TIỂU LUẬN
Phần mềm quản lý tri thức
đem đến những ưu thế đặc
thù nào cho các tổ chức hoạt
động trên phạm vi toàn cầu
QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Bài tập:
"Phần mềm quản lý tri thức đem đến những ưu thế đặc thù nào
cho các tổ chức hoạt động trên phạm vi toàn cầu ".
Bài làm
Hiện nay, việc quản lý công nghệ thông tin trở thành một điều kiện
thiết yếu trong mọi hoạt động của toàn cầu; tại nơi làm vịêc thì qản lý công
nghệ thông tin đã trở thành một yếu tố tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Các công nghệ
hiện có và các phương pháp được sử dụng để thúc đẩy
thông tin gọi là quản lý tri thức. Còn thông tin lại được hiểu là những tri thức
rất cụ thể đối với tỏ chức đã tạo ra chúng.
Tri thức có giá trị gì không? nó giúp nhà quản trị kinh doanh những gì?
Chúng ta hãy phân tích ; nền kinh tế- xã hội toàn cầu hiện nay đang phát triển
với một tốc độ chóng mặt; những c
ơ sở tri thứccủa các tổ chức đang nhanh
chóng trở thành thế mạnh cạnh tranh bền vững của các ổ chức đó. chính vì
thế mà nguồn tài nghuyên tri thức này cần được bảo vệ, nuôi dưỡng và chia sẻ
cho các thành viên trong tổ chức để tiêu dùng nó tạo nên một sức mạnh cộng
hưởng thật lớn, đưa tổ chức đạt được những mục tiêu đã định một cách mỹ
mãn. G
ần đây, các công ty có thể thành công trên cơ sở tri thức cá nhân của
một nhóm những cá nhân được đặt đúng chỗ về chiến lược. Tuy vậy, khí đối
thủ cạnh tranh hứa hẹn nhiều dịch vụ có hàm lượng tri thức hơn thì sự cạnh
tranh sẽ mất đi. Tại sao như vậy? Bởi vì, tri thức của một tổ chức không hề
thay thế tri thức cá nhân, mà nó lại bổ sung cho tri thức cá nhân, làm cho tri
th
ức cá nhân rộng hơn và mạnh mẽ hơn. Do vậy việc sử dụng cơ sở tri thức
của tổ chức cùng với những tiềm năng về các kỹ năng, năng lực, sự suy nghĩ,
óc sáng tạo và ý tưởng của các cá nhân sẽ cho phép công ty cạnh tranh hiệu
quả hơn trong tương lai. Vậy giá trị của tri thức thể hiện ở đó.
Tri thức có giá trị, còn quản lý những giá trị
đó hay quản lý tri thức đó
là thế nào? Chúng ta có thể hiểu: Quản lý tri thức là một tiến trình có tính hệ
thống để tìm tòi, chọn lựa, tổ chức, chắt lọc và trình bày những thông tin theo
cách có thể phát triển được sự hiểu biết của nhân viên trong công ty trong một
lĩnh vực cụ thể được quan tâm. Quản lý tri thức giúp cho tổ chức thu được sự
hiểu biết sâu sắc từ kinh nghiệm của chính bản thân tổ chức đó. Các hoạt
động quản lý tri thức cụ thể sẽ giúp cho tổ chức tập trung vào việc thu được,
lưu trữ và sử dụng tri thức để thực hiện các hoạt động như giải quyết vấn đề,
lập kế hoạch chiến lược, và ra quyết định. Điều này cũng bảo vệ tài s
ng tri thức quan trọng của công ty. Những thông tin đó có thể được
mọi nhân viên trong Công ty tiếp cận một cách nhanh chóng và đầy đủ tại nơi
làm việc.
