cuốn vòm. Trong chùa có một
pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát bằng gỗ sơn son thiếp vàng.
Chùa Bồ Đà (Tứ Ân Tự) được xây dựng thời vua Lê Nhân Tông năm thứ nhất (1720), ở phía Bắc (chân
núi Phượng Hoàng).
Trong khu di tích này hiện còn lưu giữ được nhiều tài liệu hiện vật quý hiếm, có ý nghĩa nghiên
cứu khoa học và giáo dục truyền thống. Đó là các bức đại tự, câu đối, văn bia, hương án, đồ
thờ cúng, hệ thống tượng v.v vừa là hiện vật gốc thời Lê, thời Nguyễn rất có giá trị về mặt
nghệ thuật, vừa là tài liệu, hiện vật phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục
truyền thống.
Đảo hòn Khoai
Đảo hòn Khoai
Đảo còn có các tên Đảo Giáng Tiên, Hòn Độc lập. Thời Pháp thuộc, thực dân Pháp đặt tên là Poulob -
Obi. Tên mà nhân dân gọi là : Hòn Khoai và được giải thích như sau:
- Trên đảo có nhiều khoai
Hưng) trên cơ sở đánh giá tình hình chung về công tác chuẩn bị khởi nghĩa trong tỉnh, hội nghị đã thống
nhất chia thành 3 khu vực khởi nghĩa trong tỉnh.
Khu vực I là Năm Căn trong đó có Hòn Khoai và một số xã chung quanh.
Khu vực II là thị trấn Cà Mau và các xã xung quanh
Khu vực III là thị xã Bạc Liêu và các huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu và Gia Rai.
Hội nghị nhất trí lấy điểm Hòn Khoai làm điểm khởi đầu của cuộc khởi nghĩa trong tỉnh vì Hòn Khoai là
cụm đảo cô lập ngoài biển khơi, cách mũi Cà Mau 20 km ở đây lực lượng ta hoàn toàn áp đảo địch. Vì
ngoài tên thực dân Pháp phụ trách Hải Đăng, hầu hết các nhân viên Hải Đăng người Việt đều được giác
ngộ cách mạng kể cả các nhân viên canh gác và giữ kho súng của địch.
Sau khi khởi nghĩa Hòn Khoai thắng lợi ta sẽ thu toàn bộ vũ khí về phối hợp với du kích xã Tân Hưng
Tây và các xã chung quanh Năm Căn đã bố trí sẵn ở đây. Để giải phóng thị trấn Năm Căn thành lập chính
quyền cách mạng ở khu vực này,
Sau ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (23/11/1940) bọn tề huyện, xã ở Năm Căn đều hoang mang, các thị xã, thị
trấn các trụ sở tề đều có tăng cường lính gác, huyện Năm Căn được tăng cường với đại đội lính Khơ Me.
Một số tên tề được trang bị thêm súng lửa, bọn tề xã Tân Hưng Tây, xã Tân An buộc thanh niên từ 18 đến
45 tuổi phải gia nhập lực lượng dân tuyền. Chúng lập các trạm gác ở các ngã ba đường, giới nghiêm ban
đêm chúng tổ chức tuần tra suốt ngày đêm, trao giải thưởng ai bắt được cộng sản được thưởng từ 200đ
đến 400đ.
Tên Oliever xếp đảo Hòn Khoai cũng được lãnh theo dõi tình hình diễn biến của các nhân viên người
Việt trên đảo.
Ngày 12/12/1940 đồng chí Bông Văn Dĩa từ xã Tân dân, huyện Ngọc Hiền đến Hòn Khoai trao Nghị
quyết khởi nghĩa của Tỉnh ủy cho đồng chí Phan Ngọc Hiền, đồng chí Phan Ngọc Hiền triệu tập chi bộ tại
Dổ Tre (địa danh trên Hòn Khoai). Chi bộ thống nhất giờ hành động từ 20 giờ đến 23 giờ ngày
13/12/1940. Vì đó là thời gian tên xếp đảo thường từ nhà đến phòng điện báo để gởi báo cáo về Sài Gòn.
Chi bộ thống nhất bắt sống tên Oliever để đem về đất liền xử tội (tên Phó Đắc đã đi về Sài Gòn).
Trưa ngày 13/12/1940 đồng chí Phan Ngọc Hiền tổ chức họp chi bộ mở rộng xác định sẽ chiếm 2 khu vực
: phòng điện đài và khu vực đèn pha.
Lực lượng khởi nghĩa chia làm 4 tổ.
- Tổ một: Phan Ngọc Hiền, Dương Văn Giai, Bông Văn Nở được phân công chiếm tháp đèn pha (riêng
đồng chí Giai và Nở còn có nhiệm vụ liên lạc với các tổ).
mạng. Đến ngày thứ 5 một vài đồng chí đã bị bắt, đến ngày thứ 7 lực lượng khởi nghĩa không còn khả
năng chiến đấu và rơi vào tay địch.
Sau 6 tháng giam cầm, tra tấn dã man các chiến sĩ khởi nghĩa ngày 12/7/1941, thực dân Pháp đem các
chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai ra xử bắn (địa điểm xử bắn tại sân vận động thị xã Cà Mau). Các đồng chí
bị xử bắn là: Phan Ngọc Hiền, Nguyễn Văn Đắc, Đỗ Văn Sến, Lê Văn Biên, Ngô Kinh Luân, Nguyễn
Văn Cự, Nguyễn Văn Cần, Nguyễn Văn Đính. Các đồng chí Bông Văn Dĩa, Dương Văn Giai bị đầy ra
Côn Đảo và đồng chí Nguyễn Thị Quýt bị giam cầm ở Chí Hòa.
Trước lúc bị xử bắn, thực dân Pháp cho đồng chí Phan Ngọc Hiền 10 phút để nói chuyện với đồng bào.
Đồng chí dõng dạc nói "Người Cộng sản coi cái chết rất bình thường, chúng tôi sẵn sàng chết để đấu
tranh cho đồng bào được ấm no, nhất định những người kế tiếp chúng tôi sẽ tiêu diệt được thực dân Pháp.
Nhất định Việt Nam sẽ hoàn toàn độc lập" và đồng chí hô to "đả đảo đế quốc Pháp, Đông Dương độc lập
muôn năm, Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm".
Các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của tổ quốc, nhưng tinh thần
kiên trung bất khuất của các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai vẫn sống mãi trong lòng nhân dân Minh Hải,
trong lòng nhân dân Việt Nam.
Kế thừa tinh thần bất khuất của các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai, trong phong trào đồng khởi 1959-
1960, lực lượng vũ trang Minh Hải đã tập kích một đơn vị nghĩa quân ngụy đóng tại đảo, tiêu diệt toàn bộ
quân địch giải phóng đảo.
