Một số đề suất hoàn thiện phương pháp tính giá nguyên vật liệu nhập kho, xuất kho - Pdf 99

LỜI MỞ ĐẦU
Trong doanh nghiệp sản xuất thì chi phí NVL đầu vào rất lớn, cần phải
kiểm soát chi phí một cách hợp lí để không ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận.
Đồng thời, có kế hoạch dự trữ NVL tại kho để phục vụ sản xuất. Đối với số
NVL này, ngoài việc doanh nghiệp phải bảo quản tốt để tránh hư hỏng thì
doanh nghiệp cũng phải quản lí tránh hao hụt, mất mát. Doanh nghiệp phải có
các biện pháp theo dõi cả về số lượng và mặt giá trị của NVL trong kho, thông
qua việc theo dõi NVL nhập, xuất, tồn kho. Xuất phát từ yêu cầu của quản lí
NVL trong quá trình dự trữ và sử dụng hình thành công tác tính giá NVL.
Tính giá NVL là việc xác định giá trị ghi sổ của NVL nhập, xuất kho, chiếm
một vị trí quan trọng trong quá trình hoạt động và lập các BCTC của doanh
nghiệp. Nếu việc tính giá NVL có sai sót thì kết quả hoạt động của doanh
nghiệp bị phản ánh sai lệch và thông tin cung cấp cho các đối tượng quan tâm
cũng không chính xác, điều này có thể dẫn đến những quyết định sai lầm,
những thiệt hại không mong muốn. Vì vậy, tính giá là hoạt động thường
xuyên và đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp. Vì vậy em xin chọn đề
tài “Một số đề suất hoàn thiện phương pháp tính giá NVL nhập kho, xuất
kho”. Nghiên cứu đề tài giúp chúng ta thấy rõ được vai trò của công tác tính
giá, CMKT QT cũng như CMKT VN về tính giá, những bất cập trong lựa
chọn phương pháp tính giá.
PHẦN I: CƠ SỚ LÍ LUẬN VỀ TÍNH GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU
NHẬP KHO, XUẤT KHO
1.1. Tính giá NVL và bản chất của tính giá NVL
1.1.1. Tính giá NVL
Để ghi nhận và phản ánh được giá trị tiền tệ của tài sản vào sổ sách,
chứng từ, báo cáo kế toán sử dụng phương pháp tính giá.
Tính giá là phương pháp thông tin và kiểm tra về sự hình thành và phát
sinh chi phí có liên quan đến từng loại vật tư, sản phẩm, hàng hoá, tài sản và
dịch vụ.
Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động, thể hiện dưới dạng vật
hoá, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất vào tạo nên thực thể của sản

của chúng cho đến khi bán, sử dụng hàng đó. Mọi biến động giá thị trường
không bị ảnh hưởng cho đến khi sản phẩm đó được bán. Theo phương pháp
này trên bảng cân đối kế toán NVL không phản ánh sát với giá thị trường,
doanh nghiệp càng nắm giữ lâu số NVL này thì giá thị trường sẽ khác so với
giá gốc của NVL.
1.2.2. Phương pháp giá phí hiện tại
Theo phương pháp này, giá đơn vị của NVL phải ánh theo giá thị
trường hiện tại. Có hai phương pháp giá phí hiện tại đó là giá phí hiện tại
nhập vào thường gọi là giá phí thay thế và giá phí hiện tại xuất ra thường gọi
là giá trị thuần có thể thực hiện được. Khi doanh nghiệp phản ánh NVL theo
giá phí hiện tại thì đòi hỏi phải ghi nhận lãi hoặc lỗ do thay đổi đơn giá NVL
trong khoảng thời gian dự trữ đến lúc bán hàng đó. Trong khi theo phương
pháp giá phí lịch sử (giá gốc) thì NVL phản ánh các thông tin khách quan và
sát thực nhưng có thể không cập nhật thì phương pháp giá phí hiện tại cho
biết các thông tin cập nhật và có thể hữu ích hơn cho người sử dụng dạng
thông tin, nhưng việc xác định này sẽ gây khó khăn cho việc phản ánh và
kiểm soát. Theo nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận thì không cho phép
doanh nghiệp áp dụng phương pháp giá phí hiện tại để phản ánh trị giá hàng
tồn kho trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
1.2.3. Giá phí thay thế
Là giá mua tại một thời điểm mà doanh nghiệp phải trả để có được số
sản phẩm, vật tư đó. Trong việc tính toán giá phí thay thế phải giả thiết là giá
thị trường thông thường của sản phẩm đó và doanh nghiệp thường hay mua,
sản xuất sản phẩm đó theo mẫu mã và số lượng bình thường, giá phí thay thế
ở đây là giá mua thông thường, không phải là giá mua đột biến của sản phẩm
đó.
1.2.4. Giá phí có thể thực hiện được
Là khoản mà doanh nghiệp có thể nhận được khi bán và mua hàng
trong nghiệp vụ kinh doanh bình thường. Việc xác định giá trị có thể thực
hiện được có thể nảy sinh vấn đề là hàng tồn kho không phải để bán (ví dụ:

