1
Phần 1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Những năm gần đây, ngoài giá trị dinh dưỡng đã được biết đến từ rất lâu, nấm còn
được đề cập đến như một nguồn dược liệu quý giá có khả năng chữa trị được nhiều
bệnh như nấm linh chi (Ganoderma lucidium), nấm hầu thủ (Hericium enrinaceum)…
Khoa học phát triển, dược tính của nấm ngày càng được phát hiện nhiều. Nó có khả
năng chữa trị các bệnh về tim mạch, ung thư, nâng cao sức đề kháng của cơ thể…
Trong điều kiện khí hậu ở Việt Nam rất thích hợp cho việc nuôi trồng các loại nấm,
vừa tận dụng những thuận lợi có sẵn vừa tạo ra nguồn nguyên liệu phục vụ cho nhu
cầu chữa bệnh trong nước. Do đó việc tìm ra phương pháp cũng như môi trường nuôi
trồng thích hợp đối với từng loại nấm để đạt được hoạt tính nhiều nhất là điều cần
thiết.
Người ta biết đến hiệu quả chữa bệnh của nấm vân chi thông qua hai hợp chất
chính trích từ nấm này là PSP (polysaccharide peptide) và PSK (polysaccharide
Kureha). Các chất này được coi là có khả năng chữa trị ung thư, tăng miễn dịch cơ thể,
chống các phản ứng phụ của xạ trị và hoá trị, ức chế sự nhân lên của HIV… Nhưng
hiện nay, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về vân chi và ngành trồng nấm vân
chi lại chưa phát triển. Trong khi đó ở Nhật và các nước khác đã có rất nhiều sản phẩm
thương mại từ vân chi. Các biệt dược bào chế từ nấm vân chi Trametes versicolor
đứng đầu trong 10 loại thuốc chống ung thư được tiêu thụ mạnh nhất tại thị trường
Nhật Bản, với doanh số năm 1991 đạt tới 358 triệu USD, vượt xa cả Tamoxifen,
interferon, cis-Blastin. Những sản phẩm thương mại từ PSP và PSK chiếm 25% thị
phần ở thị trường Nhật (1991).
Với mong muốn phát triển hơn nữa khả năng nuôi trồng và ứng dụng nấm vân chi
trong ngành dược phẩm, chúng tôi thực hiện đề tài: Khảo sát sinh trưởng một chủng
nấm vân chi đen Trametes versicolor có nguồn gốc từ Trung Quốc. 3
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Khái quát về nấm trồng
2.1.1. Giới thiệu sơ lược [2],[8],[17],
[18], [30]
Tất cả sinh vật sống đều thuộc một trong năm giới. Nấm thuộc một giới riêng gọi
là giới nấm (theo hệ thống phân loại của R.H. Whitaker, 1969). Nấm bao gồm cả nấm
mốc, nấm men và các loài nấm lớn có quả thể. Nấm không quang hợp được. Do đó nó
bắt buộc phải sống trên những chất hữu cơ hoại mục hoặc sống nhờ các động thực vật
khác. Nấm là sinh vật hoại sinh, phân huỷ các chất hữu cơ để lấy chất dinh dưỡng.
Nấm dinh dưỡng bằng cách tiến hành sự hấp thụ thức ăn trên toàn bộ bề mặt của sợi
nấm thông qua phương thức thẩm thấu. Trong trường hợp nấm dinh dưỡng bằng
những chất hữu cơ cần thiết đã có sẵn gọi là dị dưỡng (heterotrophe); bằng những chất
hữu cơ chết gọi là hoại sinh (saprophyte). Nấm sử dụng các mô sống để dinh dưỡng
gọi là ký sinh (parasite).
Trong tự nhiên, nấm đóng một vai trò quan trọng, là máy tái chế sơ cấp. Chúng
tạo ra các enzyme để phân huỷ vật chất hữu cơ (thường là các cấu tử gỗ). Phần lớn
nấm có khả năng sản sinh ra các enzyme phá huỷ nguyên liệu thực vật thuộc lớp nấm
túi (Ascomycetes) và nấm đảm (Basidiomycetes). Nấm cư trú trên gỗ đã chết chủ yếu
phân hủy một hoặc nhiều cấu tử gỗ, gây mục mạnh.