Phần mềm quản lý tri thức đem đến những ưu thế đặc thù nào cho các
tổ chức hoạt động trên phạm vi toàn cầu. Đây chính là câu trả lời của câu hỏi:
Tại sao phải quản lý tri thức?. Tại vì: Bất kỳ công ty nào khi có thể xác định
được cách thức cung cấp thông tin có tổ chứccho những người cần tin vào
thờ
i khắc họ cần, đều có thể xác định được vị thế của mình để cạnh tranh có
hiệu quả hơn và thành công hơn. Đã có rất nhiều công ty có trong tay những
thông tin thiết yếu, song vì người nắm giữ nó chỉ có một hoặc một vài người,
đồng thời người đó lại không hay ít nỗ lực truyền đạt thông tin đó đến nhiều
người khác. Hay có thể là do sự tiết kiệm chi phí cho công ty mà không sử
d
ụng thông tin tri thức một cách rộng rãi toàn diện. Do đó mà việc sử dụng hệ
thống quản lý tri thức là thật cần thiết, nếu công ty nào khai thác tốt vốn tri
thức của mình sẽ có thể sử dụng thành công tài sản đó tạo ra ca cs thách thức
và cơ hội làm ăn cho công ty mình.
Phần mềm quản lý tri thức cần phải được chia sẻ. Có vậy những công ty
hoạt động trên phạm vi toan cầu sẽ thu được nhi
ều lợi ích.
VD: Tổng giám đốc Robert buckman của hãng Buckman Labartories đã
chia sẻ tri thức bằng cách: gửi một thư điện tử e - mail tới mọi người trên toàn
cầu kêu gọi giúp đỡ để giải quyết một đề nghị khá phức tạp của một khách
hàng. Chỉ sau vài giờ các câu trả lời đã tới tấp đến văn phòng ông, rồi nhiều ý
biến được gửi đến từ Cânda, Thuỵ
Điển, Nui Di Lân, Tây Ban Nha, Men
Phig, Mexico, Nam Phi… Kết quả đạt được là ông đã bán được một lúc 6
triệu UDS. Rõ ràng: Phần mềm quản lý tri thức đã đem lại hiệu quả rất cao,
dễ nhận được sự trợ giúp nhanh chóng cảu rất nhiều đồng nghiệp từ mọi nơi
hợp ý tưởng từ khắp thế giới và gửi chúng cho các nhà chuyên môn của chúng
tôi hàng tháng, và do vậy họ được trang bị các ý tưởng để làm việc với khách
hàng, cũng như tài liệu kỹ thuật và một đội ngũ nhân viên chuyên hỗ trợ cho
mỗi ý tưởng đó. Nếu một ý tưởng nào đó, phù hợp với những quan tâm đặc
biệt của khách hàng thì họ
sẽ có được nó như một thứ sẵn có. Đương nhiên,
chúng cũng cần được thay đổi đôi chút vì không có gì có thể phù hợp chính
xác ngay được. Điều này củng cố thêm lòng tin vào việc chia sẻ tài sản trí tuệ
và hỗ trợ cho họ thành công hơn trong việc phục vụ khách hàng"
Càng ngày càng có thêm nhiều công ty hoạt động trên phạm vi toàn cầu
tham gia vào việc đánh giá và chia sẻ vốn trí tuệ, bởi thực tế đã chứng minh
rằng: chia sẻ cũngcó nghĩa là nhận nhiều hơn. Điều này thật có ý nghĩa. Để
đạt được ý nghĩa chính đóng của v
ấn đề này thì phảilàm thế nào cho thông tin
đến tay người sử dụng thật kịp thời và đầy đủ. Có như vậy, người dùng tin
mới vừa sử dụng, vừa đóng gốp làm giàu thêm kho tàng tri thức toàn cầu.
Tóm lại, thế luỷ mà chúng ta đang sống là thế luỷ mà thông tin đang
chiếm thé thương phong. Thông tin và tri thức đong là những vũ khí cạnh
tranh nguyên tử cảu thời đại chúng ta. Vốn tri thức chính là sự giàu có mới
c
ủa các thể chế. Tri thức đang có giá trị gấp bội lần các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, gấp bội lần các nhà máy lớn, gấp bội lần những sổ sách và những
sấp tiền dày cộp.
