MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với đặc thù nền kinh tế thị trường nước ta đang trong giai đoạn đầu phát
triển đã tạo ra tính đa dạng về loại hình hoạt động; mô hình tổ chức; hình thức
vốn chủ sở hữu cũng như sự phong phú về các hoạt động của các tổ chức kinh
tế. Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào
nền kinh tế khu vực và quốc tế thể hiện ở việc Việt Nam đã và đang là thành
viên của các tổ chức kinh tế - thương mại thế giới WTO, AFTA, APEC.
Trước tình hình đó, đòi hỏi kế toán với vai trò là công cụ quản lý kinh tế quan
trọng của doanh nghiệp phải hoà nhập từng bước với các thông lệ quốc tế.
Chính sách thuế được sử dụng để khuyến khích hay hạn chế việc sản
xuất, nhập khẩu hay tiêu dùng một loại hàng hóa nào đó. Thuế trở thành công
cụ tài chính được Nhà nước sử dụng để điều tiết thị trường vô cùng nhanh,
nhạy. Trong số những sắc thuế hiện nay thì thuế TNDN là một sắc thuế được
Nhà nước và các DN đều rất quan tâm.
Thuế TNDN là loại thuế trực thu (nhà nước thu trực tiếp nơi Người chịu
thuế) đánh vào phần thu nhập của DN sau khi trừ đi chi phí liên quan đến thu
nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ. Thuế TNDN ảnh hưởng đến lợi
ích sát sườn của DN nên DN luôn luôn đầu tư nghiên cứu thuế TNDN để
giảm thiểu chi phí phải bỏ ra để nộp thuế.
Ngày 15/02/2005 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký quyết định số 12/2005/
QĐ-BTC ban hành và công bố 06 CMKT đợt IV, trong đó có CMKT số 17
“Thuế thu nhập doanh nghiệp” được coi là chìa khoá quan trọng giúp các
doanh nghiệp giải quyết các vướng mắc gặp phải khi hạch toán thuế thu nhập
DN. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử kế toán của Việt Nam có một CMKT
quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc, phương pháp kế toán thuế thu nhập
doanh nghiệp một cách đầy đủ, phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế. Tuy
nhiên trong giai đoạn hiện nay khó khăn mà các DN gặp phải là làm thế nào
để có thể tuân thủ và vận dụng có hiệu quả các chuẩn mực kế toán (26 chuẩn
mực); với việc bổ sung một số tài khoản mới phản ánh nội dung nghiệp vụ
kinh tế mới, và nhiều thuật ngữ mới khó hiểu, đặc biệt là chuẩn mực kế toán
sát, tổng kết thực tiễn. Trên cơ sở đó Luận văn sử dụng tổng hợp các phương
pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, chứng minh để nghiên cứu kết quả khảo sát
đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Các phương pháp kỹ thuật cụ thể
trong quá trình nghiên cứu Luận văn là: điều tra, khảo sát, phỏng vấn, chọn mẫu,
và dùng sơ đồ, biểu mẫu kết hợp với diễn giải, phân tích để trình bày kết quả
nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Luận văn hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về đặc điểm của
kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp
- Qua khảo sát, đánh giá thực trạng kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp
tại các DN lớn và các DN vừa và nhỏ hoạt động trong các lĩnh vực thương
mại và sản xuất, xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Từ đó, đưa ra các giải
pháp nhằm hoàn thiện kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp trong các doanh
nghiệp Việt Nam.
- Luận văn đề xuất một số quan điểm, giải pháp và điều kiện cơ bản cần
thực hiện để hoàn thiện kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp trong các doanh
nghiệp Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp trong các
doanh nghiệp Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện kế toán thuế thu nhập doanh
nghiệp trong các doanh nghiệp Việt Nam.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP
1.1. Lý luận chung về thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò thuế thu nhập doanh nghiệp
Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế nói chung
và thuế TNDN nói riêng, nó phân biệt thuế TNDN với các hình thức huy
động tài chính khác của ngân sách Nhà nước.
Đặc điểm này xác định rõ nội dung kinh tế của thuế TNDN là những
quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc
biệt - Việc động viên mang tính bắt buộc của Nhà nước. Phân phối mang tính
chất bắt buộc dưới hình thức thuế TNDN là một phương thức phân phối của
Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của doanh
nghiệp được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát
hoặc những quyền lợi nào khác cho NNT.
Thứ ba, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế thu nhập doanh
nghiệp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế TNDN được biểu hiện trên
các khía cạnh.
