Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Một số biện pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm” - Pdf 99


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Đề tài: “Một số biện pháp tăng cường
huy động vốn tại Ngân hàng Công
thương Hoàn Kiếm”
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Nguyễn Văn Nam
SINH VIÊN THỰC HIỆN: Dương Văn Hùng
Dương Văn Hùng - 037
1
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế nước ta có nhiều thay đổi lớn, sự nghiệp công nghiệp hoá
và hiện đại hóa đất nước vẫn đang được tiếp tục thực hiện với nhiều thành
công rực rỡ. Tuy nhiên để tiếp tục thực hiện mục tiêu tăng gấp đôi tổng sản
lượng quốc dân đến năm 2000 mà Đảng ta đề ra, chúng ta cần phải có khoảng
250 ngàn tỉ đồng vốn đầu t
ư. Vì vậy, triển khai giải quyết vốn là vấn đề hết
sức cấp bách cho nền kinh tế.
Để có được số vốn lớn này, tốt hơn hết là vốn được huy động từ trong

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo
trong khoa Ngân hàng và nhất là thầy Nguyễn Văn Nam, đội ngũ cán bộ công
nhân viên Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm, mà đặc biệt là sự giúp đỡ tận
tình của các cô chú, anh chị đang công tác tại phòng kinh doanh trong việc
làm quen với hoạt động của Ngân hàng và trong việc thu thập và tổng hợp số
liệu cho bài viết này.
Dương Văn Hùng - 037
3
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN

Đề tài :
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN KIẾM.

PHẦN I
VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
I - KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
Ngân hàng là một trong những ngành công nghiệp lâu đời nhất. Trải
qua quá trình phát triển của xã hội loài người Ngân hàng và nghề Ngân hàng
không ngừng được hoàn thiện và phát triển. Nếu như trong thời kỳ sơ khai
hoạt động của Ngân hàng chỉ giới hạn trong việc giữ hộ của cải hoặc thanh
toán hộ thì cho đến nay hoạt động của Ngân hàng đã được mở ra trên rất
nhiều các lĩnh vực với công nghệ ngày càng hoàn thiện. Thự
c tế nhiều năm
qua đã chứng tỏ cho thấy rằng : Ngân hàng là một ngành nghề không thể
thiếu được trong nền kinh tế, nó đóng vai trò làm môi giới, làm trung gian
cho sự gặp gỡ của cung và cầu tiền tệ, thông qua việc huy động vốn tạm thời
nhàn rỗi từ dân cư và các tổ chức trong xãa hội rồi cho vay lại đối với cá
nhân, các tổ chức đang có nhu cầu về vốn. Điều này góp phầ

của nền kinh tế.
NHTM đã có mạng lưới rộng khắp địa bàn sản xuất phân phối lưu
thông, tiêu dùng trong cả nước. Hơn thế nữa, nó còn có quan hệ rộng rãi và
có vai trò quan trọng về tiền tệ, tín dụng, thanh toán giữa nước ta với nước
ngoài.
Với mô hình tổ chức trên, hoạt động của NHTM bao gồm những nội
dung chủ yếu sau :
Dương Văn Hùng - 037
5
+ Tạo nguồn vốn thông qua các hoạt động như : huy động vốn nhàn rỗi
trong dân cư, trong các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước dưới các hình
thức:
- Tiền quỹ tiết kiệm có kỳ hạn.
- Tiền quỹ tiết kiệm không kỳ hạn.
- Phát hành kỳ phiếu Ngân hàng.
- Hậu tiền ký gửi
v.v
Vay từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước : vay các Ngân hàng
Nhà nước, nhận vốn điều hoà trong hệ thống.
+ Sử dụng vốn tự có và vốn vay thông qua hoạt động tín dụng thực
hiện các dự án đầu tư dưới hình thức ghóp vốn hay mua trái phiếu kho bạc,
tài trợ xuất nhập khẩu, đầu tư kinh doanh bất động sản, kinh doanh vàng bạc
đá quý
+ Thực hiện các dịch vụ Ngân hàng : thanh toán hộ, thu hộ, bảo hành
thực hiện các dịch vụ tư vấn khách hàng.
Ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc tự
chủ trong kinh
doanh, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, tuân thủ các chế độ, chính sách
của Ngân hàng Nhà nước và chính phủ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính
với Bộ Tài Chính, bảo toàn vốn và có lãi.

