Tài liệu CÁC CÔNG CỤ PHÁP LÝ VÀ CHÍNH SÁCH TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN - Pdf 99


Chương 8

CÁC CÔNG CỤ PHÁP LÝ VÀ CHÍNH SÁCH
TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
8.1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG
Chính sách môi trường là những quy định của cơ quan hành chính quốc gia hoặc của cộng
đồng về lĩnh vực sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường nhằm mục tiêu “phát triển
bền vững”. Một chính sách được ban hành phải dựa trên cơ sở 5 nguyên tắc cơ bản sau [6]:
- Chính sách môi trường phải được ban hành và thực hiện hợp hiến, hợp pháp và thống nhất
- Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”
- Nguyên tắc phòng ngừa.
- Nguyên tắc hợp tác giữa các đối tác.
- Nguyên tắc sự tham gia của cộng đồng.
Sự yếu kém và thất bại của chính sách bao gồm những thất bại do sự can thiệp không phù
hợp, không kịp thời hoặc không cần thiết. Đây là trách nhiệm không những của chính quyền
mà còn là của các cơ quan hỗ trợ khi họ ủng hộ hay tài trợ cho các chính sách sai lầm này.
Chính sách yếu kém là một trong những nguyên nhân gây suy thoái môi trường, thể hiện ở
một số dạng sau:
- Thị trường có thể đang hoạt động tốt nhưng sự can thiệp của chính quyền có thể làm biến
dạng đi. Ví dụ những can thiệp của chính quyền qua thuế khóa, bù lỗ cho các xí nghiệp quốc
doanh kém hiệu quả, khuyến khích cho các dự án công cộng với việc hoàn trả kinh tế chậm
và chịu nhiều tác động môi trường;
- Nhiều khoản tài trợ tuy có là tăng thu nhập, nhưng dẫn đến sử dụng quá mức tài nguyên
gây mất cân bằng sinh thái. Ví dụ các chính sách khuyến khích các nguồn tài trợ cho phân
bón hóa học, hóa chất bảo vệ thực vật;
- Chính quyền can thiệp nhằm sửa chữa sự yếu kém của thị trường, nhưng hâu quả của sự
can thiệp này còn tồi tệ hơn nếu không can thiệp;

- Khi có những lựa chọn về ưu tiên, tiêu chuẩn về chính sách đối với môi trường, chính phủ
ngầm đưa vào các giá trị về các thiệt hại khác nhau. Điều này tốt hơn là đưa ra những lựa
chọn chỉ thông qua phân tích dữ liệu và tri thức khoa học tiến bộ, việc đánh giá môi trường
đang từng bước được mở rộng sang lĩnh vực mới của công việc hoạch định chính sách.

- 2 -

2) Mục tiêu, hình thức và phương pháp của chính sách môi trường
Phương pháp: gồm quy định và những khuyến khích kinh tế.
Việc thực thi chính sách có thể bằng hai phương pháp: điều hành (chỉ huy và kiểm soát)
hoặc khuyến khích kinh tế (áp dụng các công cụ thị trường):
- Các quy định (điều hành chính sách) chỉ phù hợp với hoàn cảnh thiếu sự cạnh tranh trong
nền kinh tế của các xí nghiệp công nghiệp, vấn đề sử dụng đất, hoàn toàn có lơi khi áp dụng
các tiêu chuẩn bắt buộc đối với các cơ sở sản xuất thải chất thải độc hại như sản xuất phân
bón, thuốc trừ sâu, sơn, in, dung môi hóa chất…Bằng việc ban hành các tiêu chuẩn và quy
định và tiêu chuẩn này đối với nhà sản xuất, chính quyền có thể cải thiện môi trường
- Các khuyến khích kinh tế (sử dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và các
công cụ kinh tế);
Trái ngược với các quy định chỉ tác động đến những người vi phạm, các chính sách dựa
trên cơ chế thị trường đã tác động đến tất cả những người gây ô nhiễm và những người sử
dụng tài nguyên bởi vì họ đều được khuyến khích tìm mọi cách làm giảm thiệt hại môi
trường để nâng cao lợi ích. Theo những nghiên cứu ở Anh và Mỹ cho thấy những khuyến
khích kinh tế đã tạo ra những chi phí thấp hơn các quy định (khoảng từ 1: 1,1 đến 1:22).
Các khuyến khích kinh tế chỉ thành công trong một nền kinh tế thị trường lành mạnh, thực
hiện đầy đủ ba nhân tố: quyền sở hữu, cạnh tranh lành mạnh và đa dạng hóa các thành phần
kinh tế - nhà sản xuất – nhà sử dụng tài nguyên. Các xí nghiệp quốc doanh được bao cấp và
bảo trợ thường không nhạy bén với chính sách kinh tế vì họ không quan tâm tới chi phí. Sự
thiếu cạnh tranh làm giảm sức ép đến cả các doanh nghiệp tư nhân nhằm giảm chi phí đến
mức thấp nhất. Việc đa dạng hóa các thành phần kinh tế và nhà sản xuất củng tạo điều kiện
làm nảy sinh nhiều sáng kiến.