Một là, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính đối
giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà
nước không hoàn toàn dựa trên mức độ NNT thừa hưởng những dịch vụ và
hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp. NNT cũng không có quyền đòi
hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hoá dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình
mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho Nhà nước, mặt khác mức độ
cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiết ngang bằng
mức độ chuyển giao.
Hai là, khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN không
được hoàn trả trực tiếp, có nghĩa là NNT suy cho cùng sẽ nhận được một phần
các dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng giá trị
phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp
cho Nhà nước.
Thứ tư, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế TNDN được quy
định trước bằng pháp luật.
Đặc điểm này, một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế TNDN, mặt
vai trò đầu tiên của thuế TNDN là bảo đảm một nguồn thu ổn định và không
nhỏ cho NSNN thông qua việc ngày càng mở rộng đối tượng chịu thuế, có
khả năng bao quát được hầu hết các nguồn thu nhập phát sinh trong điều kiện
nền kinh tế ngày càng phát triển, xuất hiện nhiều loại hình thu nhập phức tạp
và tinh vi hơn trước.
Thứ hai, thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc
quản lý vĩ mô nền kinh tế, điều tiết các hoạt động kinh doanh.
Thông qua hệ thống ưu đãi về thuế suất, miễn giảm thuế, thuế TNDN
góp phần định hướng cho các Nhà Đầu tư đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn mà
Nhà nước cần khuyến khích đầu tư, từ đó thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế, chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý,
thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời
kỳ.
Thứ ba, thuế TNDN thể hiện vai trò đặc trưng của thuế là đảm bảo công
bằng xã hội.
Là sắc thuế trực thu, thuế TNDN có khả năng đảm bảo công bằng theo
chiều dọc: đối tượng nộp thuế có thu nhập chịu thuế cao thì nộp thuế nhiều,
đối tượng nộp thuế có thu nhập thấp thì nộp thuế ít. Đối tượng nộp thuế gặp
khó khăn thì được giảm thuế, được chuyển lỗ sang những năm sau...thuế
TNDN có nhiều mức thuế suất ưu đãi khác nhau. Trong điều kiện kinh tế thị
trường cạnh tranh, thu nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc chủ yếu
vào việc cung cấp các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ....). Sự phân
hóa giàu nghèo là điều không thể tránh khỏi. Trong hoàn cảnh đó, thuế thu
nhập sẽ là một biện pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các
thành viên trong xã hội.
Thứ tư, thuế TNDN là công cụ thúc đẩy việc nâng cao trình độ hạch
toán kế toán đối với các đối tượng nộp thuế.
Theo Luật thuế TNDN, các đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ tự kê khai
và tính số thuế phải nộp, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về các số liệu kê
khai, tính toán đó. Sự trung thực, chính xác của số liệu phụ thuộc rất lớn vào
xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân,
cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ.
Đối với các cá nhân trong nước SXKD hàng hóa, dịch vụ (gồm cá nhân
và nhóm cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh cá thể, cá nhân hành nghề độc
lập như bác sĩ, luật sư, kế toán, kiểm toán, họa sĩ, kiến trúc sư, nhạc sĩ và cá
nhân hành nghề độc lập khác; cá nhân cho thuê tài sản như nhà, đất, phương
tiện vận tải...). Đối với cá nhân nước ngoài kinh doanh có thu nhập phát sinh
tại Việt Nam hay công ty ở nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở
thường trú tại Việt Nam (chi nhánh, nhà máy, phương tiện vận tải, kho giao
nhận hàng hóa... cơ sở cung cấp dịch vụ; đại lý cho công ty ở nước ngoài, đại
diện cho công ty ở nước ngoài) cũng thuộc phạm vi áp dụng được quy định
tại Nghị định này.
1.1.2.2. Căn cứ để tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế và thuế
suất.
Kỳ tính thuế TNDN được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài
chính.
Thu nhập chịu thuế được xác định bao gồm thu nhập từ hoạt động
SXKD hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác trong kỳ tính thuế, kể cả thu nhập
thu được từ hoạt động SXKD hàng hóa, dịch vụ ở nước ngoài.
TNCT trong
kỳ tính thuế =
Doanh thu để tính
TNCT trong kỳ
tính thuế
-
Chi phí
hợp lý
trong kỳ
Thứ nhất, Doanh thu để tính TNCT trong kỳ tính thuế
Theo điều 8 của Luật thuế TNDN năm 2003: ”doanh thu để tính thu
nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ,
kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng; trường hợp
có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hối
đoái do NHNN Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu và ngoại
tệ”.
Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được quy định
trong Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/2/2007 như sau:
- Đối với hàng hoá là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá
hoặc xuất hoá đơn bán hàng.
- Đối với dịch vụ là thời điểm dịch vụ hoàn thành hoặc xuất hoá đơn bán
hàng.
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp được xác
định :
- Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp, được xác định theo giá
bán hàng hoá trả tiền một lần, không bao gồm tiền lãi trả chậm.
- Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở kinh doanh làm ra dùng để trao đổi,
biếu tặng, trang bị, thưởng cho người lao động được xác định theo giá bán của
hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm
trao đổi, biếu tặng, trang bị, thưởng cho người lao động.
- Đối với hàng hoá dịch vụ dùng để trao đổi, biếu tặng, vì DN vừa là
“người bán hàng” vừa là “người mua hàng” (mua để biếu tặng) nên giá trị của
các hàng hoá, dịch vụ này phải được tính vào doanh thu để tính thu nhập chịu
thuế. Tuy nhiên, do không có hoá đơn bán hàng nên hàng hoá dịch vụ này
phải được xác định theo giá bán sản phẩm hàng hoá dịch vụ cùng loại hoặc
tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi, biếu tặng để đảm bảo đánh
giá khách quan, đúng đắn kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở kinh doanh làm ra tự dùng để phục
vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh như: điện tự dùng, sản phẩm sản xuất ra
theo chế độ để nhanh chóng đổi mới công nghệ. Bộ Tài chính quy định tiêu
chuẩn tài sản cố định và mức trích khấu hao quy định tại điểm này;
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa thực tế
sử dụng vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ liên quan đến doanh thu
và thu nhập chịu thuế trong kỳ được tính theo mức tiêu hao hợp lý và giá thực
tế xuất kho;
- Tiền lương, tiền công, phụ cấp theo quy định của Bộ luật lao động, tiền
ăn giữa ca, trừ tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ cá
thể kinh doanh và thu nhập của sáng lập viên công ty không trực tiếp tham gia
điều hành sản xuất, kinh doanh;
- Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ; sáng kiến, cải tiến; y tế; đào
tạo lao động theo chế độ quy định; tài trợ cho giáo dục;
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: điện, nước, điện thoại; sửa chữa tài sản cố
định; tiền thuê tài sản cố định; kiểm toán; dịch vụ pháp lý; thiết kế, xác lập và
bảo vệ nhãn hiệu hàng hoá; bảo hiểm tài sản; chi trả tiền sử dụng tài liệu kỹ
thuật, bằng sáng chế, giấy phép công nghệ không thuộc tài sản cố định; dịch
vụ kỹ thuật và dịch vụ mua ngoài khác;
- Các khoản chi cho lao động nữ theo quy định của pháp luật; chi bảo hộ
lao động hoặc trang phục; chi bảo vệ cơ sở kinh doanh; chi công tác phí; trích
nộp quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của cơ sở kinh
doanh sử dụng lao động; kinh phí công đoàn; chi phí hỗ trợ cho hoạt động của
Đảng, đoàn thể tại cơ sở kinh doanh; khoản trích nộp hình thành nguồn chi
phí quản lý cho cấp trên và các quỹ của hiệp hội theo chế độ quy định;
- Chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của
ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, của các tổ chức kinh tế theo lãi suất
thực tế; chi trả lãi tiền vay của các đối tượng khác theo lãi suất thực tế khi ký
hợp đồng vay, nhưng tối đa không quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay của ngân
hàng thương mại tại thời điểm vay;
- Trích các khoản dự phòng theo chế độ quy định;
- Trợ cấp thôi việc cho người lao động;
quyền tác giả;
- Thu nhập khác về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản;
- Thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất;
- Lãi từ chuyển nhượng, thanh lý tài sản;
- Lãi tiền gửi, cho vay vốn, lãi bán hàng trả chậm;
- Chênh lệch do bán ngoại tệ, lãi về chênh lệch tỷ giá hối đoái;
- Kết dư cuối năm các khoản dự phòng theo chế độ quy định;
- Thu các khoản nợ phải thu khó đòi đã xóa sổ kế toán nay đòi được;
- Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ nợ;
- Các khoản thu nhập từ sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của
những năm trước bị bỏ sót mới phát hiện ra;
- Các khoản thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ ở nước ngoài.