Đi từ cửa sông Rạch Gốc ra đến Hòn Khoai, trước tiên ta thấy Hòn Tượng án ngữ phía trước
bên phải của Hòn Khoai, phía trước bên trái của Hòn Khoai là Hòn Đồi Mồi và Hòn Sao, xa hơn
nữa là Hòn Khô (chỉ cao hơn mặt nước khoảng 2m). Bao bọc quanh đảo là chân cát rộng từ 3
đến 5m. Tại bãi lớn và bãi nhỏ có những bãi đá diện tích toàn đảo rộng khoảng 4 km 2,7
Điếm Trung Quân-Cầu Gạo
Điếm Trung Quân-Cầu Gạo
Điếm Trung Quân-Cầu Gạo thuộc xã Yên Phụ, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc, cách thị xã Bắc Giang
36km.
Trong cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược năm 1077, Lý Thường Kiệt đã cùng với quân dân Đại Việt
tổ chức xây dựng phòng tuyến ngăn giặc ở bờ Nam sông Cầu sau khi đã đưa quân sang tận Châu Ưng,
Châu Liêm đánh vào nơi tập kết binh lương của giặc.
Điếm Trung quân-Cầu gạo nằm ở giữa phòng tuyến, kề bên Đại bản doanh của chủ soái và các đạo quân
này đã bị thực dân Pháp san bằng vào năm 1952, thành một phế tích. Chỉ còn lại 8 bài vị vua Lý và một
bia đá ghi ngày cúng giỗ các vua Lý cùng những người hưởng công xây dựng Đền Đô.
Cho tới năm 1990, căn cứ vào bản ảnh và bản vẽ (mặt bằng) của di tích mà ta còn lưu giữ trong nhà bảo
tàng ( bản này Pháp chụp từ năm 1912), thì thấy nhân dân đã xây dựng xong 7 gian nhà hậu cung với kết
cấu kiến trúc trồng giường hoàn toàn bằng gỗ lim chắc khỏe, cùng hai nhà bia và dãy nhà kiệu, nhà ngựa,
đồng thời xây dựng xong nền móng nhà chuyển bồng và nhà tiền tế. Duy nhất còn 8 bài vị ghi tên các vua
Lý được sơn son thếp vàng, chạm khắc vào thời Lê.
Đặc biệt còn một bia đá, chạm khắc vào năm 1605 do Tiến sỹ Phùng Khắc Khoan phụng soạn ghi công
đức các vua Lý, phần trên chạm khắc hình rồng chầu mặt nguyệt rất tinh xảo.
Ngày nay, trong di tích còn lưu giữ được nhiều hiện vật là đồ đồng, đồ sứ có giá trị như đỉnh
đồng, bình hương thời Lê do nhân dân Đình Bảng và khách thập phương cung tiến.
Đền Đông Bào
Đền Đông Bào
Thôn Đông Bào hiện nay thuộc xã Gia Xuyên, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Hưng.
Đền Đông Bào thờ Vương mẫu Nhiếp chính Yỷ Lan. Hàng năm, lễ đền được mở làm 2 kỳ:
- Tháng 2: Ngày 18/2 là ngày sinh nhật.
- Tháng 7: Ngày 25/7 - Ngày mất.
Lệ là 10 ngày nhưng thực tế chỉ có 5 ngày được sử dụng vào hội.
Theo truyền thuyết, đền Đông Bào được xây dựng vào năn 1113. Nhưng nhìn vào kiến trúc thấy rằng
được trùng tu thời Nguyễn.
Đền được kiến trúc theo hình chữ Nhị, có chuôi phía sau. Đầu phía Nam là một ngôi đình cổ, sau đền là
chùa thờ Phật.
Đền ngoài gồm có 5 gian bằng gỗ lim, vì kèo đều có chạm khắc rồng phượng và hoa lá. Gian giữa đặt bàn
thờ Ngọc Lộ. Bên cạnh Ngọc Lộ là đồ thờ tế, đặc biệt có đôi lục bình trên có khắc bài thơ.
Gian trung từ: Gian trung từ có 5 gian, tiếp mái với gian ngoài, sơn son thếp vàng toàn bộ. Phía hiên
chạm khắc trúc, rồng, phượng. Ngoài hiên chính giữa để một bàn thờ trên có ngai thờ.
Trong nhà có bàn thờ. Trên có bức đại tự to ghi bằng chữ Hán: "Vương giả tri hương".
Gian hậu cung có một bàn thờ đặt nghi lễ, trên có bức đại tự ghi: "Tối linh từ linh từ". Sau bàn thờ là gian
cấm, có tượng Vương mẫu ngồi trong huyện. Tượng bằng gỗ cao khoảng 50cm. Trước cửa cấm có 5
thanh kiếm thờ, tượng Yỷ Lan đẹp, theo nhân dân cho biết là tượng để trong cung cấm không bao giờ
Chính Hòa năm thứ 23. Một quả chuông lớn đúc vào năm tự đức thứ 2 (1849), treo trên xà hiên Tam
quan. Các dãy bàn thờ với bát bửu, ngai thờ, hương án, tàn lọng, kiếm kích, lọ vò cùng với màu sơn son
thếp vàng, sắc ánh khảm trai đã tạo ra một khung cảnh trang nghiêm mà rực rỡ. Đáng lưu ý là một số bức
mộc tự còn lưu lại ở đây ghi lại việc tu sửa đình, việc dân làng có nghề đúc đồng bỏ tiền tu tạo đình
miếu Những đôi câu đối được gia công cẩn thận bằng chất liệu sơn mài, sơn ta màu đen, màu đỏ với các
dạng thẳng hay bán nguyệt, hầu hết đều có chạm tỉa hoa văn kỷhà hay các cách điệu.
Bên cạnh những đồ thờ bằng kim loại, gốm sứ và gỗ, còn có các di vật khác bằng chất liệu giấy và vải
như thần phủ, thần sắc, sở kho, quần áo từng thời kỳ, cờ quạt, long tàn.
Hội lễ được tổ chức vào ngày 8/3 âm lịch hàng năm.
Cụm di tích đền Trang Liệt được nhân dân giữ gìn và tu sửa cẩn thận chu đáo, các công trình,
các di vật trong đền đều được bảo quản tốt.
Đền Cao
Đền Cao
Đền Cao được xây dựng trên ngọn núi Bồng - một ngọn núi cao và đẹp ở trung tâm thôn Đại, xã An Lạc,
huyện Chí Linh,tỉnh Hải Hưng, cách thị xã Hải Dương 25 km.