c số tiền đó được an toàn và nếu có thể sinh lợi được thì
càng tốt. Nhưng để thực hiện được điều này, nó còn phụ thuộc vào khả năng,
vào mối quan hệ của từng người, và thông thường những người có tiền tạm
thời nhàn rỗi luôn tìm cách cho những người hay những tổ chức đang có nhu
cầu về vốn vay trong một thời hạn nhất định chứ không trực ti
ếp đầu tư vào
sản xuất do sự giới hạn và khả năng thu hồi tiền mặt. Tuy nhiên điều này hầu
như rất khó thực hiện được. Do vậy, trong xã hội luôn luôn tồn tại mâu thuẫn
này. Xét về mặt kinh tế thì lượng tiền này nếu được tập trung lại để cho vay
với những người đang có nu cầu sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho cả người có
Dương Văn Hùng - 037
7
tiền nhàn rỗi và người có nhu cầu về vốn nói riêng và đem lại hiệu quả kinh
tế cho cả nền kinh tế nói chung, Ngân hàng thương mại chính là người thực
hiện chức năng cầu nối này.
2) Ngân hàng thương mại với hoạt động của mình ghóp phần tăng
cường hiệu quả hoạt động của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói
riêng và của nền kinh tế nói chung.
Đặc trưng cơ bản của Ngân hàng là cho vay có hoàn trả với một mức
lãi suất nhất định và với một thời hạn nhất định, chính điều này đã bắt buộc
mọi cá nhân và doanh nghiệp khi vay vốn của Ngân hàng phải cân nhắc và
phải sử dụng vốn đó một cách có hiệu quả nhất, để có thể bảo toàn vào sinh
lợi được vốn đó, sau đó phải trả vố
n vay và lãi đúng thời hạn. Đây chính là
động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường công tác hạch toán, giảm chi
phí sản xuất nhưng phải tăng chất lượng sản phẩm và tăng vòng quay của
vốn. Qua đó, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Mặt khác, trước khi quyết
định một món vay Ngân hàng thường tiến hành thẩm định tín dụng, chỉ thực
hiện cho vay đối với những cá nhân, doanh nghiệp phải có sự
sắp xếp, bố trí

Một Ngân hàng thương mại có phạm vi hoạt động và quan hệ rộng rãi
với rất nhiều tổ chức kinh tế. Nó có khả năng huy động được vốn từ các cá
nhân, tổ chức ngoài nước hay tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, qua đó đảm
bảo được vốn cho nền kinh tế trong nước, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh
tế trong nước có thể mở rộng hoạt
động của họ ra nước ngoài một cách có
hiệu quả hơn, thông qua hoạt động thanh toán quốc tế, tư vấn tài trợ xuất
nhập khẩu. Ngân hàng có thể làm đại lý cho các tổ chức tài chính, tín dụng
nước ngoài qua đó giúp các tổ chức kinh tế trong nước có thể vau vốn các tổ
chức này để nhập công nghệ cao, nang cao chất lượng sản phẩm đủ sức cạnh
trạnh với thị trường quốc t
ế.
Trên đây, là toàn bộ khái quát về vài trò của hệ thống Ngân hàng
thương mại hoạt động trong cơ chế thị trường. Trên góc độ một sinh viên
Dương Văn Hùng - 037
9
nghiên cứu về hoạt động đầu vào của một ngân hàng, mà chủ yếu là hoạt
động huy động vốn ta sẽ xem xét kỹ hơn vấn đền này thông qua việc huy
động vốn của một Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
III - CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI :
Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, Ngân hàng muốn hoạt
động được trước hết phải có vốn. Nhưng vì mặt hàng kinh doanh của Ngân
hàng rất đặc biệt, vì vị trí và vai trò của nó cho nên nhu cầu về vốn của Ngân
hàng thương mại là rất lớn, do vậy nguồn vốn của Ngân hàng thương mại bao
gồm :
1) Nguồn vốn tự có :
Nguồn vốn này được hình thành từ hai bộ phần là :
+ Vốn điều lệ:
Đây là số vốn ban đầu của một Ngân hàng thương mại,
là tiêu chuẩn được thành lập và đi vào hoạt động của NHTM. Về mặt quy mô

