Sử dụng các công cụ pháp lý và chính sách để quản lý chất thải rắn
TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TP.HCM
VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ CHẤT THẢI NGUY HẠI
SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ PHÁP LÝ VÀ CHÍNH SÁCH
ĐỂ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
1.
Trang 1
Sử dụng các công cụ pháp lý và chính sách để quản lý chất thải rắn
MỤC LỤC
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG
1.1 Đánh giá chi phí môi trường.........................................................................................
1.2 Phương pháp xây dựng chính sách môi trường............................................................
2. CÁC CÔNG CỤ PHÁP LÝ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
2.1 Các tiêu chuẩn..............................................................................................................
2.2 Các loại giấy phép........................................................................................................
2.3 Các công cụ kinh tế.......................................................................................................
3. CHU TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG
3.1 Chu trình hoạch định chính sách..................................................................................
3.2 Các bước xây dựng chính sách.....................................................................................
4. CÁC MỐI QUAN HỆ VÀ THỂ CHẾ
5. NHU CẦU TĂNG CƯỜNG THỂ CHẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
6. CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT NAM
6.1 Đường lối chiến lược....................................................................................................
6.2 Chính sách quản lý chất thải rắn..................................................................................
6.3 Các giải pháp để thực hiện chiến lược.........................................................................
6.4 Thiết lập hệ thống quan trắc, phân tích môi trường quốc gia......................................
6.5 Nâng cao nhận thức của cộng đồng..............................................................................
6.6 Giáo dục và đào tạo nhận thức.....................................................................................
PHỤ LỤC
Bước đi đầu tiên trong hoạch định chính sách là đánh giá chi phí môi trường. Quá
trình này thường khó chính xác. Các chỉ tiêu đánh giá thường tập trung vào:
- Sử dụng giá cả thị trường : giá cả thị trường được sử dụng để đánh giá khi thiệt hại môi
trường dẫn đến những thiệt hại về sản xuất hoặc sức khỏe. Với thiệt hại về sản xuất có thể
thông qua giá cả để tính tiền. Với ảnh hưởng đến sức khỏe có thế dùng chỉ số về bệnh tật
hay sức khỏe, chết yểu, suy dinh dưỡng…
- Chi phí thay thế: đây là chi phí dùng để nhà đầu tư khắc phục hậu quả thiệt hại về môi
trường do dự án của mình gây ra.
- Thị trường thay thế: sự xuống cấp của môi trường có thể được đánh giá thông qua hậu quả
của nó đến các thị trường khác - đặc biệt là giá trị tài sản và tiền lương. Ví dụ như mức
Trang 3
Sử dụng các công cụ pháp lý và chính sách để quản lý chất thải rắn
lương và phụ cấp ở các vùng ô nhiễm, giá cả nhà cửa cao nếu nó thông thoáng và nằm ở
vùng không khí trong lành.
- Các nghiên cứu: chi phí này nhằm tìm kiếm các nguồn thông tin chính xác về môi trường
có thể giúp ích cho việc đầu tư và hoạch định kế hoạch quản lý.
1.2 Phương pháp xây dựng chính sách môi trường
a. Lựa chọn ưu tiên thông qua đánh giá chi phí
- Việc so sánh chi phí khắc phục thiệt hại với lợi ích bảo vệ môi trường (chi phí phòng
ngừa) sẽ giúp cho nhà hoạch định chính sách có những quyết định chính xác hơn.
- Việc ban hành các tiêu chuẩn môi trường cũng cần dựa trên sự phân tích chi phí - lợi ích
để sao cho các tiêu chuẩn này khả thi trong điều kiện cụ thể. Những tiêu chuẩn yêu cầu chi
phí thấp có thể được đề ra chặt chẽ và nghiêm ngặt hơn.
- Khi có những lựa chọn về ưu tiên, tiêu chuẩn về chính sách đối với môi trường, chính phủ
ngầm đưa vào các giá trị về các thiệt hại khác nhau. Điều này tốt hơn là đưa ra những lựa
chọn chỉ thông qua phân tích dữ liệu và tri thức khoa học tiến bộ, việc đánh giá môi
trường đang từng bước được mở rộng sang lĩnh vực mới của công việc hoạch định chính
sách.
b. Mục tiêu, hình thức và phương pháp của chính sách môi trường
Phương pháp: gồm quy định và những khuyến khích kinh tế.