Tổng thể di tích ở thôn Đại xã An Lạc, được xây dựng để tưởng niệm và ghi nhớ công ơn năm anh em họ
Vương - những người đã có công đánh đuổi quân xâm lược nhà Tống thế kỷ thứ X để bảo vệ nền độc lập
của dân tộc.
Đền Cao là một di tích được xây dựng vào thời Lê. Song qua thời gian, đặc biệt là mưa bão và chiến tranh
nên di tích đã bị phá hủ Ngôi đền hiện tại mới được xây dựng vào thời Nguyễn trên nền móng của di �
tích cũ.
Đền được xây dựng theo hình chữ Đinh. Khu đền tế có 5 gian kiến trúc theo kiểu con chồng đấu xen cao
ráo, thoáng. Những bức trạm đầu dư, xà nách mô tả cảnh rồng và hoa lá chim muông. Hậu cung được
kiến trúc theo kiểu bào trơn đóng bến. Trên sà ngang gian trung tâm bài trí một của võng sơn son thiếp
vàng và chạm nổi lưỡng long chầu nguyệt. Phía dưới là bàn thờ có nhiều đồ tế. Gian cuối của hậu cung
đặt một khám thờ. Trong khám có một cỗ ngai. Đó là một hiện vật tượng trưng cho Vương Hồng Minh -
Vị thần được tôn thờ ở di tích.
Cùng với đền Cao, trong tổng thể di tích này còn đền Bến Tràng (cách đền Cao 300mét) thờ Vương Hồng
Xuân, em trai của Vương Hồng Xinh.
Cách đền Bến Tràng 120 m về bên phải là đền Trần hay đền Cả. Đền thờ Vương Hồng, em trai của
người thật. Hậu cung 3 gian 2 chái, trong đặt khám thờ. Khám thờ bên trái là tượng Cao Sơn
Đại Vương bằng gỗ sơn thếp cực đẹp, ngồi trên ngai thờ. Giữa khám thờ có long ngai và bài vị
thánh Tam Giang cùng nhiều đồ thờ khác như: hia, áo, mũ, kiếm thờ v.v Tất cả đều óng ánh
rực rỡ Bên trái là tượng Trịnh tướng công, bằng đá sơn thếp, khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu,
nhân từ. Đằng sau khám thờ là long ngai và bài vị đẹp. Đằng trước là bình hương cổ gốm Thổ
Hà, tác phẩm nghệ thuật không thấy ở nơi khác, do chính nghệ nhân cổ Thổ Hà cung tiến vào
đền
Đền chùa Nguyễn Thụ
Đền chùa Nguyễn Thụ
Đền chùa Nguyễn Thụ là một công trình kiến trúc cổ kính, thuộc xã Đông Nguyên, huyện Tiên Sơn, tỉnh
Hà Bắc. Đền nằm trên một khu đất rộng ở phía tây nam làng Xuân Thụ, ngay đầu thị trấn Từ Sơn. Đây là
nơi xưa kia Diệu Tiên, Quảng Khánh, Pháp Hải đã chiêu mộ và luyện tập quân sỹ trong cuộc khởi nghĩa
Hai Bà Trưng.
Đền Nguyễn Thụ do hai thôn Cẩm Nguyên và Xuân Thụ cùng góp công của xây dựng từ rất lâu (cuối thế
kỷ XVI). Hàng chữ Hán còn khắc chìm trên nóc Đền Thượng cho thấy: Đền Nguyễn Thụ được khởi dựng
vào năm Sùng Kháng thứ 8 (tức 1573), được sửa chữa nhiều lần. Lần cuối cùng vào năm Thành Thái thứ
9 (1897), đền được làm lại như cũ.
Đền được dựng trên nền bó gạch, kiến trúc theo kiểu chữ tam gồm đền thượng, đền trung và đền hạ. Đền
Thượng gồm 3 gian, kiến trúc kiểu bình đầu, cánh phong, cây đèn, cấu trúc gỗ con chồng kẻ bẩy kết hợp
giá chiêng được chạm khắc tinh vi và sơn son thếp vàng. Đền trung gồm 12 cột kiến trúc gỗ kiểu kẻ
truyền bào soi, vì 2 hồi kiến trúc theo lối con chồng, trạm nổi hình vân lá cách điệu. Đền hạ gồm 28 cột
kiến trúc kiểu kẻ truyền gồm 5 gian bào soi cẩn thận, hai đầu hồi đóng cốn chạm khắc tinh xảo và tài
nghệ.
Kề bên trái đền là chùa Diên Phúc Tự, gồm tòa tiền đường kiến trúc chuôi vồ cánh phong gồm 5 gian tiền
đường và 2 gian tam bảo, có sân lát gạch, ao hình bán nguyệt, 6 gian nhà tổ, 3 gian nhà khách, cổng, sân,
vườn cùng tháp gạch.
Hiện nay, ngôi đền còn khá chắc chắn. Trong đền chùa còn lưu giữ được nhiều đồ thờ tự, văn bia và câu
đối chữ Hán (tượng phật, chuông đồng đúc vào năm Thiệu Trị thứ 5, 20 đạo sắc phong vào các triều đại
phong kiến Việt Nam từ thời Lê đến thời Nguyễn, tấm bia đá xanh khắc chữ Hán mang niên hiệu "Kiến
Phúc nguyên niên")
Nam. Công trình được xây dựng theo kiểu chữ tam. Đó là một kiểu kiến trúc khá đặc biệt. Ngoài ra còn
có những khối kiến trúc liên quan như tả vu, hữu vu và một gian bếp ở phía Nam để phục vụ cho việc
sinh hoạt của đền.
Phần kiến trúc chính ở di tích là tòa tiền đường được kiến trúc với 4 hàng cột chạy ngang và 6 hàng cột
chạy dọc gồm 5 gian. Kiến trúc theo kiểu giá chiếng chồng giường. Những gian bên trang trí, đơn giản
chủ yếu là bào trơn. Riêng gian giữa hai đầu dư được trang trí đầu rồng.
Phần tiền đường và thiên hương được nối với nhau qua tả vu, hữu vu.
Tòa thiên hương được bố trí 4 hàng cột chạy ngang và 6 hàng cột chạy dọc. Tòa thiên hương kiến trúc
đơn giản hơn so với tòa tiền đường.
Phần hậu cung đều được kết cấu với 4 hàng cột chạy ngang và 4 hàng cột chạy dọc nhà. Bên trong xây
dựng một bức tường giả. Các đồ tế tự được bài trí cô đọng ở 3 gian giữa, cột cái gian hậu cung.
Toàn bộ kiến trúc của đền được xây dựng theo lối tam cấp (từ thấp đến cao) nên đứng ở tòa hậu cung ta
có thể nhìn qua thiên hương, tiền đường ra sân sau và ra hồ một cách rõ ràng.