ốn vì mục đích giữ khách hàng. Còn về phía
bên Ngân hàng thiếu vốn do thị trường đầu ra mở rộng trong khi thị trường
đầu vào không thể mở rộng được hơn nữa, dẫn đến tình trạng thiếu vốn.
Chính lúc này Ngân hàng trung ương hoặc các hội sở chính sẽ thực hiện việc
điều phối chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu trên cơ sở hai bên cùng có
lợi.
Chính vì thế, đ
ây có thể coi là một nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp
Ngân hàng có thể mở rộng được thị trường đầu ra trong điều kiện thị trường
đầu vào vẫn còn bị hạn chế và qua đó làm tăng lợi nhuận của Ngân hàng.
4) Nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng :
+ Nguồn vốn vay Ngân hàng nhà nước:
NHTM thực hiện việc vay tiền của Ngân hàng Nhà nước thông qua
hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá. Khi Ngân hàng có nhu cầu rút tiền
mặt của khách hàng, họ có thể mang các giấy tờ có giá như : tín phiếu, trái
Dương Văn Hùng - 037
11
phiếu kho bạc Nhà nước, tiền triết khấu. Nguồn vốn này hình thành chủ yếu
là để đảm bảo kảh năng thanh toán của Ngân hàng.

+ Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng quốc tế :

Đây là loại vốn vay chiếm tỷ trọng không lớn ở nhữn nước đang phát
triển, bởi vì ở các nước này Ngân hàng muốn có được vốn ở nguồn này phải
được phép của Ngân hàng Nhà nước và thường dưới hình thức vay theo hiệp
định.
5) Nguồn vốn huy động:
Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất để Ngân hàng có thể
hoạt động để cho vay. Đây là số tiền Ngân hàng nhận được dưới nhiều hình
thức khác nhau.

họ đã nhượng đi, người thứ 1 thì nhượng đi dưới hình thức hàng hoá, người
thứ 2 nhượng đi dưới hình thức tiền tệ trong việc cho vay thì chỉ có một
bên được nhận giá trị và chỉ có một bên nhượng đi giá trị mà thôi ? ( Các
Mác tư bản tập 3 trang 32).
- Sử dụng vốn trong quá trình sản xuất sau khi huy động vốn ngân
hàng (người đi vay) được quyền sử dụng v
ốn đó để thoả mãn những nhu cầu
về vốn nhất định ở giai đoạn nàynguồn vốn huy động được sử dụng tham gia
trực tiếp vào sản xuất hoặc đáp ứng những nhu cầu về tiêu dùng của người đi
vay. Tuy nhiên người đi vay không có quyền sở hữu về giá trị các khoản vay
không có quyền sở hữu về gía trị các khoản vay đó mà chỉ đượ
c sử dụng tạm
thời trong một thời gian nhất định.
-
Ở giai đoạn hoàn trả: Đây có thể nói là giai đoạn kết thúc một vòng
tuần hoàn của nguồn vốn huy động. Sau khi vốn mà ngân hàng đã huy động
tham gia hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì ngân
hàng hoàn trả cho các tổ chức kinh tế và dân cư.
Dương Văn Hùng - 037
13
Mác viết: “ Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữumột thời
gian và chẳng qua chỉ là tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay nhà
tư bản hoạt động. Tiền chỉ đem nhượng lại với một điều kiện là sẽ quay trở
về điểm xuất phát sau một thời gian nhất định”
( Các Mác- tư bản quyể
n 3 tập 2 trang 57).
Như vậy, hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của vốn tín
dụng. Mặt khác sự hoàn trả của mỗi nguồn vốn huy động là quá trình quay
trở về giá trị. Hình thái vật chất của sự hoàn trả là sự vận động dưới hình thức
giá trị. Tuy nhiên sự vận động đó không phải vơí tư cách là phương tiện lưu