Hiện nay khoá phân loại nấm hiện đại bao gồm các ngành và ngành phụ như sau:
• Ngành nấm nhày (Myxomycota)
• Ngành nấm thật (Eumycota)
hệ sợi (nuôi cấy lên men trong môi trường lỏng). Cả thành phần tế bào và các hợp chất
biến dưỡng thứ cấp của nấm đều có tác dụng trên hệ miễn dịch của tế bào chủ và do đó
có thể chữa được nhiều bệnh khác nhau. Hướng kết hợp các tác nhân có tiềm năng
miễn dịch với các liệu pháp chống ung thư như giải phẫu, hoá trị, xạ trị đã đạt được
bước tiến đáng kể ở Trung Quốc, Nhật Bản nơi mà nấm được xem như một nguồn
kháng ung thư hàng thế kỷ qua.
2.2. Tổng quan về nấm vân chi Trametes versicolor (L.:Fr) Pilat
2.2.1. Giới thiệu về nấm vân chi: tên gọi và vị trí phân loại
Vân chi có nhiều tên gọi rất khác nhau. Tên tiếng Anh là Turkey tail (đuôi gà
tây). Ở Trung Quốc, người ta gọi là “Yunzhi” có nghĩa là loại nấm có hình dạng như
5
mây. Người Nhật thì gọi là “Karawatake” do người ta hay tìm thấy chúng ở những nơi
gần bờ sông. [19] ,
[22]
Vân chi có tên khoa học phổ biến hiện nay là Trametes versicolor sau một thời
gian dài được nghiên cứu và đặt tên khác nhau. Trametes versicolor (L.:Fr) Pilat, tức
là loài Coriolus versicolor (L.:fr) Quél, được chính Carl von Linnaeus tìm ra và đặt tên
đầu tiên: Boletus versicolor L. (1753). Sau đó Christiaan Hendrik Persoon (1805) lại
xác định với tên Boletus vulutinus Pers., và Elias Magnus Fries (1821) đưa vào chi
Polyporus (với hai loài: P. versicolor Fr và P. Vulutinus Fr). Lucien Quélet (1886) lại
đưa vào Coriolus. Sau 50 năm, Abert Pilát (1936) đề nghị và được đa số các nhà nấm
học thống nhất xếp vào chi Trametes, họ polyporacea. Các hệ thống phân loại về sau
cũng phù hợp với quan điểm trên, nên hầu hết những tác giả gần đây đều sử dụng danh
pháp đã chỉnh lý: Trametes versicolor.[14]
Vân chi là một loại nấm lớn thuộc phân lớp Basidiomycetes gồm khoảng 22 000
loài đã biết. Nấm vân chi gây hoại sinh cây bệnh, cư trú trên gỗ đã chết, thuộc loại
nấm gây mục trắng mạnh có thể phá huỷ đồng thời tất cả các cấu tử gỗ (hemicellulose,
cellulose, lignin), giúp phá vỡ các gốc cây già, cây chết vì thế chất dinh dưỡng của cây
đồng tâm, chồng chất xen kẽ nhau như ngói lợp, nhìn rất giống đuôi gà tây đang xòe.
Mũ nấm mỏng, phẳng hoặc hơi quăn hình bán nguyệt, mọc thành cụm kích thước 1 – 6
x 1 – 10 cm. Mặt trên tai nấm có lớp lông mịn, mền như nhung, có màu sắc rất khác
nhau tùy chủng từ đen, nâu, xám, xanh đến đo đỏ, trắng hay vàng nhạt. Màu sắc các
chủng vân chi phụ thuộc vào môi trường và hệ di truyền. Mặt dưới tai nấm màu trắng,
màu kem hay hơi xám có hàng ngàn ống nhỏ. Tất cả các chủng vân chi đều có các ống
nhỏ ở mặt dưới, đây là đặc điểm giúp phân biệt vân chi với nấm Stereum hissutum.