Nhìn chung đền Hương Quất là một di tích còn khá nhiều hiện vật và đồ tế tự quí như 10 bộ
kiệu bát cống, 2 hạc gỗ (Lê) cao 2,5m, 6 lục bình lục lăng, 2 lục bình long ám, 2 lục bình phong
cảnh, 1 bát hương sứ (thống), 4 câu đối làng máng v.v Chúng ta cần có kế hoạch bảo vệ và
nghiên cứu tốt những hiện vật quí hiếm này một cách tốt nhất.
Đền Lê Xa
Đền Lê Xa
Đền nằm ở đầu thôn Lê Xá, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hải Hưng.
Theo thần tích thì đền Lê Xá được xây dựng để tôn thờ nàng Cả - Bà sinh ra và lớn lên ở thôn An Cầu.
Trước sắc đẹp, tài hoa và đức độ, bà được tuyển chọn làm cung phi ( vợ ba Ngô Vương Quyền ). Đất
nước bị loạn ly ( thập nhị sứ quân), nàng Cả và ba con gái của bà đã xung trận để bảo vệ triều đình nhà
Ngô, bảo vệ sự thanh bình của đất nước. Trước sức mạnh của đối phương, nàng Cả và ba con gái của
nàng quyết không chịu đầu hàng. Sự hy sinh của bà và con gái bà, nhân dân An Cầu đã dựng nên ngôi
đền để tôn thờ bà và ba con gái của bà.
Đền còn lại xây theo hình chữ nhị. Nhà tiền gồm 5 gian, hai dĩ, kiến trúc theo kiểu chồng giường, đấu sen.
Với mái ngói vảy cá nhỏ và hai đầu hồi xây theo hình khuôn bản đã làm cho di tích thêm cổ kính.
Dưới đại tự có ban thờ được bầy bát hương, mâm bồng, cây đèn tôn nghiêm, trang trọng. Một gian một dĩ
phía Bắc xây ngăn lại, trong có ban thờ và tượng ba người con gái của Ngô Quyền. Nhìn chung tòa tiền tế
bờ Nam sông Như Nguyệt, dân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt đã xây dựng phòng tuyến
để chặn giặc.
Ngày 18-1-1077, quân Tống đến bờ Bắc sông Như Nguyệt. Ngay sau khi đến nơi, một bộ phận của quân
Tống do Niêu Lý chỉ huy vượt sông đánh sang bờ Nam ở địa điểm thôn Như Nguyệt và Yên Phụ ngày
nay. Đội quân của Niêu Lý bị đánh tơi bời. Sau thất bại đó, quân Tống dành một thời gian để chuẩn bị.
Vào giữa tháng 3, Quách Quỳ mở cuộc tấn công lần thứ hai sang bờ Nam, tại làng Phấn Động ngày nay.
Trận chiến đấu xảy ra ác liệt. Quân Tống đóng bè vượt sông tiến sang bờ Nam. Quân đội nhà Lý ở trại
quân Phấn Động phối hợp với dân binh chiến đấu dũng cảm, diệt gọn từng đoàn quân địch. Cả một giải
sông từ bãi Côn Sơn đến bãi Cửa Ngô đã xảy ra những trận chiến đấu dữ dội.
Trước tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân dân Đại Việt, Quách Quỳ phải từ bỏ ý định tấn công. Chính
y tuyên bố "Nếu ai bàn đánh sẽ chém" sau thất bại Phấn Động. Đóng góp trong chiến thắng chung tại
Phấn Động có đội dân binh làng Chài do ông Cả chỉ huy đã đảm nhận một mũi ở phía Bắc cửa ngõ. Sự
kiện đó còn được lưu truyền trong câu ca của làng Phấn Động:
"Đàn ông gậy tầy gậy mấu
Đàn bà bị trấu bị tro
Ra trước cửa ngõ đánh nhau với giặc".
Trong cuộc chiến đấu ác liệt này, ông Cả (hay còn gọi là ông Cả Đồng Lai), người chỉ huy đội quân làng
chài, đã hy sinh anh dũng. Để ghi nhớ chiến công của quân đội Đại Việt và người chỉ huy dân binh của
làng, dân làng Chài đã đặt cho một số địa điểm ở làng mình tên người chỉ huy dân binh như cầu Ông Cả,
ao Ông Cả. Ngoài ra, nhân dân còn lập đền thờ ông Cả trên mảnh đất đã diễn ra trận chiến đấu ác liệt giữa
quân dân Đại Việt với quân Tống.
Đền Phấn Động nằm ngoài đê về phía Đông Nam làng Phấn Động, thuộc phía Bắc cửa ngõ,
trên một vùng đất cao ráo. Đối diện với đền Phấn Động là chùa Phấn Động (chùa Đông Quy).
Qua thời gian, kiến trúc xưa đã hỏng, hiện nay trên nền đất dựng chùa xưa còn sót ngôi tháp
và một số tượng Phật. Đền có một số đồ thờ thời Nguyễn. Chùa hiện nay còn một số pho
tượng.
Đền Phụ Quốc
Đền Phụ Quốc
Đền Phụ Quốc thuộc xã Phú Lâm, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc. Đền nằm gần bưu điện Núi Lim, rất
thuận tiện cho du khách tới thăm bằng các loại phương tiện.
thành hoàng. Hai bên tường đặt ngai và bia ký của các dòng họ đã có công khai phá và xây dựng nên
vùng đất nà Phần trong cùng được kiến trúc theo kiểu chồng diêm, bài trí các tượng Phật. �
Nhìn chung đền Phượng Hoàng là một trong những di tích không lớn song đó thực sự là một ngôi đền
được bố cục hài hòa ăn nhập với một vùng quê yên tĩnh của đồng bằng bắc bộ.
Hiện vật còn lại của di tích thì có:
- Một pho tượng Cúc Hoa
- Một pho tượng A di đà
- 5 cỗ ngai
- Một bộ kiệu long đình
- Một quả chuông.
Đền Quát
Đền Quát
Đền Quát nằm trên một vùng đất phía Tây Bắc của thôn Hạ Bì thuộc xã Yết Kiêu, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải
Hưng.
Đền Quát là nơi lưu tích về thân thế Yết Kiêu - một gia nô của Trần Hưng Đạo đã có công trong cuộc
kháng chiến chống Nguyên - Mông ở thế kỷ XIIIị
Di tích chia làm hai khu: Khu đền chính và khu bãi bơi.
Từ cổng chính đi vào là một hồ sen hình bán nguyệt. Hồ sen là một phần đệm giữa khu đền chính với khu
bãi bơi.