2
, ô nhiễm công nghiệp, khai thác mỏ, khai thác gỗ của các công ty lớn.
Những chính sách gián tiếp đặc biệt có lợi khi việc giám sát và khả năng thực hiện của các
cấp điều hành kém hoặc khó thực hiện. Ví dụ ô nhiễm không khí do xe cộ, sử dụng năng
lượng trong gia đình, phá rừng quá mức do người dân địa phương, sử dụng hóa chất trong
công nghiệp, chất thải rắn độc hại có nguồn gốc phân tán từ hộ gia đình hay tổ hợp sản xuất
nhỏ.
Trong công tác quản lý chất thải rắn, cơ sở của việc thiết lập chính sách quản lý chất thải
rắn bao gồm các yếu tố sau [18]:
Các quy định mang tính “điều hành và kiểm soát”. Các nhà sản xuất buộc phải áp dụng các
kỹ thuật hiện đại để xử lý ô nhiễm, giảm thiểu tác động xấu ngay tại nguồn phát sinh nhằm
đạt các tiêu chuẩn, các quy định ban hành.

- 4 -

Các công cụ khuyến khích kinh tế nhằm ngăn ngừa tác động xấu của chất thải rắn đối với
môi trường. Đặc điểm của các công cụ khuyến khích kinh tế này là nó tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp đến lợi nhuận của các nhà sản xuất, từ đó buộc các nhà sản xuất phải thay đổi thái
độ trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên cho sản xuất.
8.2. CÁC CÔNG CỤ PHÁP LÝ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
8.2.1.Các tiêu chuẩn
Các tiêu chuẩn áp dụng cho mọi khía cạnh của việc quản lý chất thải rắn, bao gồm lưu
chứa, thu gom, vận chuyển, khôi phục tài nguyên và tiêu hủy cuối cùng. Các tiêu chuẩn chủ
yếu bao gồm: tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn vận hành được áp dụng cho lưu chứa, thu
gom vận chuyển chất thải rắn, củng như quản lý, vận hành, bảo dưỡng các phương tiện. Các
tiêu chuẩn này củng bao gồm các quy định về giảm thiểu và tái chế chất thải.
Tiêu chuẩn kỹ thuật và vận hành liên quan tới việc thu gom chất thải rắn, tiêu chuẩn quy
định rõ các loại hình thùng chứa, các địa điểm thu gom các thùng rác, và cả số lượng củng
như loại chất thải phải thu gom. Trong tiêu chuẩn củng quy định tần suất thu gom (ví dụ một
hoặc hai lần một tuần, tại các khu dân cư) củng như các yêu cầu đối với chính các xe cộ thu

8.2.2. Các loại giấy phép
Các loại giấy phép được cấp cho các loại phương tiện sử dụng trong chất thải rắn được phê
duyệt để đảm bảo công tác tiêu hủy chất thải rắn được an toàn. Các giấy phép địa điểm chỉ có
thể được cấp, nếu như giấy phép quy hoạch cần có đối với địa điểm này đã có hiệu lực.
Chúng có thể phải tuân theo các điều kiện do các cơ quan quản lý chất thải rắn quy định và
có thể bao gồm các hạng mục như: thời hạn của giấy phép; sự giám sát bởi người giữ giấy
phép; loại và số lượng chất thải, các phương pháp giải quyết chất thải; sự ghi lại thông tin;
các biện pháp đề phòng cần có; những giờ thích hợp cho việc giải quyết chất thải; và các
công việc cần phải hoàn thành trước khi các hoạt động được phép bắt đầu, hoặc trong khi các
hoạt động đó tiếp diễn.
Giấy phép xả thải (cô-ta xả thải): đây là giải pháp được đề xuất làm tăng quá trình tái chế
giấy loại, dầu thải, săm lốp cũ ở Mỹ[15]. Hệ thống này không những yêu cầu đạt tiêu chuẩn
môi trường của các chất thải mà nó còn tạo sự thích ứng linh hoạt cho các nhà sản xuất. Giấy
phép được quyền mua và bán giữa nơi sản xuất có chi phí cho các hoạt động tái chế cao và
nơi có chi phí cho hoạt động tái chế thấp. Những chi phí này bao gồm chi phí cho nguyên
liệu đầu vào đã qua tái chế hoặc chi phí để tái chế phế liệu sau khi xả thải.
8.2.3. Các công cụ kinh tế
1) Các lệ phí: Có 3 loại phí được áp dụng cho việc thu gom và đổ bỏ chất thải rắn: phí người
dùng, phí đổ bỏ và phí sản phẩm.