việc tăng giá trên thị trường trước khi bán sản phẩm đó. Thứ hai, các số liệu
về NVL trên bảng cân đối kế toán không bao giờ cao hơn giá gốc nhưng có
thể thấp hơn giá gốc. Nói cách khác là việc ghi nhận các khoản lỗ chưa xảy ra
thường xuyên xuất hiện trong các báo cáo tài chính trong khi việc ghi nhận
các khoản lãi chưa thực hiện không xuất hiện cho đến khi doanh nghiệp bán
sản phẩm đó. Tuân thủ theo LCM là thực hiện khá triệt để nguyên tắc thận
trọng trong kế toán. Trong một thời gian dài trước đây, lợi nhuận xác định
bằng dòng tiền vào trừ dòng tiền ra (cơ sở tiền). Đối với từng mặt hàng chỉ có
một số là lãi hoặc lỗ (chênh lệch giữa giá bán và giá gốc của mặt hàng đó).
Nguyên tắc đánh giá chỉ được xác định khi xuất hiện các khoản lãi, lỗ này
trong các báo cáo tài chính qua các kỳ kế toán giữa khi mua và khi bán lần
cuối. Khi doanh nghiệp sử dụng phương pháp LCM thì lợi nhuận thuần của
kỳ mà NVL xuất bán bị giảm giá sẽ thấp hơn nếu doanh nghiệp sử dụng
phương pháp giá gốc, nhưng lợi nhuận của kỳ sau sẽ cao hơn khi doanh
nghiệp bán số hàng đó.
Bảng 1-1: Minh hoạ cách xác định theo LCM
Đơn vị: 1.000 đ
Nội dung
Mặt hàng
A B C D
1. Xác định giá thị trường
a. Giá phí thay thế 92 96 92 96
b. Giá trị thuần có thể thực hiện 95 95 95 95
c. Giá trị thuần có thể thực hiện trừ lãi gộp
thông thường
86 86 86 86
d. Giá thị trường = giá giữa của a, b, c 92 95 92 95
2. Xác định giá thấp hơn giá phí và giá thị trường (LCM)
e. Giá gốc 90 97 96 90
f. Giá thị trường (=d) 92 95 92 95

phải hạch toán giống nhau.
1.3.1.2. Đối với kế toán NVL hệ thống kế toán Mỹ qui định
Chế độ kế toán Mỹ xác định rất đầy đủ phạm vi của chỉ tiêu NVL, có
tính đến tất cả trường hợp có thể xẩy ra liên quan đến NVL. Nguyên vật liệu
được phản ánh theo giá thực tế. Trị giá của hàng mua vào được ghi nhận là
giá trên danh đơn của hàng mua vào sau khi trừ đi tất cả các khoản chiết khấu.
Kế toán sử dụng tài khoản "Mua vào" để tập hợp giá trị của tất cả hàng mua
vào bán trong kỳ (tài khoản này không phản ánh hàng có còn trong tay hay đã
chuyển đi vì đã bán hoặc vì lý do khác)
Xác định trị giá thực tế NVL được sử dụng theo 4 phương pháp:
- Giá trên từng danh đơn riêng biệt (Specific invoice inventory pricing):
được sử dụng vì nó hoàn toàn làm tương xứng giữa chi phí và thu nhập nhưng
chỉ áp dụng cho các loại hàng có giá trị cao.
- Trị giá vốn bình quân gia quyền (Weighted Average cost): cách sử
dụng đơn giản nhưng có khuynh hướng che giấu sự biến động của giá.
- Phương pháp FIFO: cung cấp một cách đánh giá hàng hoá tồn kho sát
với giá hiện hành của hàng hoá thay thế nhất.
- Phương pháp LIFO: chọn chi phí phát sinh sau cùng để xác định giá
trị thực tế của NVL xuất kho, do đó kết quả của nó là sự tương xứng tốt nhất
giữa chi phí hiện hành và thu nhập trên báo cáo thu nhập.
Theo hệ thống kế toán Mỹ, NVL được quản lý theo 2 phương pháp:
KKTX và KKĐK.
1.3.2. Kinh nghiệm từ kế toán Pháp
Kế toán truyền thống của Pháp theo xu hướng cung cấp thông tin cho
các nhà tín dụng và cơ quan thuế, gần giống với kế toán Đức. Tuy nhiên, tính
truyền thống này ít nhiều đã bị thay đổi bởi vì sức ép đến những công ty lớn
có cổ phiếu niêm yết trên thị trường và đặc biệt những công ty đa quốc gia đã
định hướng thông tin kế toán cần được cung cấp nhiều hơn cho các nhà đầu
tư.
Kế toán Pháp áp dụng phương pháp đánh giá rất thận trọng