Khu đền chính kiến trúc kiểu chữ Nhị. Năm gian đền ngoài kiến trúc thời Nguyễn có mở 3 luồng cửa.
Tiếp nối 3 gian giữa đền ngoài là 3 gian đền trong kiến trúc kiểu kẻ truyền chồng chét. Gian giữa đặt đằng
trước là một hương án, đằng sau đặt long đình thờ mũ miện của Yết Kiêu. Hai bên hương án đặt 2 tượng
phỗng nô lệ Chiêm thành.
Ba gian hậu cung: Gian đầu đặt luyện thờ tượng Yết Kiêu, gian thứ hai đặt luyện thờ tượng công chúa con
vua Nguyễn là vợ của Yết Kiêu, gian thứ 3 có 3 tượng nàng hầu và mã cao đặt trước luyện thờ tượng Yết
Kiêu.
Khu bãi bơi không xây dựng công trình gì cả. Bài trí đặt 2 voi đá, hai ngựa đá, hai chân cột cờ đá ở hai
bên theo thế đối diện nhau. Ngoài ra ở bên trái bãi bơi có một bia đá.
Đền Quát kiến trúc kiểu nội công ngoại quốc gồm 5 gian đền ngoài, 5 gian đền trung, 3 gian đền trong và
15 gian hành lang. Di tích chia làm 3 khu. Ngoài hai khu vừa tả trên, đền Quát còn có khu văn chỉ nằm về
Đền thờ Đàm Quốc Sư nguyên trước đây là nhà giảng đường trong vương phủ (Kinh đô Thăng
Long). Đền được xây dựng từ bao giờ, hiện nay không còn giữ được tài liệu nào nói tới. Đền
thờ hiện nay là tu sửa lại sau đó bằng cách dỡ chuyển 5 gian giữa nhà tiền tế xây dựng thành
nhà hậu đường, còn 4 gian thuộc 2 đầu nhà tiền tế dồn lại và thêm 1 gian mới nữa vào giữa dễ
xây dựng thành nhà tiền tế hiện nay cho cân xứng với nhà hậu đường. Trên câu đầu nhà tiền tế
có ghi niên đại sửa chữa, xây dựng lại đợt này "Tự đức tam niên-1850". Trên cơ sở này chúng
tôi có thể đoán định chắc chắn là nhà giảng đường này, trước khi dỡ chuyển về đây xây dựng
năm 1721, nó đã có mặt ở kinh thành Thăng Long khoảng vaiõ chục năm rồi. Như vậy nhà
giảng đường đền thờ Đàm Quốc Sư được xây dựng cách ngày nay khoảng gần 300 năm. Nhìn
chung nhà giảng đường này, một tòa vẫn còn nguyên vẹn
Đền thờ Bác Hồ
Đền thờ Bác Hồ
Ngày 5/9/1969 khi nghe Đài tiếng nói Việt Nam báo tin Bác Hồ từ trần, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
thị xã Trà Vinh cùng cả nước vô cùng thương tiếc.
Lợi dụng tình hình đó, giặc ngày đêm dùng đủ mọi phương tiện thông tin, kể cả máy bay, tung tin Hồ Chí
Minh chết thì cách mạng miền Nam như con rắn mất đầu và cuộc kháng chiến đã tiêu vong. Bằng mọi thủ
đoạn, bọn chúng không cho nhân dân để tang, phúng viếng Bác. Nhưng không riêng người dân Long
Đức, người dân Trà Vinh mà cả người dân Nam Bộ đều tổ chức lễ truy điệu Bác Hồ rất uy nghiêm.
Đầu năm 1970, tại một điểm nhỏ ấp Công Thiện Hùng thuộc xã Long Đức thị xã Trà Vinh, thị xã ủy tổ
chức một cuộc họp mở rộng bàn kế hoạch triển khai đánh địch giải phóng ấp Vĩnh Hội xã Long Đức. Thị
uỷ đã bàn bạc và quyết định xây dựng đền thờ Bác Hồ tại ấp Vĩnh Hội. Đây là cái nôi cách mạng của
Long Đức, đã phát xuất nhiều phong trào đấu tranh cách mạng, nơi đây cũng thuận tiện cho bà con các
nơi đến viếng, nhất là bà con nội ô thị xã Trà Vinh. Vĩnh Hội chỉ cách cơ quan đầu não bọn ngụy tỉnh
Vĩnh Bình 4 km, cách sân bay 7km, cách căn cứ Hải quân Mỹ non 2 km đường chim bay và được bao bọc
gần 20 đồn bốt lớn nhỏ nên nằm trong tất cả các tầm súng và đạn pháo của địch, nhưng vì lòng tôn kính
Bác và mang ý thức tấn công địch trên mọi mặt chiến lược nên ta quyết định xây dựng đền thờ tại Vĩnh
Hội để gây nhiều tiếng vang. Yý kiến xây dựng đền thờ được cấp Uủy tỉnh Trà Vinh đồng ý và phân công
cấp ủy thị xã Trà Vinh và Ban Tuyên huấn tỉnh chịu trách nhiệm vận động, chỉ đạo xây dựng.
Chẳng bao lâu, ấp Vĩnh Hội và một số ấp lân cận thuộc xã Long Đức cơ bản được giải phóng. Riêng chỉ
còn lại 1 bót địch đóng cặp sát mé sông, nhưng bị ta khống chế hoàn toàn.
2 bàn thờ gỗ khảm xà cừ, 1 tủ thờ gỗ khảm xà cừ
Đền thờ họ Đàm Thận
Đền thờ họ Đàm Thận
Đền thờ họ Đàm Thận thuộc thôn Hương Mạc, xã Hương Mạc - cách thị xã Bắc Giang (tỉnh l Hà Bắc) �
khoảng 35 km.
Bậc tiên tổ tôn kính của họ Đàm Thận ở thôn Đình Cả, xã Hương Mạc, huyện Đông Ngàn là cụ Đàm
Thận Huy, tên tự là Mặc Hiệu, tên Thụy là Trung Hiến. Năm Kỷ t (1495) cụ được vua Lê cử vào hội �
Tao đàn nhị thập bát tri. Vua Lê Thánh Tông đã khen cụ là "Thiên Hạ đệ nhất đanh thi nhân"-tức người
hay thơ nổi nhất tiếng trong thiên hạ.