- 6 -

Phí người sử dụng dịch vụ (phí người dùng): Phí người dùng được áp dụng phổ biến cho
việc thu gom và xử lý chất thải rắn của các đô thị. Chúng được coi là những khoản tiền phải
trả thông thường cho các dịch vụ đó, rất hiếm khi được coi là biện pháp kích thích. Trong
phần lớn trường hợp, phí được tính toán để trang trải tổng chi phí và không phản ánh những
chi phí biên xã hội của các ảnh hưởng môi trường. Trong một số trường hợp, chính quyền đô
thị đã đặt ra các hệ thống định giá chất thải để cung cấp những khuyến khích liên tục cho các
hộ dân cư giảm thiểu chất thải. Ví dụ, các lệ phí có thể thay đổi theo số thùng rác (ở Seattle,
Washington), củng như hệ thống phí thu theo từng túi rác (ở New Jersey, Pensylvania,

Dựa trên kinh nghiệm ở Mỹ, tính hiệu quả của việc định giá biên trong việc giảm thiểu khối
lượng chất thải rắn cũng được nâng cao khi các cộng đồng thực hiện các quy trình tái chế đối
với giấy báo, thủy tinh, nhựa và kim loại (Anderson et al. 1989). Các phí dựa trên khối
lượng chất thải được thu gom, song đã nảy sinh các khó khăn liên quan tới chi phí giám sát
cao, bất đồng về cơ sở tính phí, lập hóa đơn.
Các phí đổ bỏ: Các phí đổ bỏ (còn gọi là phí tiêu hủy cuối cùng) là loại phí trực tiếp đánh
vào các chất thải độc hại, hoặc tại các cơ sở sản sỉnh ra hay tại điểm tiêu hủy. Mục tiêu chính
của những phí này là cung cấp cho công nghiệp những kích thích kinh tế để sử dụng các
phương pháp quản lý chất thải như giảm bớt chất thải, tái chế, và đốt là các phương pháp
thân thiện với môi trường hơn là phương pháp chôn rác có nhiều nguy cơ làm ô nhiễm nước
ngầm.
Một số nước áp dụng các chi phí đổ bỏ chất thải. Ở Bỉ, người ta thu phí đổ bỏ chất thải
công nghiệp và đô thị. Phí này phụ thuộc vào loại chất thải và phương pháp xử lý trước khi
đổ. Các chất thải được đốt hay làm phân ủ chịu phí thấp hơn chất thải đổ vào bãi chôn rác. Ở
Đan Mạch, người ta thu phí chất thải rắn từ các hộ dân cư và các hãng công nghiệp. Phí
nhằm khuyến khích việc tái chế, ở một số bang của Mỹ (ví dụ Maryland) đòi hỏi phải nộp
phí đổ bỏ các chất thải khó xử lý như các lốp xe và các dầu nhờn đã sử dụng. Ngoài ra, ở một
số bang còn thu các phí phụ cho các bãi chôn rác, hoặc các thuế đóng cửa để cấp vốn cho
việc giám sát và kiểm soát ô nhiễm, cũng như các hoạt động khôi phục tài nguyên (Bartone
1990).
Các phí sản phẩm: Phần lớn các phí sản phẩm đánh vào chất thải, đã được áp dụng đối với
các bao bì, dầu nhờn, các túi nhựa, phân bón, thuốc trừ sâu hại, nguyên vật liệu, các lốp xe và
các nhiên liệu ô tô, không trả lại được. Ví dụ ở Phần Lan, phí đánh vào bao bì đồ uống không
trả lại là tương đối cao. Chúng được áp dụng để hỗ trợ cho sự thành công của hệ thống ký
quỹ - hoàn trả các chai. Tuy nhiên theo báo cáo, thị phần của các chai nhựa không trả lại có
xu hướng tăng cao mặc dầu chịu phí cao. Phí sản phẩm của Pháp đối với dầu nhờn đi kèm
với các quy định về thu gom, cất giữ và đổ bỏ dầu đã sử dụng, là quá thấp tới chức năng pháp

- 8 -


các xí nghiệp tư nhân thực hiện các hoạt động khôi phục tài nguyên.

