Nguyên nhân loại bỏ phương pháp xác định lợi
nhuận bằng cách so sánh vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu quan trọng được sử dụng để đánh giá kết quả hoạt
động kinh doanh của DN trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này hiện tại chủ yếu được
xác định bằng phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí trên cơ sở kế toán dồn tích. Tuy
nhiên, nếu xét trên phương diện của lý luận kế toán thì lợi nhuận còn có thể được xác
định bằng cách so sánh giữa vốn chủ sở hữu cuối kỳ với vốn chủ sở hữu đầu kỳ.
Phương pháp xác định lợi nhuận trong kế toán
Theo lý luận kế toán, lợi nhuận có thể được xác định theo một trong hai phương pháp
sau: phương pháp so sánh vốn chủ sở hữu và phương pháp so sánh doanh thu với chi phí.
Phương pháp so sánh vốn chủ sở hữu.
Theo phương pháp này, lợi nhuận một kỳ kinh doanh được xác định bằng cách so sánh
giữa vốn chủ sở hữu cuối kỳ và cốn chủ sở hữu đầu kỳ. Công thức xác định lợi nhuận
theo phương pháp này như sau: lợi nhuận = Vốn chủ sở hữu cuối kỳ - Vốn chủ sở hữu
đầu kỳ (1).
Vốn chủ sở hữu được xác định bằng phần chênh lệch giữa tổng tài sản và nợ phải trả.
Cuối kỳ, trên cơ sở kết quả của kiểm kê, đánh giá tổng giá trị của tài sản và nợ phải trả
theo giá thị trường. Trong trường hợp vốn chủ sở hữu tăng lên hoặc giảm xuống do các
nghiệp vụ không liên quan đến lợi nhuận trong kỳ thì cần phải loại trừ ra khỏi vốn chủ sở
hữu cuối kỳ. Một số nghiệp vụ thuộc loại này như bổ sung vốn góp từ chủ sở hữu, rút vốn
hoặc phân phối lợi nhuận cho chủ sở hữu…Trong những tình huống này, lợi nhuận được
xác định theo công thức:
Lợi nhuận trong kỳ = Vốn chủ sở hữu cuối kỳ - Vốn chủ sở hữu đầu kỳ - Vốn chủ sở hữu
trong kỳ tăng lên không do tăng lợi nhuận + Vốn chủ sở hữu trong kỳ giảm xuống không
do phát sinh khoản lỗ (2)
Phương pháp này có những đặc điểm sau: Một là, toàn bộ tài sản, nợ phải trả được xác
định trên cơ sở giá hợp lý, không căn cứ vào giá vốn thực tế; Hai là, lợi nhuận được xác
định theo phương pháp này bao gồm cả lợi nhuận được thực hiện và lợi nhuận chưa được
thực hiện của kế toán dồn tích; Ba là, phù hợp với quan điểm của các nhà kinh tế về việc
xác định lợi nhuận.
Phương pháp so sánh giữa doanh thu và chi phí
xác định doanh thu theo số tiền và các khoản tương đương tiền từ nghiệp vụ bán hàng.
Như vậy, ngay từ những ngày đầu tiên ban hành Luật Thuế Thu nhập DN, lợi nhuận được
xác định theo phương pháp so sánh vốn chủ sở hữu đã không được công nhận. Hơn nữa,
sau này, doanh thu được xác định trên cơ sở thực hiện đã được chấp nhận như là một
phương án thay thế đối với phương pháp xác định doanh thu trên cơ sở tiền mặt. Tòa án
tối cao của Mỹ năm 1933 cũng xác định doanh thu để xác định thu nhập chịu thuế phải là
số tiền nhận được hoặc các khoản phải thu của khách hàng.
Thứ ba: Sự không tương xứng giữa mức thuế thu nhập cá nhân của cổ đông với số cổ tức
có thể được phân phối. Trong nhiều tình huống, số cổ tức có thể được chia từ lợi nhuận
tăng lên trong kỳ nhưng thực tế cổ đông chưa nhận được hoặc có quyền pháp lý nhận
được quyền lợi kinh tế tương ứng. Lý do là, lợi nhuận làm căn cứ phân chia cổ tức bao
gồm cả số lợi nhuận chưa được thực hiện do giá thị trường của tài sản tăng lên nhưng DN
vẫn chưa bán những tài sản này, trong khi, thuế thu nhập cá nhân lại tính cả phần cổ tức
của số lợi nhuận chưa được thực hiện đó. Tình hình trên đã dấn đến các cổ đông phản đối
việc đánh thuế thu nhập cá nhân của họ và yêu cầu chỉ đánh thuế thu nhập đối với số lợi
nhuận được tạo ra từ những nghiệp vụ trao đổi, tức là số thu nhập hay lợi nhuận đã được
thực hiện, tách biệt với số thu nhập chưa thực hiện.
Thứ tư: việc lạm dụng về phương pháp đánh giá tài sản vào những năm 1920 đã góp phần
làm tăng sự suy giảm kinh tế vào những năm 1930. Người ta cho rằng nguyên nhân dẫn
đến sự suy giảm kinh tế này một phần là do những quy định của kế toán cho phép đánh
giá tài sản của công ty cao hơn nhiều so với giá trị thực của nó. Giải quyết những chỉ
trích đưa ra, các kế toán gia áp dụng thái độ thận trọng hơn và nguyên tắc thực hiện trong
việc ghi nhận doanh thu là phương pháp để giải quyết tình huống này. Ủy ban Chứng
khoán Newyork và Viện Kiểm toán Hoa Kỳ ủng hộ tích cực nguyên tắc thực hiện và đặc
điểm ghi nhận doanh thu của nó, loại bỏ cách xác định lợi nhuận theo phương pháp đánh
giá tài sản, so sánh vốn chủ sở hữu cuối kỳ và vốn chủ sở hữu đầu kỳ.
Trong điều kiện kinh doanh hiện tại, nguyên tắc thực hiện trong ghi nhận doanh thu được
áp dụng rộng rãi và phổ biến đối với các DN kinh doanh. Tuy nhiên, trong lý luận kế
toán, còn nhiều phương pháp xác định lợi nhuận khác và những phương pháp đó đã từng
được áp dụng trong thực tế. Một trong những phương pháp đó là so sánh vốn chủ sở hữu.