Năm Tân Mùi (1511) đi sứ về, cụ được thăng chức Thượng thư Bộ Lại trị chiêu văn quán. Vào năm Mậu
Dần (1413), cụ được thăng Thích Bảo và được vào Kinh diễn giảng sách. Đến năm Nhâm Ngọ (1522)
Mạc Đặng Dung tiến bức, vua Lê Chiêu Thống phải trốn ra Mộng Sơn (một xã vùng Sơn tây) để cầu quân
Cần Vương. Cụ Đàm Thận Huy cùng một số người đứng lên tập hợp được 6000 quân ở vùng Bắc Giang
dựng cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Mạc. Đến năm 1525, nghĩa quân yếu thế, Cụ uống thuốc độc tuẫn
tiết. Năm sau Mạc Đặng Dung đoạt hẳn ngôi nhà Lê, xem cụ là người trọng nghĩa nên đã cho rước hài cốt
cụ về chôn ở làng và ban sắc, phong tước hầu cho cụ, nhưng sắc ấy khi rước về đến chợ Dầu thì bỗng
bùng cháy mất. Mọi người kinh sợ cho là hồn cụ linh thiêng, không thèm nhận sắc phong của Ngụy Mạc.
Đến năm Bính Ngọ (1666 - Cảnh Trị tứ niên) vua Lê Huyền Tôn bao phong cụ là: Tiết nghĩa Đại Vương -
cho thụy là Trung Hiến, lập đền thờ ở làng Hương Mạc (tức đền bây giờ hay gọi là Miễn).
Đời vua Cảnh Trị thứ 3 (1670): Vua Lê Huyền Tông cho khắc dựng văn bia đền thờ cụ Đàm Thận Huy.
Sau đó cụ lại được các triều gia phong : Thượng đẳng toàn đức, Tuý hạnh, Cẩm tiết, Chính dung, Phù
nguy, Chường hoãn, Đại vương.
Năm 1949, do yêu cầu tiêu thổ kháng chiến, đền thờ cụ Tiết phải tháo dỡ phân tán cho các gia đình con
cháu trong gia tộc để gìn giữ bảo quản.
Vào các năm 1952, 1962, 1982 các cụ trong họ đã xây dựng lại nhà thờ trên bằng những nguyên vật liệu
trước đây, có bổ sung một số nguyên liệu mới và trên nền móng cũ.
Đền thờ cụ Đàm Thận Huy cũng là nơi thờ cụ Tiết bà. Cụ là người họ Nghiêm - đỗ tiến sĩ đông khoa với
cụ Tiết ông.
Đền thờ gồm 2 nhà, 3 gian, 2 dĩ, kiểu chồng diềm, nền nhà và nhà không cao lắm. Chất liệu toàn bằng gỗ
lim và gạch ngói. Nhà tiền tế cửa gạch xây cao, cuốn tò vò.
cũng do vua ban tặng từ khi xây dựng ngôi đền này.
Đền thờ Thánh Thiên công chúa
Đền thờ Thánh Thiên công chúa
Đền thờ Thánh Thiên công chúa thuộc thôn Ngọc Lâm, xã Tân Mỹ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Thánh Thiên công chúa là một nữ tướng kiệt xuất nhất trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống Hán
hồi thế kỷ thứ nhất đầu công nguyên (40-43). Bà là con một gia đình dòng dõi lạc tướng thời Thục
Vương, vì bất hợp tác với giặc Hán nên đã trốn làm quan, đi ở chùa, quê tại Sứ Đông (Hải Dương ngày
nay). Thuở nhỏ, Thánh Thiên đã nổi tiếng thông minh, tài khéo. Lớn lên khi đất nước lầm than, tủi nhục
dưới ách thống trị ngoại bang, người con gái ấy nuôi trí lớn rửa hận cho non sông. Bà đã tập trung lực
lượng rèn quân mã, lập căn cứ, chờ thời cơ Bà đã bàn với cậu mình kế hoạch đuổi giặc và lập căn cứ,
đồn trại ở Kỳ Hợp (Lạng Giang) và Ngọc Lâm (Yên Dũng).
Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra quyết liệt, căn cứ Kỳ Hợp bị bao vây, căn cứ Ngọc Lâm bị phong
tỏa. Rồi ngọn cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng dựng lên, hào kiệt khắp nơi kéo đến, trong đó có nữ tướng
Thánh Thiên. Các căn cứ của giặc ở vùng Hải Dương, Đông Triều, Bắc Giang đã bị lực lượng của bà quét
sạch. Bà cùng phối hợp đánh thành Luy Lâu, giải phóng đất nước.
Trưng Trắc xưng vương, dựng lập triều chính. Thánh Thiên công chúa được trao trọng trách trấn giữ tiền
đồn biên ải phía Bắc, án ngữ con đường Thiên Lý xuống Trung Châu. Bà đã kéo quân về Ngọc Lâm hạ
trại, xây dựng căn cứ.
3 năm sau, vua Hán sai Phục Ba tướng quân là Mã Viện và Lưu Long đem 30 vạn quân kéo sang ăn cướp
nước ta. Nữ tướng Lê Chân chặn đánh chúng ở cửa biển Hải Phòng -Vân Đồn. Nữ tướng Thánh Thiên
cản phá giặc ở vùng biên ải, Đông Bắc đến vùng hồ Lãng Bạc (gồm một phần huyện Yên Dũng, Quế Võ
đến lòng chảo Gia Lương, Thuận Thành ngày nay). Nhiều trận huyết chiến xảy ra, kẻ thù lực đông thế
mạnh đã làm chủ chiến trường. Hai Bà Trưng tử trận tại Sông Hát. Tại căn cứ của mình ở Lạng Giang,
Yên Dũng, Thánh Thiên đã bẻ gãy nhiều trận tập kích của kẻ thù và kéo quân xuống đồng bằng giải vây
cho Trưng Trắc. Tình thế hiểm nghèo, Hai Bà đã chết. Thánh Thiên tung quân cản phá vòng vây trùng
điệp của kẻ thù, lui về giữ căn cứ của mình ở Ngọc Lâm (Yên Dũng).
Bọn giặc tập trung lực lượng tiêu diệt quân ta. Những cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra hết sức khốc
liệt tại căn cứ Ngọc Lâm. Thế cùng, lực kiệt, Thánh Thiên đã phi ngựa xuống sông, giữ trọn lời thề non
nước. Nơi Bà tuẫn tiết, ngày nay nhân dân gọi là Bến Ngọc -cạnh đền Hạ.
Để tưởng nhớ công ơn vị anh hùng đã bỏ mình vì nước, người đời sau đã lập đền thờ bà tại Ngọc Lâm
Mậu Hợp). Sau đó ông về trí sĩ tại quê nhà. Khi ông Thượng thư quốc lão Đàm Cư được nhà vua cho về
hưu trí, vua sai làm phú độ (nhà cho quan ở) cho ông tại quê hương và xây dựng hương ấp ở Vân Điềm
(Đông Anh bây giờ). Cũng thời gian này ông Đàm Đình cư đã mở trường dạy học ở Hoa úc (tức vườn
giảng-xóm Ngô tiền bây giờ, cách nhà thờ hiện nay khoảng 200m).