- 9 -

3) Các hệ thống ký quỹ - hoàn trả: các hệ thống ký quỹ - hoàn trả biểu hiện mối quan hệ giữa
thuế và trợ cấp. Các loại thuế, phí, lệ phí đặc biệt đối với các khách hàng được thiết kế để
khuyến khích tái chế và ngăn ngừa ô nhiễm. Thí dụ đối với các chai đựng đồ uống, ở Mỹ, 10
bang đã thực hiện ký quỹ bắt buộc đối với các bao bì nước giải khát và bia. Theo Moore và
cộng sự (1989), các bang áp dụng các hệ thống ký quỹ - hoàn trả này (còn gọi là ký quỹ chai)
báo cáo răng 80 – 95% các bao bì ký quỹ, đã được tự nguyện hoàn trả để tái chế. Sự kích
thích kinh tế (5 – 10 cent được trả lại cho một bao bì) đủ để tạo ra được các hành vi mong
muốn. Ở Đan Mạch – bộ trưởng môi trường đã ban hành một lệnh bắt buộc, cho phép bán bia
và nước ngọt trong các chai có thể tái sử dụng mà người dùng phải nộp tiền ký quỹ. Ở Phần
Lan, các hệ thống ký quỹ - hoàn trả đối với bao bì đồ uống rất thành công: số bao bì được
hoàn trả lại là khoảng 90%. Ở Thụy Điển, việc tăng tiền ký quỹ các can bia nhôm gấp đôi, đã
làm tăng tỷ lệ can được trả lại từ 70% đến hơn 80% (OECD 1989).
Ngoài các hệ thống ký quỹ - hoàn trả áp dụng cho các bao bì đồ uống ra, các hệ thống ký
quỹ - hoàn trả còn tỏ ra có hiệu quả trong tái chế các ăcquy ôtô và môtô. Ví dụ ở Na Uy, năm
1978 đã áp dụng ký quỹ - hoàn trả đối với vỏ thân các ôtô con và mini buyt cửa lùa. Theo hệ
thống này, người mua xe mới, phải trả một khoản tiền ký quỹ. Khi xe không còn dùng được
nữa và đưa trả về địa điểm khôi phục chính thức, thì một số tiền lớn hơn sẽ được hoàn trả lại.
Mục tiêu của chương trình này là làm giảm bớt số lượng xe bị vứt bỏ ngoài trời, và khuyến
khích sử dụng lại vật liệu. Số xe được hoàn trả lại khoảng 90 – 99%. Tiền thu nhập được
dùng để hoàn trả và tài trợ cho việc thu gom, vận chuyển và các phương tiện để đập vụn.
Tại Mỹ, luật chung của đảo Rhode quy định hệ thống ký quỹ bắt buộc đối với các ăcquy
ôtô. Mỗi acquy được bán hoặc chào bán, phải ký quỹ 5 USD vào lúc bán. Khoản tiền ký quỹ
này sẽ được miễn trả, nếu một acquy ôtô đã dùng rồi được trả lại cho cửa hàng vào lúc mua;
tiền ký quỹ cũng sẽ được trả lại, nếu như chiếc acquy cũ được trả lại trong vòng 7 ngày kể từ
khi mua mới. Khoản tiền ký quỹ được cửa hàng lưu giữ trong một tài khoản riêng. Vào tháng
7, cửa hàng phải trả lại cho nhà nước 80% tiền ký quỹ mà họ lưu giữ. Hệ thống này được coi

ai tham gia vào việc vận chuyển, xử lý hoặc đổ bỏ các chất thải độc hại) phải chịu trách
nhiệm về những tổn hại gây ra bởi các vụ xã thải chất thải độc hại vào môi trường từ các
công trường chất thải không hoạt động. Phí được thu sẽ bằng với tổn thất sẽ xảy ra; mức phí
có thể được quyết định thông qua dàn xếp hay bởi phán quyết của tòa án. Theo luật, EPA có
thể buộc bên đổ bỏ chất thải tại một địa điểm đặc biệt, phải chịu trách nhiệm về mọi chi phí
gắn với việc dọn sạch địa điểm đó, bất kể là chất thải của bên bị phát hiện đó chiếm bao
nhiêu trong tổng chất thải đổ bỏ tại điểm này, hoặc bất kể hãng này đã lưu ý tới hoạt động đổ
bỏ chất thải ra sao. Chương trình siêu quỹ của EPA cũng đặt ra chiến lược trách nhiệm pháp
lý để đối phó với những tổn thất gây ra cho môi trường trước và sau khi một địa điểm bị phát