Các chính sách quy định lượng ô nhiễm hoặc sử dụng tài nguyên thường ở dạng các
quy định, tuy nhiên trong cơ chế thị trường, việc thương mại hóa các giấy phép (đấu thầu,
mua bán) vẫn có thể nâng cao hiệu quả sử dụng giấy phép theo định lượng.
Các chính sách định lượng rất thích hợp để kiểm soát các chất thải nguy hại, kiểm soát
các vấn đề ô nhiễm gây ảnh hưởng trực tiếp cho sức khỏe con người và đối với tài nguyên
thiên nhiên như là môi trường sống duy nhất (đất ướt, bờ biển nhạy cảm, các rạn san hô, rừng
mưa nhiệt đới).
Hình thức:
Có thể là chính sách trực tiếp hay gián tiếp. Chính sách gián tiếp tác động đến chất
lượng môi trường bằng cách gây ảnh hưởng hoặc quy định đối với việc sử dụng tài nguyên
hay hàng hóa. Chính sách trực tiếp thường nhằm vào thuế phát thải, lệ phí xả thải hoặc thuế
khai thác tài nguyên. Những hạn chế khi áp dụng chính sách trực tiếp:
- Các tác động môi trường ngày càng nhiều và càng phân tán, đòi hỏi chi phí cao cho việc
giám sát liên tục.
- Khó có thể giám sát đối với những người gây ô nhiễm hoặc sử dụng tài nguyên ở quy mô
nhỏ và phân tán (ví dụ: các hoạt động đào đãi vàng, chặt đốn củi…)
Trang 5
Sử dụng các công cụ pháp lý và chính sách để quản lý chất thải rắn
- Sự giám sát tùy thuộc khả năng công nghệ.
- Các vấn đề môi trường thường không bị bó gọn trong biên giới hành chính quốc gia để
chịu sự giám sát.
Do đó các chính sách trực tiếp chỉ thích hợp với việc quản lý phát thải, xả thải của các
xí nghiệp lớn về bụi, khí SO
2
, ô nhiễm công nghiệp, khai thác mỏ, khai thác gỗ của các công
ty lớn.
Những chính sách gián tiếp đặc biệt có lợi khi việc giám sát và khả năng thực hiện của
các cấp điều hành kém hoặc khó thực hiện. Ví dụ: ô nhiễm không khí do: xe cộ, sử dụng năng
lượng trong gia đình, phá rừng quá mức do người dân địa phương, sử dụng hóa chất trong
công nghiệp, chất thải rắn độc hại có nguồn gốc phân tán từ hộ gia đình hay tổ hợp sản xuất
luật bắt buộc cư dân phải thu nhặt lại những vật có thể tái chế tại nơi đổ rác bên lề đường.
Một số bang yêu cầu phải phân loại các chất thải từ các hộ thành các loại khác nhau, trước khi
thu gom.
Chính phủ Pháp quy định phải dùng các vật liệu, nguyên tố hay các nguồn năng lượng
nhất định để tạo điều kiện dễ dàng cho việc khôi phục lại các vật liệu thành phần. Chính phủ
cũng có thể yêu cầu các nhà chế tạo và các nhà nhập khẩu sử dụng các vật liệu tận dụng để
bảo vệ môi trường hoặc giảm bớt sự thiếu hụt nguyên, vật liệu nào đó. Tuy nhiên cần phải
tham khảo và thương lượng nhất trí với các tổ chức nghiệp đoàn trước khi áp đặt các yêu cầu
này.
Ở Triều Tiên, luật “khôi phục nhựa phế thải” yêu cầu việc tái chế nhựa phế thải phải
do các công ty thích hợp thực hiện.
Các tiêu chuẩn kỹ thuật và vận hành cũng chi phối việc chọn địa điểm, thiết kế, xây
dựng và đóng cửa các phương tiện xử lý chất thải rắn. Ví dụ ở Mỹ, luật bảo tồn và khôi phục
tài nguyên (resourrce conservation and recovery Act - RCRA) cấm các bãi chôn lấp hở, và
yêu cầu các bãi chôn lấp phải được nâng cấp đạt tiêu chuẩn các bãi vệ sinh.
Các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng bao gồm các hệ thống phát hiện rò rỉ, giám sát nước
ngầm, những hạn chế về địa điểm và các biện pháp khắc phục. Ở pháp, các tiêu chuẩn kỹ
thuật đề cập tới bố trí mặt bằng địa điểm, cảnh quan, kiểm soát và quản lý nước, quản lý các
khí lên men, kiểm soát nước chảy tới để tránh sự xâm nhập của các chất thải công nghiệp đặc
biệt và kiểm soát sau đóng bãi.