Các ống này rất nhỏ khoảng 4 – 5 ống/mm, có vách ngăn ngang dày. Miệng ống tròn
hay hơi tròn. Các ống này giúp gia tăng diện tích mang bào tử. Thịt nấm màu trắng
hoặc trắng kem, gồm nhiều sợi dày 0,6 – 2,5 mm.
2.2.3. Đặc điểm vi học [14],
[21]
Hệ sợi kiểu trimitic, sợi dinh dưỡng trong suốt, có vách mỏng, có khoá rõ ràng,
đường kính cỡ 2,5 – 3 µm; sợi cứng ở vùng thịt nấm có vách rất dày, không thấy có
vách ngăn tế bào, đường kính tới 4 – 6 µm, rất hiếm khi thấy phân nhánh; sợi bện cũng
có vách ngăn ngang, đường kính sợi nhỏ hơn (2 – 4 µm). Không thấy có liệt bào, song
7
có thấy cystidioles dạng fusoid, kích thước 15 – 20 x 4 – 5 µm, có khoá ở phần gốc.
Đảm bào hình chùy có bốn tiểu bính (nơi đính của bốn bào tử), có khoá ở phần gốc.
Bào tử đảm hình trụ, hơi cong hình quả dưa gang, trong suốt, nhẵn, kích thước 5 – 6 x
1,5 – 2 µm.
2.2.4. Đặc điểm phân bố [19],[22],
[25], [34]
Vân chi là loại nấm phá gỗ, mọc hoang, thường mọc trên các cây thân gỗ đã chết
hoặc khô, đặc biệt là gỗ sồi, dễ dàng tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới. Vân chi thích
hợp đối với những nơi có nhiều mưa, ẩm ướt, gần bờ sông… ở vùng ôn đới Bắc Mỹ,
châu Á, châu Âu và là loại nấm sinh sản nhiều nhất ở Bắc Bán Cầu.
Lau cồn
Tách đôi
Tách thịt
ấ
Tai nấm
Mô thịt Bào tử
Ngâm nước vô
trùn
g 4 giờ
Cấy truyền lên môi trường
thạch nghiêng hoặc thạch đĩa
Petri.
Nuôi ủ ở nhiệt độ phòng
Kiểm tra t
ạp nhiễm
Giống gốc
Giữ giống Nhân giống cho sản xuất
Giá thể có hệ sợi
Sơ đồ 2.2: Quy trình phân lập tổng quát
Có nhiều cách để phân lập nấm để tạo giống gốc nhưng hiệu quả nhất là phân lập
từ quả thể. Vì đây là phương pháp nhân giống vô tính. Trong khi tách hệ sợi nấm thì
không rõ có đúng là nấm cần phân lập hay nấm mốc hoặc nấm dại khác. Còn dùng bào
tử nấm cũng không đơn giản vì đây là giai đoạn sinh sản hữu tính, nên nấm hình thành
có thể thay đổi đặc tính. Ngoài ra, phương pháp phân lập từ quả thể hạn chế được hiện
tượng bị lẫn hay nhiễm tạp các loại vi sinh vật khác vì sử dụng trực tiếp các mô thịt
nấm. Nguyên tắc của phương pháp này là chọn tai nấm điển hình và ở giai đoạn trưởng
thành, để dễ đánh giá chất lượng giống. Mô thịt nấm tách ở những vị trí kín đáo, ít tiếp
xúc với các nguồn bệnh nhất.
Môi trường phân lập thường là môi trường dinh dưỡng bao gồm ba thành phần cơ
10
Mùn cưa bổ sung
dinh
dưỡng
Phối trộn
Ẩm đ
ộ: 62 – 65
%
Chai nhựa (thủy
tinh
), bao PP,PE
Phân lập
Giống gốc
MT th
ạch
Khử trùng
Túi phôi, chai
phôi
Nhân giống
Giống sản xuất
MT h
ạt
Cưa khúc
Gỗ khúc
Cấy
giống
Cấy
giống
khúc gỗ, cách nhau 5 cm, sâu 3 – 5 cm.