nước.
b) Tính chất ổn định của nền kinh tế xã hội :
Một xã hội, một nền kinh tế được đánh giá là ổn định khi nó không có
dấu hiệu xảy ra của làm phát, của khủng hoảng hay chiến tranh. Nếu nền kinh
tế xã hội được ổn định thì đời sống nhân dân được nâng cao. Việc sản xuất
kinh doanh của các thành phần kinh tế được phát triển thì vốn Ngân hàng sẽ
lớn. Còn ngược lại trong điều kiện nền kinh tế bất ổn định giá c
ả và do đó sức
mua của đồng tiền thau đổi thường xuyên, dân cư thường có xu hướng giữ
tiền mặt hoặc quy đổi ra các đồng tiền khác có tính ổn định cao và cất giữ
trong gia đình thay vì đem số tiền đó đến gửi tại các Ngân hàng, các quỹ tiết
kiệm. Đặc biệt là trong các nước mà hệ thống Ngân hàng thương mại chịu sự
kiểm soát chặt chẽ của Ngân hàng trung ương trong vấn
đề lãi suất thì hiện
tượng trên rất phổ biến do sẹ thay đổi vủa lãi suất huy động mà Ngân hàng
đưa ra không thau đổi kịp với sự biến động của giá cả trên thị trường.
c) Yếu tố tiết kiệm trong nền kinh tế:
Vốn huy động của một Ngân hàng thương mại chủ yếu được hình
thành từ nguồn huy động trong dân cư. Đây là lượng tiền tạm thời nhàn rỗi có
được chủ yếu là do tiết kiệm, chính vì vậy mà công tác huy động vốn của một
Ngân hàng chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố tiết kiệm. Nếu có tiết kiệm sẽ
làm tăng khối lượng tiền nhàn rỗi trong xã hộ
i, qua đó có thể làm tăng quy
Dương Văn Hùng - 037
15
mô và chất lượng công tác huy động vốn của Ngân hàng. Tuy nhiên, bản thân
yếu tố tiết kiệm chịu sự tác động của các yếu tố khác như :
 Tâm ly người tiêu dùng trong dân cư :
Yếu tố này ảnh hưởng rất
lớn đến yếu tố tích kiệmm, bởi vì tâm lý tiêu dùng của dân rất khác nhau giữa

Trên đây, là nhữn nhân tố chính ảnh hưởng đến quy mô nguồn vốn huy
động của một Ngân hàng thương mại trong đó yếu tố tiết kiệm được xem là
yếu tố chính nằm bên ngoài Ngân hàng, Ngân hàng chỉ có thể tác động đến
yếu tố này thông qua hoạt động quảng cáo và sự phối hợp giúp đỡ của các cơ
quan, tổ chức Nhà nước và dân cư trong xã hội. Các yếu tố còn lại là các yếu
tố nộ
i tại trong Ngân hàng, do vậy mọi Ngân hàng phải có chính sách và hoạt
động một cách tích cực, có lợi và hiệu quả nhất đối với công tác huy động
vốn. Tuy vậy, kết quả ra sao còn tuỳ thuộc vào đặc điểm, trình độ và khả
năng của mỗi Ngân hàng.
3) Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng.
Một trong những hoạt động chủ yếu nhất của Ngân hàng thương mại là
huy động vốn để cho vay, để hiểu rõ hơn về hoạt động huy động vốn của
Ngân hàng thương mại ta có thể phân loại ra nghiệp vụ vốn theo sơ đồ sau :
Dương Văn Hùng - 037
17