đời của CMKT VN số 02: hàng tồn kho ban hành theo Quyết định 149/2001/
QĐ-BTC ngày 31/12/2001.
2.1.1. Giai đoạn trước CMKT VN số 02 ra đời
Trên thế giới, thời kỳ tư bản chủ nghĩa với sự phát triển nhanh chóng
của thương nghiệp, nông nghiệp. Các quan hệ trao đổi, buôn bán được mở
rộng đặt ra nhu cầu phải hạch toán các mối quan hệ nảy sinh trong quá trình
vận động của tư bản cá biệt. Các đối tượng kế toán mới đã xuất hiện. Phương
pháp hạch toán kế toán đã được hình thành và ứng dụng rộng rãi gồm một hệ
thống hoàn chỉnh gồm chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá và tổng hợp cân
đôi kế toán. Tính giá NVL cũng ra đời từ đó.
Trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, kế toán tính giá NVL có tiền đề
phát triển nhanh chóng và toàn diện.
Tại Việt Nam, kế toán tính giá NVL được qui định trong Chế độ kế
toán doanh nghiệp lần đầu được ban hành theo Quyết định số 1141
TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995. Công tác kế toán NVL đã được trình bày khá
đầy đủ. Trong những năm tiếp theo, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế
dẫn đền yêu cầu cần phải hoàn thiện hơn công tác kế toán tính giá NVL. Vì
vậy mà CMKT VN số 02: hàng tồn kho đã ra đời.
2.1.2. Giai đoạn sau CMKT VN số 02 ra đời
Ngày 31/12/2001 CMKT VN số 02: hàng tồn kho được ban hành đánh
dấu mốc quan trọng trong công tác tính giá NVL. Góp phần đưa kế toán Việt
Nam xích lại gần kế toán thế giới, tạo tiền đề phát triển kinh tế trong nước.
Trong CMKT VN 02 qui định rõ:
 Nguyên tắc tính giá tại điều 4
 Phương pháp tính giá được phép áp dụng vời NVL nhập kho, xuất kho
từ điều 5 đến điều 17.
Tiếp đó vào ngày 20/03/2006, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Quyết
định số 15/2006/QĐ-BTC ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng cho
các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước từ
năm tài chính 2006, thay thế Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT. Trong Chế