2.2 Các loại giấy phép
Trang 7
Sử dụng các công cụ pháp lý và chính sách để quản lý chất thải rắn
Các loại giấy phép được cấp cho các loại phương tiện sử dụng trong chất thải rắn
được phê duyệt để đảm bảo công tác tiêu hủy chất thải rắn được an toàn. Các giấy phép địa
điểm chỉ có thể được cấp, nếu như giấy phép quy hoạch cần có đối với địa điểm này đã có
hiệu lực. Chúng có thể phải tuân theo các điều kiện do các cơ quan quản lý chất thải rắn quy
định và có thể bao gồm các hạng mục như: thời hạn của giấy phép; sự giám sát bởi người giữ
giấy phép; loại và số lượng chất thải, các phương pháp giải quyết chất thải; sự ghi lại thông
tin; các biện pháp đề phòng cần có; những giờ thích hợp cho việc giải quyết chất thải; và các
tại sân và lề đường (phí thu gom tại sân lớn hơn 40% so với tại lề đường để khuyến khích hạ
thấp chi phí thu gom); mức phí rác thải đổ thêm (một tích kê rác trả tiền trước giá 5 USD
dùng cho rác đổ thêm); mức phí rác sân; mức phí thùng nhỏ (dịch vụ thùng rác nhỏ 100 lít;
10,7 USD/tháng cho những ai thải ra ít rác, hoặc có thể tái chế, làm phân ủ phần lớn các rác
thải của họ);và thu gom các vật cồng kềnh. Tháng giêng năm 1989, chương trình Seattle đã
được hoàn thành: lượng rác thu gom hàng tháng vào năm đó đã giảm 30% so với năm 1988.
Hệ thống thu gom chất thải rắn ở New Jersey và Pennsylvania minh họa thêm về tính
hiệu quả của hệ thống trả phí theo từng túi rác. Tại High Bridge, New Jersey, mỗi thùng hoặc
túi 120 lít đặt ở lề đường để thu gom hàng tuần cần có một tem dán của thành phố (năm 1988,
các hộ đã mua 52 tem dán trị giá 140 USD, còn có các tem dán bổ sung, mỗi băng 10 tem trị
giá 12,5 USD). Kể từ khi áp dụng hệ thống này từ năm 1988, khối lượng rác cư dân thải ra đã
giảm đi 25%; khối lượng rác thu gom đã giảm từ 8,5 tấn mỗi ngày xuống còn 6,3 tấn mỗi
ngày. Tại Perkasie, Pensylvania, việc áp dụng phí tính theo túi vào năm 1988 đã giảm được
quá nửa khối lượng rác thải rắn; chi phí đổ rác thải rắn đã giảm từ 30 – 40%. Phần lớn sự
giảm bớt này là do việc tách riêng và tái chế thủy tinh, giấy và các can nhôm. Tuy nhiên, một
kết quả khác của chương trình này là một số doanh nghiệp địa phương đã phải xích và khóa
thùng rác của họ. Ngoài ra, một số cư dân địa phương đã đốt rác bất hợp pháp trong các lò
sưởi của mình (Anderson et al, 1993).
Dựa trên kinh nghiệm ở Mỹ, tính hiệu quả của việc định giá biên trong việc giảm thiểu
khối lượng chất thải rắn cũng được nâng cao khi các cộng đồng thực hiện các quy trình tái chế
đối với giấy báo, thủy tinh, nhựa và kim loại (Anderson et al. 1989). Các phí dựa trên khối
lượng chất thải được thu gom, song đã nảy sinh các khó khăn liên quan tới chi phí giám sát
cao, bất đồng về cơ sở tính phí, lập hóa đơn.
Các phí đổ bỏ:
Trang 9
Sử dụng các công cụ pháp lý và chính sách để quản lý chất thải rắn
Các phí đổ bỏ (còn gọi là phí tiêu hủy cuối cùng) là loại phí trực tiếp đánh vào các chất
thải độc hại, hoặc tại các cơ sở sản sỉnh ra hay tại điểm tiêu hủy. Mục tiêu chính của những
phí này là cung cấp cho công nghiệp những kích thích kinh tế để sử dụng các phương pháp
quản lý chất thải như giảm bớt chất thải, tái chế là các phương pháp thân thiện với môi trường