Gửi rút ra phải
báo trước

Gửi để dành có
hạn
Dương Văn Hùng - 037
18
Hiện nay có rất nhiều loại tiền ký gửi. Đó là nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi trong tài khoản của các cơ quan xí nghiệp. Để có được tuận lợi trong sản
xuất kinh doanh các cơ sở kinh tế có thể lựa chọn một hay nhiều Ngân hàng
thương mại để giao dịch nhằm giải quyết việc thu chi chuyển tiền thanh toán
và các dịch vụ tài chính khác.
Xét về mặt nghiệp vụ Ngân hàng thì tiền ký g
ửi có thể phân thành hai
loại chính đó là :
 Tiền gửi không kỳ hạn
: đây là số tiền nằm trong tài khoản vãng
lai hoặc tài khoản thanh toán và có thể rút ra vào kỳ lúc nào.
Pháp luật một số nước không cho phép tính lãi đối với tiền tạm thời
nhãn rỗi trong tài khoản cơ quan xn. Tuy nhiên, cũng có nước cho phép tính
lãi nhưng rất thấp.
Tiền gửi không kỳ hạn trước hết được dùng để thanh toán vãng lai,
vịec thanh toán vãng lai này có thể tiến hành dưới dạng tiền mặt, séc hoặc uỷ
nhiệm chi. Sau khi mở tài khoản thanh toán t
ại Ngân hàng, chủ tài khoản phải
giao cho Ngân hàng quyền ghi chép, theo dõi các nghiệp vụ phát dinh trên tài
khoản của họ ở Ngân hàng. Chi phí hoạt động này của Ngân hàng khá lớn
nhưng trên thực tế Ngân hàng có thể bù đắp được khoản chi phí này qua việc
sử dụng số dư các tài khoản này để cho vay lại, và đây chính là nguồn mang

lương không bằng tiền mặt, thêm vào đó ngân hàng
thương mại lại có rất nhiều dịch vụ giúp cho chủ tài khoản thanh thanh toán
kịp thời nhanh chóng các tài khoản chi tiêu thường kỳ của họ như : tiền thuê
nhà, thuê bao điện thoại, nộp thuế
Do đó tiền gửi không kỳ hạn đã trở thành một nguồn cho vay hết sức
quan trọng đồng thười cũng đem lại nguồn lợi nhuậ
n lớn cho Ngân hàng.
 Tiền g ửi có kỳ hạn :
là loại tiền gửi không dùng để thanh toán mà
chủ yếu là để kiếm lời cao. So với tiền gửi vãng lai thì loại tiền gửi này có
thời hạn gửi tiền dài hơn thông thường ít nhất là 1 tháng. Tiền gửi có kỳ hạn
đối vơi snhh là số tiền gửi đến một ngày nhất định mới phải trả lại cho khách
hàng. Điều này giúp cho Ngân hàng nắm được vốn trong các thời kỳ đã có kế
ho
ạhc cho vay không phải tồn quỹ cao để đề phòng sự rút vốn bất thường. Đo
Dương Văn Hùng - 037
20
đó việc sử dụng nguồn vốn này cho vay rất hiệu quả, vì vậy lãi suất trả cho
tiền gửi có kỳ hạn cao hơn tiền gửi không kỳ hạn.
Đối với tiền có kỳ hạn đến hạn mới được lấy ra, nếu xét về nguyên tắc.
Tuy nhiên trong trường hợp ngoại lệ người gửi muốn rút tiền ra trước thời
hạn, trong trường hợp này có 2 cách giải quyế
t.
 Hoặc người gửi tiền ấy được vay của Ngân hàng một khoản tiền mà
họ cần, sau đó khi đến hạn trả tiền sẽ sử dụng tiền đó để hoàn trả cho Ngân
hàng.
 Hoặc thoả thuận với Ngân hàng rút trước thời hạn nhưng hưởng lãi
suất thấp.
Ta thấy trong mọi trường hợp thì Ngân hàng luôn tự chủ được về thời
hạn hoàn trả tiề

muốn rút số tiền lớn hơn phải báo trước cho Ngân hàng trong một khoảng
thời gian nhất định được quy định.