Trường hợp khoản thu nhập nhận được đã nộp thuế ở nước ngoài thì cơ
sở kinh doanh phải xác định số thu nhập trước khi nộp thuế thu nhập ở nước
ngoài để tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Khi xác định số thuế thu nhập cả
năm sẽ được trừ số thuế thu nhập mà cơ sở kinh doanh đã nộp ở nước ngoài
nhưng số thuế được trừ không vượt quá số thuế thu nhập tính theo Luật Thuế
thu nhập doanh nghiệp cho khoản thu nhập nhận được đó.
- Các khoản thu nhập liên quan đến việc tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch
vụ không tính trong doanh thu, sau khi đã trừ các khoản chi phí theo quy định
của Bộ Tài chính để tạo ra khoản thu nhập đó;
- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn;
- Các khoản thu nhập khác chưa được quy định chi tiết tại Điều này.
1.1.2.3. Đăng ký kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế TNDN:
Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm đăng ký thuế TNDN cùng với việc
đăng ký nộp thuế GTGT (theo quy định).
CSKD có trách nhiệm kê khai doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế, số
thuế phải nộp cả năm, có chia ra từng quý (theo mẫu) và nộp cho cơ quan
thuế trực tiếp quản lý (theo quy định).
vực ưu đãi đầu tư hay lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư) và theo địa bàn thực
hiện dự án đầu tư (thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó
khăn hay địa bàn đặc biệt khó khăn) theo quy định của Luật Đầu tư.
Tùy theo điều kiện ưu đãi trên, thuế suất ưu đãi và thời gian áp dụng
mức thuế suất thuế TNDN ưu đãi được áp dụng cụ thể cho từng CSKD. Theo
quy định của Nghị định này có các mức thuế suất và thời gian áp dụng mức
thuế suất tương ứng như sau: 20% trong thời gian 10 năm; 15% trong thời
gian 12 năm và 10% trong 15 năm.
Hết thời gian áp dụng mức thuế suất ưu đãi theo quy định trên thì CSKD
phải nộp thuế TNDN với thuế suất 28%.
Các cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư, hoặc CSKD mới di
chuyển địa điểm ra khỏi đô thị theo quy hoạch được miễn thuế, giảm thuế.
Quy định miễn và giảm cụ thể cũng căn cứ vào điều kiện được miễn, giảm
nhất định. Cụ thể, với mức miễn thuế 2 năm, 3 năm hoặc 4 năm kể từ khi có
thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 2 năm tiếp theo; 3 năm;
6 năm; 7 năm và 9 năm tiếp theo đối với từng trường hợp cụ thể của cơ sở
kinh doanh mới thành lập.
Đối với CSKD đang hoạt động có đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất
mới, mở rộng quy mô; đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái;
nâng cao năng lực sản xuất thì được miễn, giảm cho phần thu nhập tăng thêm
do đầu tư này mang lại. Ở đây cũng quy định mức áp dụng đối với từng loại
dự án đầu tư theo ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư quy định
của Luật Đầu tư, với mức được áp dụng cho 6 trường hợp cụ thể:
Miễn 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tương
ứng cho 3 năm, 4 năm, 5 năm, 7 năm tiếp theo. Riêng đối với dự án đầu tư lắp
đặt dây chuyền sản xuất mới tuy không thuộc ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn
khuyến khích đầu tư như trên thì cũng được miễn 1 năm và giảm 50% số thuế
phải nộp cho 2 năm tiếp theo.
CSKD được miễn thuế TNDN còn được áp dụng cho các phần thu nhập
có được trong nhiều trường hợp cụ thể khác (thực hiện hợp đồng nghiên cứu
định
Chuẩn mực này yêu cầu doanh nghiệp phải kế toán các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh do ảnh hưởng về thuế thu nhập doanh nghiệp của các giao dịch và
các sự kiện theo cùng phương pháp hạch toán cho chính các giao dịch và sự
kiện đó. Nếu các giao dịch và sự kiện được ghi nhận trong Báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh thì tất cả các nghiệp vụ phát sinh do ảnh hưởng của
thuế thu nhập doanh nghiệp có liên quan cũng được ghi nhận vào Báo cáo kết
quả kinh doanh. Nếu các giao dịch và các sự kiện được ghi nhận trực tiếp vào
vốn chủ sở hữu thì tất cả các nghiệp vụ phát sinh do ảnh hưởng của thuế thu
nhập doanh nghiệp có liên quan cũng được ghi nhận trực tiếp vào vốn chủ sở
hữu.