Năm Tân Tị ông tạ thế, thọ 73 tuổi.
Đền thờ Thế quận công được xây dựng lại từ năm Khải Định 1917, ở giữa xóm Nô Tiền, thôn Hương
Mạc, cho tới nay (71 năm) nó vẫn đứng uy nghi trầm mặc trên mảnh đất xưa. Đền được kiến trúc tương
đối đồ sộ, theo kiểu lồng tàn-tứ bát trụ, mặt tiền nhìn về phía Nam. Khung nhà cột kèo chủ yếu làm bằng
gỗ lim, riêng 2 vì hồi là bằng xoan, kết cấu kiến trúc các vì cơ bản giống nhau. Chạm khắc ở đền Thế
quận công tuy không phong phú, đa dạng nhưng nghệ thuật khá điêu luyện, tinh xảo. Các hình chạm khắc
ở cốn, ở cửa võng, câu đầu, thượng lương thể hiện hình tượng tứ linh, tứ qú Các bức chạm rồng ở đây�
khá độc đáo là thân rồng như hình đốt tre thân trúc, nghệ thuật chạm khắc chủ yếu mang sắc thái nghệ
thuật thời Nguyễn.
Bên trong đền thờ thế quận công hiện nay còn có nhiều hiện vật qúy giá. Đó là hệ thống hoành phi, câu
đối, đại tự rất phong phú bài trí trong đền thờ. Đặc biệt ở đây còn lưu giữ được những hiện vật có từ khi
xây dựng ngôi đền tiền cổ đến nay-đó là án thờ, ngai thờ mang sắc thái nghệ thuật chạm khắc thời Lê
khá rõ nét. Ngoài ra trong di tích này còn có nhiều hiện vật khác như: Các loại đồ thờ, bát hương, giá văn,
cây đèn, đài nước, đài rượu và bộ bát bửu sơn son thếp vàng rực rỡ.
Đây là một di tích lưu niệm danh nhân văn hóa.
Đền thờ Trần Quý Cáp
Đền thờ Trần Quý Cáp
Đền thờ Trần Quý Cáp hiện ở khóm Dinh Thành, thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh
Hòa.
Di tích nằm trên khu vực gò Chết Chém thuộc cầu Sông Cạn, một địa danh quen thuộc với nhân dân
Khánh Hòa.
Đền thờ Trần Quý Cáp được xây dựng vào khoảng tháng 8/1970 do một số nhân sĩ trí thức ở Khánh Hòa
đề xướng và trực tiếp chỉ đạo, nhằm kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông.
Đền thờ này được xây dựng trên phần đất có tên gọi là Gò Chết Chém. Địa danh này có là do khu vực này
từ năm 1886, thực dân Pháp đã dùng làm nơi xử tử các chiến sĩ yêu nước Khánh Hòa trong phong trào
Cần Vương cuối thế kỷ XIX. Tại đây chúng đã xử chém Trịnh Phong, Nguyễn Khanh là những thủ lĩnh
đế quốc giết hại suốt từ năm 1886 đến 1975. Bởi lẽ đó, đền thờ này không chỉ thờ riêng Trần Quý Cáp mà
còn thờ các tướng lĩnh trong phong trào Cần Vương chống Pháp ở Khánh Hòa cuối thế kỷ XIX và có
những chiến sĩ cách mạng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
vừa qua. Đền thờ này được xây dựng năm 1970, khi đó tổ quốc chưa được thống nhất, hòa bình càng có ý
nghĩa thiết thực đề cao tấm gương của những người hy sinh vì tổ quốc.
Hàng năm đến này 5/5 là nhân dân lập tập trung tế lễ, nhang đèn ở di tích này, kỷ niệm ngày mất của Trần
Quý Cáp.
Tình trạng của di tích này đến nay vẫn còn tốt và vẫn được sửa sang, bảo quản luôn.
Đền Vàng
Đền Vàng
Đền Vàng nằm trên khu đất cao đẹp ở xã Gia Xuyên, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Hưng.
Đền Vàng là nơi thờ gia đình bà Đào Dung Nương, có công trong thời Lý. Đền Vàng là một di tích lịch
sử.
Trước đây chỉ có một gian miếu thờ là xây, còn lại là ba gian nhà tranh, chủ yếu thờ mẫu (bà mẹ đẻ của
ông), 6 nhà thờ tại đình làng và công chúa thờ tại phủ Ngọc. Đến năm Khải Định - Đinh t thì xây to. �
Trong kháng chiến chống Pháp, giặc phá hết đình chùa, nhân dân tập trung cả 6 ông về đình cùng với
Tiên Châu công chúa để hương khói. Khi chùa Bến bị phá, nhân dân tập trung tượng Phật vào một gian
đầu để lễ.
Trước cổng đền dựng một tấm bia đá ghi tên những người công đức cho đền. Cổng đền vào sân ta gặp
một tác môn xâ đằng sau tác môn là cột cờ. Bên phía trong lát gạch vào đến tận cửa đền. �
Đền kiến trúc theo kiểu ngoại công, nội quốc, gồm có 3 phần chính: Đền ngoài, ống muống và gia vũ.
Đền trong và hậu cung.
- Đền ngoài gồm có 5 gian, kiến trúc gỗ lim, hợp ngói. Trên nóc nhà có hai hai con rồng chầu mặt nguyệt.
Bờ mái có lân, có nghê.
- Trong đền các vì kèo đền có trạm trổ trúc, long phượng khá tỷ mỉ. Gian giữa có bức đại tự lớn.
Đặc trưng của 5 gian ngoài là kiến trúc thời Nguyễn.
Gian đầu phía Đông hiện nay dành để thờ Phật mang từ chùa Bến về gồm có Thích Ca và một số tượng.
Nối với hậu cung là gian ống muống, kiến trúc đao tầu chéo góc. Đi từ đền ngoài vào đền trong không sợ
mưa nắng vì có ống muống này. Gian ống muống này chỉ treo có một cuốn thư sơn son thiếp vàng và ghi
mấy dòng chữ Hán : "Khải Định Quý Hợi niên", "Hà Hải phiên di cung tiến".
tướng họ Chu vốn là thợ rèn người làng và vợ là Công chúa Nguyệt Minh. Năm tháng đã qua đi nhưng
Bến Bà, nơi xuất quân của đạo dân binh địa phương, vẫn còn đó. Ruộng đất ven sông vẫn được coi là dấu
tích còn lại của những lũy đất do quân ta đắp nên dưới sự chỉ đạo của Lý Thường Kiệt đã ngăn giặc Bắc.