11
Gieo meo giống cho đầy lỗ cấy, sau đó đậy lại bằng chính miếng gỗ đục từ lõi ra.
Dán giấy parafin hoặc nhỏ sáp lên bao bọc kín lỗ cấy.
Thao tác đột lỗ cấy và gieo meo giống nên làm kế tiếp nhau và nhanh để tránh
nhiễm tạp.
9 Nuôi ủ gỗ
Sau khi gieo meo giống, gỗ được ủ ở điều kiện: độ ẩm 75 – 85 %, nhiệt độ
khoảng 25 – 30
o
C.
Sau 15 – 20 ngày, kiểm tra sự lan tỏa của sợi nấm và chuyển sang ủ trong đất với
cát. Tưới phun giữ ẩm trong khoảng 30 ngày.
9 Vùi đất
Chỉ có linh chi mới vùi đất, còn vân chi và một số nấm khác người ta đem vào
nhà tưới tiếp tục tưới phun cho đến khi xuất hiện quả thể.
Các khúc gỗ được cưa thành đoạn 15 – 20 cm (có thể kiểm tra thấy hệ sợi nấm
lan trắng mặt gỗ). Vùi cắm các khúc gỗ xuống nền đất đã làm kỹ và khử trùng diệt mối
mọt, sâu bọ,… Bên trên làm thành mái vòm che mưa nắng và ánh sáng trực xạ.
Người ta thường vùi các khúc gỗ để nhô lên cỡ 5 – 7 cm.
Tưới phun sương giữ ẩm độ không khí 80 – 95% và thông thoáng. Sau 15 – 20
ngày sẽ có sự xuất hiện mầm quả thể, tiếp tục tưới phun và chăm sóc cẩn thận vì giai
đoạn này nấm rất hay bị sâu.
b. Quy trình nuôi trồng trên giá thể tổng hợp
9 Phối trộn cơ chất
Tận dụng các loại phế liệu nông nghiệp (cùi bắp, rơm rạ, mùn cưa… đã được xay
nhuyễn). Tỉ lệ mùn cưa khô nên đạt 30 – 60%, phần còn lại dùng rơm rạ băm nhỏ,
trấu, bã trà khô, vỏ hạt bông, vỏ quả đậu phộng, cành thân cây nhỏ… Xử lý hỗn hợp
cơ chất này với nước vôi 1,5%.
9 Tưới đón nấm
Hệ sợi bắt đầu bện kết sau 25 – 30 ngày. Tại thời điểm này, cần chuyển túi (chai)
vào nhà trồng có ánh sáng khuếch tán nhẹ, nhiệt độ hạ thấp 21
o
C ± 3
o
C. Có thể vùi đất,
treo, xếp trên giàn kệ, mở nút túi cho mầm nấm vươn ra dễ dàng. Duy trì độ ẩm phòng
nuôi cấy ở 80 – 90%. Thông thoáng phòng nuôi cho quả thể lớn.
Tuỳ theo loài nấm mà thời gian thu hoạch thay đổi từ 35 – 45 ngày đến vài tháng.
Sau cùng sẽ tiến hành thu hoạch quả thể và chế biến bảo quản.
2.2.6.4. Quy trình nuôi trồng thu sinh khối
Ngoài công nghệ nuôi trồng trên giá thể tổng hợp hay trên gỗ khúc, người ta còn
tiến hành thu sinh khối nấm trong các nồi lên men. Hiện nay nhiều xí nghiệp dược
phẩm đã sản xuất sinh khối nấm vân chi theo phương pháp lên men chìm trong các nồi
lên men với các thông số kỹ thuật sau:
9 Môi trường sử dụng: bột khô dầu đậu tương (1%), glucose (3%), bột nấm
men khô (0,2%), (NH
4
)
2
SO
4
(0,25%), MgSO
4
(0,05%), KH
2
PO
4
(0,1%), dầu
phẩm trị ung thư (Fukushima, 1989). Ở Trung Quốc, vân chi được sử dụng để điều trị
nhiều loại ung thư và cũng được dùng để trị bệnh viêm gan mãn tính, viêm nhiễm
đường hô hấp, viêm cơ quan bài tiết và cơ quan tiêu hoá. Ngoài ra trong các bài thuốc
cổ truyền của Trung Quốc, vân chi được dùng để tăng cường hiệu quả cho hệ miễn
dịch, loại bỏ độc tố cơ thể, giảm đờm, tăng năng lượng và làm tinh thần sảng khoái,
kéo dài tuổi thọ, hạ nhiệt do vân chi có tính hàn, vị ngọt.