- 11 -

hiện và được dọn sạch. Theo các quy định này, các chính quyền liên bang, bang hoặc địa
phương có thể đòi các bên hữu trách, bồi thường bằng đôla cho tài nguyên thiên nhiên bị tổn
thương, bị phá hủy bởi các vụ tràn đổ và xã thải chất thải độc hại. Theo các điều khoản trách
nhiệm pháp lý của siêu quỹ, EPA hoặc các bang chỉ cần xác định được những người gây ô
nhiễm quan trọng nhất, hoặc rõ ràng nhất, rồi sau đó sẽ lập một vụ án pháp lý, như thể những
người gây ô nhiễm này phải chịu trách nhiệm về toàn bộ vấn đề. Không nhất thiết rằng
đương sự phải sở hữu hoặc sử dụng địa điểm ấy, mới có thể bị buộc phải dọn sạch địa điểm
này. Các cơ quan cho các hãng vay tiền để có thể vận hành hoặc sử dụng công trường chất
thải độc hại, cũng có thể phải chịu trách nhiệm (Dower 1990). Quy trách nhiệm pháp lý về
những tổn thất ô nhiễm được coi là có hiệu quả. Vì các trường hợp thực tế đã thực hiện được
những khoản đền bù tổn thất lớn, nên hy vọng rằng công cụ này có thể kích thích tạo ra các
phương thức quản lý chất thải thích hợp.
8.3. CHU TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG
8.3.1. Chu trình hoạch định chính sách
Để tiếp cận chính sách trong quản lý chất thải rắn, cần lựa chọn vấn đề ưu tiên đối với chất
thải rắn trong hoạt động sinh hoạt, công nghiệp, thương mại… dựa trên 4 đặc điểm như sau:
- Gây hại đến sức khỏe con người: Đây là nguyên nhân sâu xa làm tăng xác suất phát sinh
dịch bệnh, làm tăng chi phí khám, điều trị bệnh, làm tăng tỷ lệ tử vong trong cộng đồng.

- Ban hành chính sách
Thực thi chính sách trả lời câu hỏi: “chính phủ phải làm như thế nào ?”, bao gồm:
- Đáp ứng về tổ chức cơ cấu hành chính
- Khắc phục những yếu kém về kỹ năng
- Tìm kiếm nguồn tài trợ và điều phối ngân quỹ
- Thực hiện sự phân quyền và ủy quyền
- Vận động sự tham gia của cộng đồng địa phương
- Hoàn thiện và bổ sung chính sách
8.3.2. Các bước xây dựng chính sách
- Xác định các vấn đề ưu tiên và lập kế hoạch tổng thể: Một chính sách môi trường tốt quan
trọng hơn là có nhiều chính sách. Do đó việc ưu tiên các vấn đề bức xúc để ra quyết định là
vấn đề hàng đầu. Các cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý chất thải rắn phải lập ra các kế
hoạch thu gom tiêu hủy các loại chất thải rắn phát sinh từ các hộ dân, khu thương mại và
công nghiệp và duyệt lại hay thay đổi các kế hoạch này ở những điểm cần thiết. Ví dụ ở Hà
Lan, mỗi tỉnh đều phải lập ra một kế hoạch quản lý chất thải rắn, trong đó nêu rõ chúng sẽ
được lưu chứa, thu gom, xử lý và sử dụng lại như thế nào, ở đâu và do ai. Ở Anh, kế hoạch