Chuẩn mực này còn đề cập đến vấn đề ghi nhận tài sản thuế thu nhập
doanh nghiệp hoãn lại phát sinh từ các khoản lỗ tính thuế chưa sử dụng hoặc
từ các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp chưa sử dụng; việc trình bày thuế
thu nhập doanh nghiệp trong báo cáo tài chính và việc giải trình các thông tin
liên quan tới thuế thu nhập doanh nghiệp.
Theo VAS 17 thì thuế thu nhập hiện hành và thuế thu nhập hoãn lại
được ghi nhận là thu nhập hay chi phí để tính lãi, lỗ của kỳ phát sinh, ngoại
trừ trường hợp thuế thu nhập phát sinh từ một giao dịch hoặc một sự kiện
được ghi nhận trực tiếp vào vốn chủ sở hữu trong cùng kỳ hay một kỳ khác.
* Nguyên tắc xác định cơ sở tính thuế của tài sản
Theo VAS 17, “Cơ sở tính thuế thu nhập của một tài sản là giá trị sẽ
được khấu trừ cho mục đích thuế thu nhập, được trừ khỏi các lợi ích kinh tế
mà doanh nghiệp sẽ nhận được và phải chịu thuế thu nhập khi giá trị ghi sổ
của tài sản đó được thu hồi”. Trong hệ thống tài sản kế toán của Việt Nam, tài
sản gồm 7 loại chính: Tiền, các khoản đầu tư tài chính, các khoản phải thu,
hàng tồn kho, tài sản lưu động khác, tài sản cố định, các tài sản dài hạn khác.
Trong đó, hướng dẫn VAS 17 chia các khoản mục này thành các tài sản phát
sinh từ các giao dịch có ảnh hưởng đến thu nhập hoặc chi phí để xác định kết
quả kinh doanh trong năm tại thời điểm phát sinh giao dịch và các tài sản phát
không được coi là tài sản lẫn nợ phải trả như chi phí mua sắm công cụ, dụng
cụ có giá trị lớn không qua kho mà hạch toán thẳng vào chi phí kinh doanh
trong kỳ, những cơ quan thuế coi đó là một khoản khấu trừ cho các kỳ. Khi
đó, cơ sở thuế của nó là giá trị mà cơ quan thuế cho phép được khấu trừ trong
kỳ tương lai.
1.2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến thuế thu nhập doanh nghiệp
Chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn
VAS 17 định nghĩa” Chênh lệch tạm thời” là khoản chênh lệch giữa giá
trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hay nợ phải trả trong bảng cân đối kế
toán và cơ sở tính thuế thu nhập của các khoản mục này. Sự khác biệt giữa
hai loại chênh lệch này chủ yếu là do thời gian. Thông tư hướng dẫn thực hiện
đã nêu rõ “Các khoản chênh lệch tạm thời là chênh lệch phát sinh do sự khác
biệt về thời điểm doanh nghiệp ghi nhận thu nhập hoặc chi phí và thời điểm
pháp luật về thuế quy định tính thu nhập chịu thuế hoặc chi phí được khấu trừ
khỏi thu nhập chịu thuế”. Ví dụ trường hợp khấu hao nhanh tài sản cố định
không theo mức mà cơ quan thuế yêu cầu. Chênh lệch vĩnh viễn, như tiền
phạt hay khoản cổ tức được khấu trừ thuế tại nguồn, “là chênh lệch giữa lợi
nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế phát sinh từ các khoản doanh thu, thu
nhập khác, chi phí được ghi nhận vào lợi nhuận kế toán nhưng lại không được
tính vào thu nhập, chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN”. Do đó,
theo thời gian các khoản chênh lệch tạm thời sẽ được khấu trừ hết trong chi
phí và thu nhập của doanh nghiệp, còn khoản chênh lệch vĩnh viễn là những
khoản mà doanh nghiệp không được khấu trừ để tính thuế.
Chênh lệch tạm thời gồm hai loại: Chênh lệch tạm thời phải chịu thuế
và chênh lệch tạm thời được khấu trừ. Theo VAS 17, chênh lệch tạm thời phải
chịu thuế TNDN “là các khoản chênh lệch tạm thời làm phát sinh thu nhập
chịu thuế TNDN trong tương lai khi mà giá trị ghi sổ của các khoản mục tài
sản hoặc nợ phải trả liên quan được thu hồi hay được thanh toán”. Có thể dễ
dàng nhận thấy, số lượng khoản mục làm phát sinh loại chênh lệch này không
ít do thời điểm phát sinh thu nhập chịu thuế là trong tương lai, khi giá trị ghi