giá nguyên vật liệu phải đảm bảo tính nhất quán ít nhất là trong một niên độ
kế toán.
Ngoài các nguyên tắc trên thì khi đánh giá nguyên vật liệu vẫn còn phải
tuân thủ thêm nguyên tắc hoạt động liên tục. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi loại
tài sản trong đó có nguyên vật liệu phải được ghi nhận theo giá gốc.
2.2.2. Tính giá NVL nhập kho
Tính giá của NVL nhập kho tuân thủ theo nguyên tắc giá phí. Nguyên
vật liệu nhập kho trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm rất nhiều nguồn nhập
khác nhau. Tuỳ theo từng nguồn nhập mà giá trị thực tế của NVL nhập kho
được xác định khác nhau.
2.2.2.1. Đối với NVL mua ngoài
Nguyên vật liệu mua vào sử dụng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm, quản
lý phân xưởng, cho bán hàng, cho quản lý doanh nghiệp,… Tuy khác nhau về
tính chất và mục đích sử dụng nhưng việc tính giá phải phản ánh được giá ban
đầu của NVL, nghĩa là tất cả khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc hinh
thành tài sản. Trình tự tính giá NVL mua vào gồm các bước:
Bước 1: Xác định trị giá NVL mua vào.
Trị giá mua của NVL gồm giá mua ghi trên hoá đơn trừ (-) các khoản
giảm giá hàng mua, chiết khấu thương mại khi mua hàng được hưởng cộng
(+) các khoản thuế không được khấu trừ (thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc
biệt,.v.v..)
Bước 2: Tập hợp toàn bộ chi phí phát sinh liên quan tới quá trình thu
mua NVL.
Chi phí thu mua gồm chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí bộ phận thu
mua, chi phí liên quan đền kho hàng, bến bãi, hao hụt trong định mức…
Nếu những chi phí này liên quan đến một loại NVL thì tính trực tiếp
cho NVL đó, còn nếu liên quan đến việc thu mua nhiều loại tài sản thì phân
bổ cho từng loại tài sản theo những tiêu thức thích hợp (trọng lượng, số
lượng, thể tích,…).
Bước 3: Tổng hợp chi phí và tính ra giá thực tế của NVL.

liệu đưa vào sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá của vật liệu gồm 2 bộ phận là giá
mua và chi phí thu mua.
Trị giá mua Chi phí thu mua
Giá mua (trừ
giảm giá hàng
mua và chiết
khấu thương
mại)
Cộng các
khoản thuế
không
được hoàn
lại
Chi phí
vận
chuyển,
bốc dỡ
Chi phí
kho
hàng,
bến bãi
Chi phí
bộ phận
thu
mua
Hao hụt
trong
định
mức
v.v.

thuê ngoài gccb
+
Chi phí
thuê ngoài
gccb
+
Chi phí
vận chuyển
(nếu có)
2.2.2.4. Đối với NVL được cấp
Giá thực tế
của NVL được cấp
=
Giá theo
biên bản giao nhận
2.2.2.5. Đối với NVL nhận góp vốn liên doanh
Giá thực tế của NVL
nhận góp vốn liên doanh
=
Giá trị vốn góp
do hợp đồng liên doanh đánh giá
2.2.2.6. Đối với NVL được biếu tặng, viện trợ
Giá thực tế của NVL
được biếu tặng, viện trợ
=
Giá thị trường của NVL
tại thời điểm nhận
Tổng giá thành sản xuất
Số lượng sản phẩm hoàn thành
Giá thành đơn vị

phức tạp.
2.2.3.2. Phương pháp bình quân
Theo phương pháp này, trị giá xuất của vật liệu bằng số lượng vật liệu
xuất nhân với đơn giá bình quân. Đơn giá bình quân có thể xác định theo 1
trong 3 phương pháp sau:
2.2.3.2.1. Bình quân cuối kỳ trước
Ưu điểm : Phương pháp này cho phép giảm nhẹ khối lượng tính toán
của kế toán vì giá vật liệu xuất kho tính khá đơn giản, cung cấp thông tin kịp
thời về tình hình biến động của vật liệu trong kỳ.
Nhược điểm: Độ chính xác của việc tính giá phụ thuộc tình hình biến
động giá cả nguyên vật liệu. Trường hợp giá cả thị trường nguyên vật liệu có
sự biến động lớn thì việc tính giá nguyên vật liệu xuất kho theo phương pháp
này trở nên thiếu chính xác.
2.2.3.2.2. Bình quân cả kỳ dự trữ
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm
vật tư nhưng số lần nhập, xuất của mỗi danh điểm nhiều.
Ưu điểm : Đơn giản, dễ làm, giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết
nguyên vật liệu, không phụ thuộc vào số lần nhập xuất của từng danh điểm
vật tư.
Nhược điểm : Dồn công việc tính giá nguyên vật liệu xuất kho vào cuối
kỳ hạch toán nên ảnh hưởng đến tiến độ của các khâu kế toán khác.
Trị giá NVL tồn đầu kỳ
Số lượng NVL tồn đầu kỳ
Đơn giá bình quân
cuối kỳ trươc
=
Trị giá NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Số lượng NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Đơn giá bình quân
cả kỳ dự trữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status