- 13 -

có thể bao gồm các thông tin về: Loại và số lượng chất thải rắn sẽ sản ra hoặc sẽ được mang
tới khu vực trong thời kỳ kế hoạch; cơ quan hữu trách sẽ tiêu hủy loại chất thải nào; dự tính
các người khác sẽ đổ bỏ loại chất thải nào; các phương pháp đổ bỏ; các địa điểm và thiết bị
được cung cấp và chi phí. Các kế hoạch khác có thể bao gồm các biện pháp giảm thiểu, tái sử
dụng và tái chế chất thải. Trên cơ sở kế hoạch đã lập, xác định vấn đề ưu tiên. Ở các nước
đang phát triển, những vấn đề ưu tiên được xác định gồm có:
+ Khắc phục những ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe và năng suất lao động.
+ Xây dựng kế hoạch hành động quốc gia về bảo vệ môi trường theo các vấn đề ưu tiên.
- Phối hợp hành động: Các chính sách dù lớn hay nhỏ đều phải tập hợp rất nhiều người khác
nhau cùng thực hiện, trong đó có cơ quan địa phương, cơ quan đại diện của chính phủ và các
tổ chức quần chúng, để cho các chương trình phát triển và bảo vệ môi trường được gắn kết

phải triển khai những quy định chi tiết, nếu không hầu hết các bộ luật cũ chỉ còn là những
nguyên tắc chung. Những điều khoản mới về môi trường cần hòa nhập với các điều khoản
luật pháp hiện hành của nhà nước hay với các bộ luật truyền thống trong nước.
- Đáp ứng về tổ chức về cơ cấu hành chính: Việc hoạch định chính sách thường đi nhanh
hơn khả năng quản lý để phân tích và thực hiện chính sách. Số luật và các văn bản pháp quy
tăng lên gấp bội, dẫn tới hiện tượng là có nhiều quy định trái ngược nhau, vượt ra ngoài khả
năng thực hiện của các cấp chính quyền. Do đó cần cải tổ cách thức quản lý của bộ máy nhà
nước về các vấn đề môi trường. Một bộ máy hành chính phải đảm bảo năm yêu cầu chính:
+ Cơ cấu luật pháp rõ ràng;
+ Cơ cấu hành chính thích hợp;
+ Các kỹ năng về chuyên môn;
+ Ngân sách tương xứng;
+ Phân quyền trách nhiệm.
Việc thành lập một cơ quan hành chính là rất khó khăn, phụ thuộc vào các điều kiện trong
nước , các yếu tố chính trị, khả năng tài chính và nhân lực. Do đó việc dựa vào các cơ quan
hiện có là dễ thực thi nhất. Trên thực tế tổ chức các sự vụ hành chính về môi trường ít quan
trọng hơn so với việc duy trì khả năng điều hành các công việc. Cách sắp xếp tổ chức hợp lý
bao gồm:
- Một tổ chức cao cấp chính thức để hướng dẫn thực hiện chính sách và giám sát.
- Các cơ quan quản lý môi trường thuộc cấp bộ giữ vai trò cung cấp cho các cơ quan trung
ương những ý kiến chuyên môn và giám sát việc thực hiện chính sách môi trường của các bộ.
- Các cơ quan quản lý môi trường khu vực và địa phương đảm nhiệm việc thực hiện và giám
sát ở địa phương và phản hồi thông tin cho chính quyền nhà nước.
- Khắc phục những yếu kém về kỹ năng: đối với nhiều nước đang phát triển, ở tất cả các cấp
trong bộ máy nhà nước thường thiếu cán bộ chuyên môn có trình độ. Trong khi đó ở khu vực
ngoài nhà nước, vẫn có cán bộ có trình độ nhưng không thu hút được vào khu vực nhà nước
do hạn chế tồn tại của chính sách hiện hành. Như vậy muốn quản lý tốt, cần có những chuyên
gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

- 15 -

đóng vai trò đáng kể trong việc đặt ra và buộc thực hiện các công cụ pháp lý và công cụ kinh
tế. Ví dụ: Các nhóm quan tâm tới lợi ích công cộng sẽ tham gia vào xây dựng các tiêu chuẩn