Trong điều trị ung thư, khi sử dụng kết hợp PSP, PSK (hợp chất trích từ nấm) với
hoá trị hay xạ trị sẽ làm tăng tỉ lệ sống còn của bệnh nhân ung thư và làm giảm các
triệu chứng do hoá trị hay xạ trị gây ra. Các hợp chất trích từ vân chi rất an toàn khi sử
dụng, không có phản ứng phụ, không độc. Chỉ tìm thấy một biểu hiện nhỏ khi sử dụng
PSK là nó làm đen các đầu ngón tay ở một số rất ít bệnh nhân chịu tác dụng điều trị
(khoảng 4/77 người mắc phải).
Một số biệt dược của nấm vân chi: Vân chi, Lục bảo Vân chi, (PSK) VPS –
Coriolus versicolor, Coriolus-VPS
®
, PSK
®
,
Yunzhi Polysaccharide peptide (Trade
mark Qing Kang), PSP polysaccharide-peptide (Landford).
14
2.2.8. Các giá trị khác của vân chi [18]
Nấm vân chi sản xuất ra các enzyme phá gỗ như: laccaza, mangan peroxidaze
(MnP), lignin peroxidaze (LnP). Các enzyme này đang được nghiên cứu ứng dụng
trong lĩnh vực tẩy trắng bột cellulose. Laccaza từ nấm vân chi có thể phân huỷ một
phần hợp chất clo của CPC, có thể declo hoá nhiều hợp chất clophenol do đó được
dùng trong xử lý chất thải, khử màu chất thải từ khâu tẩy trắng.
2.2.9. Thành phần hoá học sơ bộ nấm vân chi [20]
Bảng 2.1: Kết quả phân tích sơ bộ thành phần hoá thực vật
là (C
6
H
10
O
5
)
n
. Tuỳ theo thành phần của monosaccharide mà polysaccharide được chia
làm 2 nhóm: polysaccharide đồng thể (homopolysaccharide) và polysaccharide dị thể
(heteropolysaccharide).
2.3.1.1. Polysaccharide đồng thể là các polymer cấu tạo bởi nhiều
monosaccharide giống nhau gồm có:
- Tinh bột: Là sản phẩm quang hợp của thực vật, là chất dự trữ quan trọng tích lũy
trong củ, quả, hạt và là hợp chất hữu cơ được tạo thành bởi nhiều phân tử glucose liên
kết với nhau theo liên kết glycosidic 1-4 gồm có 2 dạng:
• Amylose: tan trong nước, cho phản ứng màu xanh với iod, mạch thẳng, là chuỗi
không phân nhánh của gốc α-D-glucopyranose gắn nhau bởi liên kết glycosidic 1-4.
• Amylopectin: cho phản ứng màu tím đỏ với iod, có cấu trúc phân nhánh được
cấu tạo bởi nhiều phân tử glucose nối với nhau bởi liên kết glycosidic 1-4 và 1-6.
- Glycogen: có nhiều mạch phân nhánh, TLPT 400 000 – 4 000 000 gồm khoảng 2 400
– 24 000 gốc glucose.
- Cellulose: là thành phần chủ yếu của vách tế bào, thường liên kết với các chất khác
như lignin, hemicellulose, pectin, không tan trong nước, tan trong dung dịch amoniac
của hydroxyd đồng. Cellulose là chuỗi dài không phân nhánh với số gốc glucose từ
hàng nghìn đến hàng chục triệu, các gốc này liên kết nhau bằng liên kết β-glycosidic
1-4.