Những ưu thế và những giá trị mà phần mềm quản lý tri thức đem đến
cho những công ty hoạt động trên phạm vi toàn cầu quả là không lường trước
được. Có điều quản lý và sử dụng nó như
thế nào để vừa tạo ra lợi nhuận, vừa
tạo ra một bầu sinh thái công ty. Và trước khi làm điều này thì phải hiểu
chính xác được vốn tri thức là gì và bằng cách nào để nó chỉ có thể cải thiện
các hiệu năng của một tổ chức, mà còn dẫn tới các ý tưởng tiến bộ.
muốn nhận di
ện được rủi ro, trước hết chúng ta phải biết rủi ro là gì/
quản lý rủi ro là gì? tác động của nó đối với các doanh nghiệp ra sao?
Rủi ro là độ bất định mà các doanh nghiệp gặp phải trong quá tình kinh
doanh của mình, nó có thể là nguy cơ gây tổn thất lớn cho doanh ngiệp tuỳ
theo độ bất định của nó. rủi ro là điều mà không ai mong muốn cả, nó phát
sinh một cách khách quan trong mọi hoàn cảnh và mọi trường hợp.
quản lý rủi ro là mọ
i nỗ lực phát hiện và quản lý nguy cơ có thể gấy tác
động lớn hoặc khiến các doanh nghiệp thất bại. quản lý rủi ro được coi là việc
xác lập một chiến lược bảo hiẻm có hiệu quả. Bảo hiểm thường bao quát một
phạm vi tieu chuẩn nhất định và người ta không cần phải quản lý rủi ro liên
qan đến việc đánh giá các hoạt động của tổ chức, phát hiện các nguy cơ tiềm
năng đối với tổ chức, khả năng xảy ra của chúng và có những biện pháp xửlý
chúng.
Một danh sách đầy đủ các rủi ro sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc đánh
giá nhanh các vấn đề của tổ
chức. Danh sách của rủi ro là vấn đề cần quan
tâm để bảo đảm cho một doanh nghiệp có thể hoạt động tốt và được bảo đảm
chặt chẽ.
Rủi ro thường núp dưới hai hình thức.
-Hình thức thứ nhất là: rủi ro do các điều kiện khách quan mang lại: loại
rủi ro này nằm ngoài tầm kiẻm soát của con người, ngoài ý muốn của con
người. Nó có thể xảy ra ở mọi nơi, m
ọi lúc, mọi hoàn cảnh điều kiện của con
người và xảy ra trong mọi trường hợp.
-Hình thức thứ hai là: rủi ro phát sinh ra ngay trong laong mỗi doanh
nghiệp: laọi rủi ro này xảy ra hay không? mức độ như thế nào hoàn toàn phụ
thuộc vào doanh nghiệp, phụ thuộc vào tài năng, trí tuệ, tầm kiẻm soát của
nhà lãnh đạo, của nhà hoạch định chính sách, chiến lược của riêng từng doanh
trước và Nam Thành sẽ thu hồi vốn mua 100 xe trên.
- Nhưng ác thay, xe mua mới khai thác được 8 tháng, thì Bộ giao thông
vận tải đưa ra ngay quy định mỗi xe loại đó chỉ được phép chở
1 chuyến hàng
khối lượng bằng 30 tấn/ 1 xe kể cả tự trọng. Như vậy thì lượng hàng hoá
chuyên chở phải tăng hơn gấp 3 lần; thời gian khấu hao, thu hồi vốn cũng
tăng lên cùng với số lần ấy; lại còn hỏng hóc, tu bổ , sửa chữa vì thời gian sử
dụng lâu hơn. Lúc này doanh nghiệp rơi vào tình trạng: hàng hoá vận chuyển
cho khách hàng chậm tiến độ; doanh thu và lãi suất giảm đ
i, trong khi tiền
trả lãi ngân hàng không đổi… rất có khả năng đưa doanh nghiệp đến bên bờ
vực phá sản.