- 16 -

và các thủ tục giám sát, xem xét lại các giấy phép, giám sát các cơ quan công cộng xem họ có
làm đúng các chức trách pháp lý được giao không và khởi kiện các công nghiệp tư nhân và
các cơ quan công cộng vi phạm các yêu cầu môi trường. Ngoài ra, các công ty Bảo hiểm có
thể xây dựng các tiêu chuẩn vận hành để nhận được sự bảo hiểm trách nhiệm, các tổ chức
nghiệp đoàn có thể được yêu cầu tuyên bố xác nhận trong quá trình xây dựng tiêu chuẩn hoặc
tiến hành các nghiên cứu và triển khai công nghệ được trợ cấp. Các công ty tư nhân hoặc các
tổ chức khác có thể được tham gia vào việc xây dựng tiêu chuẩn, tự giám sát, áp dụng các hệ
thống ký quỹ - hoàn trả và đáp ứng các tiêu chuẩn và các yêu cầu về môi trường liên quan
đến việc cung cấp các dịch vụ đô thị.
Sơ đồ một hệ thống kiểm soát pháp lý điển hình được thể hiện ở hình 8.2.
Pháp luật Phương tiện
Các yếu tố hạt nhân
Hệ thống quản lý chất thải toàn bộ
Các yếu tố lựa chọn
1.Định nghĩa
2.Đăng ký hộ phát thải
3.Trách nhiệm chăm sóc
4. Đăng ký phương tiện
vận tải
5. Kiểm soát nghiệp vụ
vận chuyển
Dịch vụ trợ giúp
6. Kiểm soát vận chuyển
xuyên biên giới
7.Đăng ký phương tiện

tiêu hủ
y)
Hình 8.2. Sơ đồ một hệ thống kiểm soát pháp lý điển hình
Cưỡng chế - 17 -

8.5. NHU CẦU TĂNG CƯỜNG THỂ CHẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Trong phần lớn các nước đang phát triển, các cơ quan ở mọi cấp của chính phủ, chưa lập
được ra các chương trình kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải hữu hiệu có lưu ý tới các
vấn đề riêng biệt của đất nước; các nước này chưa có đủ năng lực để xây dựng và thực hiện
thỏa đáng các tiêu chuẩn, quy định, các hệ thống phí. Sự thực hiện và cưỡng chế thi hành các
công cụ pháp lý và kinh tế bị hạn chế bởi: thiếu tri thức chuyên sâu, vốn và trang thiết bị;
thiếu ý chí chính trị, thiếu sự ủng hộ và tham gia của công chúng; các trách nhiệm thể chế
không rõ ràng, chồng chéo và thiếu phối hợp, thiếu sự quản lý tài chính hữu hiệu để thu các
loại phí. Do vậy để thiết kế và thực hiện các chiến lược kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất
thải, các cơ quan quốc gia, tỉnh và địa phương ở các nước đang phát triển, cần được tăng
cường mạnh mẽ về nguồn nhân lực, cơ cấu tổ chức, và tài chính. Trong một số trường hợp,
cần thành lập thêm các cơ quan, đơn vị môi trường mới trong các cơ quan đang hiện hữu.
8.6 CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT NAM
8.6.1. Đường lối chiến lược
Quan điểm của Đảng và nhà nước Việt Nam cho rằng công tác quản lý chất thải rắn phải
được xã hội hóa sâu rộng và là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong việc quy hoạch
xây dựng kế hoạch phát triển và quản lý các đô thị và khu công nghiệp ở Việt Nam. Việc
giảm thiểu sự phát sinh chất thải rắn tại nguồn, thu hồi, tái sử dụng và tái chế chất thải rắn
được coi là quốc sách nhằm giảm bớt gánh nặng cho việc xử lý chất thải tại “cuối đường
ống”, tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn ngày càng trở nên khan hiếm ở Việt Nam.
Đóng lệ phí để thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt tại các đô thị là trách nhiệm của mọi
người dân nhằm giảm bớt gánh nặng đối với nguồn ngân sách của nhà nước dành cho việc

Chính sách quản lý chất thải rắn khu đô thị và khu công nghiệp sẽ được xây dựng đồng bộ
với các công cụ kinh tế phù hợp nhằm thay đổi hành vi từ ép buộc sang khuyến khích. Những
định hướng lớn về chính sách quản lý chất thải rắn nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung
gồm:
- Khuyến khích về thuế dưới dạng trợ cấp đầu tư cho các cơ sở sản xuất công nghiệp chấp
nhận chuyển đổi hoặc áp dụng công nghệ sản xuất sạch, không phát sinh hoặc phát sinh ít
chất thải. Khoản trợ cấp này được tính theo tỷ lệ % trên tổng chi phí đầu tư để thay đổi quy
trình sản xuất hoặc thay đổi quy trình công nghệ sạch với các thiết bị kiễm soát ô nhiễm hiệu
suất cao. Chỉ cho phép đi vào hoạt động các khu công nghiệp và các cơ sở sản xuất khi đã có
các giải pháp bảo vệ môi trường hữu hiệu được các cơ quan có thẩm quyền phe duyệt. Các
nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với các chất thải phát sinh, nhất là chất thải
nguy hại và chất thải rắn không phân hủy được.