Di tích bao gồm một vùng ven sông Như Nguyệt, trước kia không có đê, nay đã chạy qua khu di tích, chia
di tích làm hai phần, phần trong đê có đền Vọng Nguyệt, phần ngoài đê có Bến Bà và Ruộng đất. Trải qua
gần nghìn năm, ruộng đất chỉ còn lại những gò cao chạy theo mép sông, không có cây cối, ngày nay là
nơi dân làng lấy đất làm gạch. Bến Bà có thay đổi ít nhiều. Tại đây hàng năm, để tưởng nhớ võ công oanh
liệt thủa ấy, dân Vọng Nguyệt tổ chức bơi chải (tháng 4 và 8 âm lịch ). Đền Vọng Nguyệt trong sông,
ngay trên nền nhà của người thợ rèn Chu Đình Dự thủa ấy, nay chỉ còn một nhà thượng ba gian hai chái.
Qua khảo sát có thể biết đền cũ làm theo kiểu chữ tam, mỗi nếp nhà có ba gian, hai chái. Các di vật trong
đền còn khá nguyên vẹn.
Đền Vọng Nguyệt là nơi thờ phò mã đô úy Chu Đình Dự và công chúa Nguyệt Minh con vua Lý Thái
Tôn. Đền còn chứa một số hiện vật quý như hương án gỗ sơn son thếp vàng, nồi hương đồng, đôi ngựa
thờ, tượng người giữ ngựa bằng gỗ, bia đá khắc năm (1642), ngai thờ, bài vị ông bà Lý Nguyệt Minh,
hoành phi câu đối ca ngợi công đức, hiển thánh của người được thờ, bức đại tự lớn ghi bốn chữ "Đạo lý
kim chi". Các hiện vật còn khá nguyên vẹn.
Đền Vọng Nguyệt hiện nay chỉ còn thượng điện gồm ba gian hai chái và hậu cung
Đền Xà
Đền Xà
Đền Xà - Ngã ba Xà thuộc xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc, cách thị xã Bắc Giang 39 km.
Đền Xà nằm ở giữa phòng tuyến sông Như Nguyệt, một phòng tuyến quân sự lớn của quân dân Đại Việt
thời Lý thế kỷ XI do Lý Thường Kiệt chỉ huy xây dựng trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm
lược năm 1077. Ngã ba Xà nằm đối diện với trại quân Triệu Tiết ở phía Tây phòng tuyến bên kia sông
Cầu. Ngã ba Xà cách bến Như Nguyệt hơn 1 cây số, nơi chứng kiến cuộc đổ bộ của quân Tống do Miêu
Lý cầm đầu bị quân dân Đại Việt đánh tan khi chúng lấn vào chưa đầy 3km. Nơi đây cũng chứng kiến
cuộc tấn công quyết định của quân đội Lý Thường Kiệt vượt sông tiêu diệt trại quân Triệu Tiết, phó
tướng của đạo quân xâm lược, buộc phải cuốn cờ về nước.
Tại ngã ba Xà còn lưu lại nền cũ của đền Xà, đền thờ hai anh em
Trương Hống - Trương Hát gắn với truyền tích về bài thơ thần của Lý Thường Kiệt. Đền hiện nay chỉ còn
nền trên gò đất cao ven sông. Qua khảo sát biết được đền xưa bằng tre nứa lợp tranh, sau xây bằng gạch
Tức, Cô Tô, Ô lâm nếu mất Đồi Tức Dụp thì ta sẽ mất 171.000 trái tim của nhân dân 2 huyện Tri Tôn
và Tịnh Biên đang hướng về cách mạng.
Bọn địch hạ quyết tâm chiếm bằng được Đồi Tức Dụp. Để khống chế được toàn bộ vùng Đồng Tràm (Hà
Tiên), Núi Dài (An Thành), Ba Chức, Thoại Sơn và ngăn cách lực lượng của ta sang biên giới
Campuchia, địch huy động lực lượng lớn, vũ khí tối tân, sử dụng các sư đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn Trâu
Điên (biệt kích), các liên đoàn biệt động quân, các lực lượng chư hầu như Trung đoàn Nam Triều Tiên và
các lực lượng địa phương quân khác.
Ngày 8/5/1968 địch tập trung cao điểm đánh vào Đồi Tức Dụp. Chúng tập trung mấy sư đoàn, dùng hỏa
lực mạnh gồm 120 xe tăng, 14 trận địa pháo, mỗi trận 9 khẩu được bố trí xung quanh đồi.
Ngày 20, 21/5/1969, Thiệu mở Hội nghị các tướng tá, ra lệnh cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh
quân khu IV và các sư trưởng sư đoàn 7, 9, 21 và các tư lệnh biệt động quân trong vào ngày phải chiếm
bằng được Đồi Tức Dụp.
Đầu tháng 6/1969, địch mở đợt 2 tấn công ta, chia thành 13 mũi, trên thì đổ quân đánh xuống, dưới đánh
lên.
Lực lượng của ta gồm có 73 du kích, 1 trung đội địa phương, 1 trung đội đặc công, một số biệt
động của Tri tôn và ban ngành của huyện. Ta đánh địch bằng trái gài, trái ném và đánh lối du
kích, các mũi tấn công của địch bị ta đẩy lùi. Tháng 8/1969 tướng 2 sao của Mỹ cùng Thiệu
gom tướng tá ở Tri Tôn đặt đồi Tức Dụp 2 tỷ đô la và ra lệnh chiếm đồi đến đâu vẽ chữ đến đó,
ai vẽ được chúng tặng thưởng. Tháng 12
Đình Đại Vi
Đình Đại Vi
Di tích lịch sử văn hóa đình Đại Vi nằm tại trung tâm của làng Đại Vi và kề bên đường liên xã
179. Tuy vào thế trung tâm nhưng di tích lại cách rời các xóm trong làng, do vậy có mặt bằng
khá rộng và thoáng. Đình Đại Vi thờ ba vị tướng Trưng Ngọ, Trưng Mai và Bạch Đa, có công
phò giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 xứ quân, thống nhất đất nước thế kỷ thứ X
Đình Bình Thủy
Đình Bình Thủy
Đình Bình Thủy, tên cũ là Đình Thần Long. Truyền là di tích kiến trúc nghệ thuật, thuộc phường Bình
Thủy, thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang. Sở dĩ có sự đổi tên như vậy là vì: Lúc khởi nguyên, Đình có
tên là Bình Thủy. Đến đầu thế kỷ XX, Bình Thủy đổi tên là Long Tuyền (bởi rạch Bình Thủy có hình tựa