Gửi tiền không kỳ hạn : đây là hình thức gửi tiền mà thời hạn rút
do bên người gửi và Ngân hàng tự thoả thuận. Đối với tiền gửi này các Ngân
hàng thuộc cấc thành phần như nhân dân lao động, công nhân viên chức, học
sinh, các khoản tiền này chủ yếu là để dành dụm nhằm trang trải chi tiêu cần
thiết, đồng thời có một khoản tiền lãi bù đắp co sịnh hoạt hàng ngày. Trong
trường hợp đa số thời hạn báo trước là mộ
t vài ngày kể từ sau thời hạn thoả
thuận rút tiền ban đầu.
Qua một số điểm phân tích ta thấy, với loại tiền gửi có kỳ hạn thì Ngân
hàng có thể dự tính được toàn bộ các vấn đề phát sinh đối với khoản tiền này
như : khi nào phải trả tiền và sử dụng bao nhiêu và trong bao lâu theo các
thời hạn khác nhau cho Ngân hàng chủ động biết được thời hạn của người
gửi tiền và do tính th
ời hạn ổn định của loại tiền gửi này. Trong khi đó với
loại tiền gửi không kỳ hạn, thời hạn rút tiền không ổn định do khách hàng có
thể rút tiền vào bất cứ lúc nào, nếu họ cần vì vậy Ngân hàng không thể sự
dụng toàn bộ số tiền này để cho vay mà chỉ dùng một phần mà chủ yếu là cho
vay ngắn hạn, số còn lại thường thì Ngân hàng đầu tư vào cầm cố
bất động
sản, vào mua chứng khoán, công trái nhà nước đễ dễ dàng nhanh chóng
chuyển để thanh thanh toán bằng tiền mặt. Chính vì vậy mà lãi suất tiết kiệm
Dương Văn Hùng - 037
22
có kỳ hạn luôn cao hơn lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn và Ngân hàng làm
như vậy là nhằm tăng cường khối lượng vốn ổn định cho mình.
Trên đây là các hình thức huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh
tế trong khuôn khổ nguồn tiền ký gửi và tiết kiệm. Hiện nay, ở các nước trên

Thị trường này giúp cho Ngân hàng thương mại bổ sung nguồn vốn
cho nhau, giải quyết nhanh nhu cầu thiếu hụt trong thanh toán vủa nền kinh
tế. Hoạt động của thị trường này nhằm tận dụng đến mức cao nhất các khả
năng sẵn có một cách triệt để trước khi cần yêu cầu đến tiền trung
ương.
Tỷ trọng của nguồn này trong tổng nguồn vốn phản ánh quan hệ của
Ngân hàng với các tổ chức tài chính khác và chất lượng công tác thanh toán
của Ngân hàng bởi nếu tỷ trọng của nguồn này lớn, chứng tỏ rằng Ngân hàng
rất có uy tín trong quan hệ thanh toán cả đối với khách hàng và đối với các tổ
chức tín dụng khác.
Ở nước ta hoạt động của thị trường liên Ngân hàng còn hạn chế về quy
mô hoạ
t động , do đó khó khăn chung về nguồn vốn vủa cả hệ thống và thiều
các định chế thích hợp.
3.3. Vốn phát hành:
Vốn phát hành của Ngân hàng thuộc loại : “ chủ động thu gom” đây là
hình thức huy động thông qua phát hành kỳ phiếu, trái phiếu. Những hình
thức huy động vốn ở trên đựoc xếp vào loại “bị động thu gom”. Xét về bản
chất thì hai loại này không khác nhau nhiều, tuy nhiên nó khác nhau ở chỗ :
 Lãi suất “vốn chủ động đi vay” cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm.
 “vốn chủ động đi vay
” được huy động theo sáng kiến của từng
Ngân hàng, đây là khoản tiền nhận gửi có bảo đảm ché không phải tiền gửi
đơn thuần. Vốn này cũng thuộc loại tín dụng dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.
Với loại “vốn chủ động đi vay” Ngân hàng hoàn thanh toánàn tự chủ
về mặt thời hạn hoàn trả do đó có thể sử dụng cho vay ngắn hạn, trung và dài
hạn là tuỳ
thuộc vào thời hạn của vốn vay và mặc dù lãi suất xao hơn thông
thường Ngân hàng vẫn được lợi nhiều từ hình thức huy động này.
Dương Văn Hùng - 037


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status