- 19 -

- Khuyến khích thành lập các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã và
cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển và xử
lý chất thải rắn. Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi về tài chính đã được quy định trong luật
khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi). Riêng các doanh nghiệp xử lý chất thải rắn cần có
trợ giúp từ ngân sách, vì đây là công việc bắt buộc phải tiến hành, ít có khả năng sinh lợi và
chi phí đầu tư ban đầu rất lớn.
- Công nhân trực tiếp làm việc trong các khâu thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn phải
được xếp ở ngành lao động nặng và độc hại, từ đó chế độ tiền lương, phụ cấp độc hại, bảo hộ
lao động phải được xây dựng cho phù hợp.
- Coi việc thu nhặt phế thải như một ngành nghề. Xét về tổng thể thì những người thu nhặt
phế thải là rất có lợi cho công tác quản lý chất thải rắn vì họ thu hồi được tỷ lệ lớn chất thải
rắn để đưa vào tái chế và tái sử dụng, vì vậy lực lượng thu nhặt phế thải cần được tổ chức và
quản lý.
- Kiên quyết xử lý các vi phạm Luật Bảo vệ môi trường , quy chế, quy tắc vệ sinh đô thị, có
chế độ khen thưởng và xử phạt thích đáng.

hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn. Từng bước cân đối thu chi trong việc thu
gom, vận chuyển. Trên cơ sở tính đúng và tính đủ mọi chi phí, để từ đó xác định mức thu phí
vệ sinh. Phí vệ sinh sẽ được điều chỉnh theo từng giai đoạn phù hợp với thu nhập bình quân
của người dân. Với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp cần thiết phải tính đủ các chi phí
ngoại lai dưới dạng phí như phí ô nhiễm môi trường.
8.6.4. Thiết lập hệ thống quan trắc, phân tích môi trường quốc gia
Để thực hiện hiệu quả công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói
riêng, một trong những điều kiện quan trọng là phải có đầy đủ thông tin. Những thông tin này
phải có độ tin cậy, chính xác để có thể so sánh được theo thời gian và không gian. Việc quan
trắc môi trường là quá trình quan sát và đo đạc thường xuyên theo các mục tiêu xác định một
hoặc nhiều chỉ tiêu về tình trạng vật lý, hóa học, thành phần … của yếu tố môi trường.
Bộ khoa học công nghệ và môi trường cần thiết lập một hệ thống quan trắc và phân tích
môi trường trong toàn quốc, trong đó có quan trắc chất thải rắn. các thông số quan trắc về
chất thải rắn gồm: tổng lượng chất thải rắn phát thải của mỗi đô thị và khu công nghiệp, tổng
lượng thu gom được, tổng lượng chất thải nguy hại. Riêng với các thành phố và khu công
nghiệp lớn, tiến hành phân tích chất thải rắn theo tỷ lệ % trọng lượng các thành phần cơ bản.
Xây dựng hệ thống lưu trữ và trao đổi thông tin tự động hóa bao gồm tất cả các trạm của
mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia.
Kết quả hoạt động của mạng lưới quan trắc và phân tích môi trường sẽ giúp cho các cấp
quản lý có cơ sở đề ra được những biện pháp tối ưu nhằm quản lý chất thải rắn một cách có
hiệu quả. - 21 -

8.6.5. Nâng cao nhận thức của cộng đồng
Thường xuyên nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc thực hiện trách nhiệm, nghĩa
vụ và quyền hạn đã được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường, bằng cách:
- Tổ chức các chiến dịch truyền thông gây ấn tượng mạnh nhằm phát động phong trào toàn
dân thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và chỉ thị: “tăng cường công tác bảo vệ môi trường

- Đào tạo chuyên sâu về quản lý bằng các khóa học trong nước;
- Đào tạo ở nước ngoài thông qua các học bổng, tham dự các hội nghị, hội thảo quốc tế…
để nắm bắt kiến thức và kỹ thuật từ các nước.
- Trao đổi chuyên gia để học tập kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ.
Tăng cường hợp tác quốc tế, thiết lập các mối quan hệ và tham gia tích cực vào các hoạt
động quốc tế để trao đổi thông tin trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn, tìm kiếm sự trợ giúp
trong việc thu nhập, xử lý, phân tích, lưu giữ các số liệu (ngân hàng dữ liệu) làm cơ sở cho
việc hoạch định các kế hoạch tổng thể về quản lý chất thải rắn của từng đô thị.

- 23 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status