Vậy một doanh nghiệp của Mỹ, nếu hoạt động trong môi trường Việt
Nam, thì rủi ro này thật khó đoán, khó lường. Đây có thể coi là loại rủi ro ở
mức độ cao.
* .Thứ hai
Loại rủi ro thứ hai là loại rủi ro do điều kiện kinh tế chính trị quốc gia,
hay thế giới đem đến: Đây cũng là loại rủi ro khó đoán, cũng thuộc mức độ
cao đối với các nhà quản trị kinh doanh.
VD: Một doanh nghiệp của công ty ký kết hợp đồng xây dựng cho Việt
Nam một nhà máy cán thép với công nghệ chuyển giao từ Mỹ; nhận cung cấp
thép phôi cho Việt Nam trong vòng 10 năm với giá 4200đ
/ 1 kg thép phôi, với
khối lượng cung cấp 1,35 triệu tấn/ 1 năm. Sau khi hợp đồng đã được ký kết;
các hoạt động bắt đầu được triển khai xảy ra chiến tranh IRAQ. Giá thép phôi
của cả thế giới đồng loạt tăng lên và giá tại Việt Namlà 4800đ/1 kg. Đồng
thời các điều kiện chuyên chở đến Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Như vậy
công ty của Mỹ kia nên bồi thường hợ
p đồng do phá hợp đồng, hay chấp
nhận phá sản. Vậy rủi ro này có thể xếp và loại rủi ro cao.
ại Việt Nam sau chiến tranh nhiệm kỳ (1997-2001) nhận xét
rằng một bộ phận dân cư Việt Nam đã cất giấu một khoản tiền tiết kiệm
khoảng 25 tỷ USD và có thể nhiều hơn ở đâu đó bí mật chứ không phải ở các
ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước.
Mặt khác, ngành quảng cáo là một ngành chịu sự quy định chặt chẽ của
pháp luật Việt Nam, các hoạt
động tiếp thị của các doanh nghiẹp Mỹ trên
lãnh thổ cũng gặp không ít trở ngại vì môi trường tiêu thụ đầu ra của họ là
Việt Nam, là một môi trường khá mới mẻ đối với việc kinh doanh- ông
Peterson nói - nó đòi hỏi sự kiên trì, bạn không thể nghĩ như cách nghĩ của
người Mỹ được.
Vậy, rủi ro tiếp theo của doanh nghiệp Mỹ khi thâm nhập thị trường
Việt Nam là vấn đề
thời gian, mất thời gian đầu để thích nghi, để tìm hiểu thị
trường tiêu dùng, để cho người tiêu dùng Việt Nam quen và thích thú tiêu
dùng sản phẩm của họ. Với khoảng thời gian này họ phải mất nhiều khoản chi
phí cho tiền thuê cơ sở kinh doanh, chi phí cho hoạt động tổ chức bọ máy, chi
phí cho việc quảng cáo tiếp thị sản phẩm của mình. Nhưng loại rủi ro này
hoàn toàn có thể tính toán và xử lý được, đồng thời tâm lý ngườ
i tiêu dùng
Việt Nam cũng rất ưa chuộng sản phẩm của Mỹ và thích dùng những hàng
hoá đắt tiền, chất lượng cao. Đây chỉ là loại rủi ro trung bình không đáng ngại
lắm đối với các doanh nghiệp Mỹ.
Tóm lại:
Rủi ro là một điều không tránh khỏi đối với mọitor chức sản xuất, kinh
doanh hay thương mại dịch vụ. Có điều: làm thế nào để nhận biết được rủi ro
sớm, quản lý nó, dự đoán được mức độ và phạm vi gây hạ
i của nó đối với
doanh nghiệp, tìm ra những nguy cơ tiềm năng mà nó có thể gây ra cho doanh
nghiệp. Từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa hay xử lý nó sao cho tránh