- Chitin: có cấu trúc gần giống với cellulose, chúng được thành lập từ các dẫn xuất của
glucose là N-acetyl glucosamine, chúng nối với nhau bằng liên kết glycosidic 1-4.
Chitin có nhiều trong nấm men và ở động vật không xương sống.
lõi lại gắn liên kết không cộng trị với nhiều phân tử glycosaminoglycan ngắn hơn
(condroitin sulfat, keratan sulfat, heparin sulfat) bằng các cầu glycosid nối các gốc
đường với nhóm OH của serin hoặc threonin trong phân tử protein (liên kết O-
17
glycosid). Các proteoglycan đóng vai trò cấu tạo đối với cơ thể (tạo tính co giãn, tính
nhớt, độ trơn tại các khớp, tổ chức liên kết, mô nâng đỡ và các dịch che phủ các cơ
quan).
- Glycoprotein và glycolipid: màng tế bào động vật chứa khoảng 5% glycid dưới dạng
glycoprotein và glycolipid. Đó là những hợp chất có cấu trúc mạch thẳng có từ 1 đến
15 gốc đường trong đó nhiều protein và một số lipid của màng tế bào gắn với các
olygosaccharide bằng liên kết cộng hoá trị.
2.3.2. Amino acid [10],[20]
Là đơn vị cấu tạo của protein, là dẫn xuất từ acid carboxylic trong đó có một hoặc
hai nguyên tử hydrogen của gốc ankyl được thay thế bởi nhóm amine (NH
2
) ở vị trí
carbon alpha so với nhóm carboxyl (COOH) nên gọi là α-amino acid.
H - C
αH – COOH
R
+ NH
2
H
2
[25], [28],
[33],
[34]
Vào khoảng năm 1965, ở Nhật, một kỹ sư hoá học đã khám phá ra thành phần trị
ung thư của nấm vân chi sau khi ông này quan sát thấy người hàng xóm mắc bệnh ung
thư hiểm nghèo đã được chữa khỏi sau khi sử dụng vân chi. Điều này đã dẫn đến sự
khám phá ra PSK (polysaccharide Kureha). Sau đó, hợp chất PSP (polysaccharide
peptide) - chất có cấu tạo gần giống PSK cũng đã được phân lập lần đầu tiên tại Trung
Quốc năm 1983. Các chất này đều được xem là những chất kích thích hệ miễn dịch và
có hoạt tính kháng ung thư, thúc đẩy quá trình sản xuất tế bào miễn dịch, giảm nhẹ các
triệu chứng do hoá trị, xạ trị, giảm đau, chống viêm nhiễm (Altern Med Rev 2-2000).
Dịch trích polysaccharide peptide từ nấm (thuật ngữ gọi là proteoglycan) là những
chuỗi polypeptide hay những phân tử protein nhỏ gắn kết chặt với các chuỗi
polysaccharide β-D-glucan, là thành phần hiệu quả trong chữa trị các chứng ung thư:
dạ dày, thực quản, ruột kết và ung thư ngực… Polysaccharide được tìm thấy trong các
vách tế bào không tiêu hoá được của vân chi có cấu trúc 3 chiều với các chuỗi bên
(chuỗi đường mạch thẳng) mọc nhánh xung quanh cấu trúc trục chính (lõi protein hay
polypeptide), các chuỗi bên có chức năng sinh học hay hoạt tính miễn dịch cho phép
sự tương tác giữa các chuỗi nhánh bên với các thụ thể trên các tế bào miễn dịch khác
nhau. Thụ thể cho β-glucan được tìm thấy trên nhiều tế bào khác nhau: Tế bào tự sát
19
thương (NK), tế bào bạch cầu trung tính, tế bào bạch cầu đơn nhân to, đại thực bào và
tế bào lympho B, lympho T. Nhiều nghiên cứu báo cáo rằng β-1,3-glucan là chất kích
hoạt hệ miễn dịch chống ung thư tự nhiên ở người và phần glucan có thể kích ứng sự
co lại của khối u (Luzio et al, 1980; Mansell et al, 1975; Morikawa et al, 1985). Theo
các nhà khoa học thì chỉ có polysaccharide nối với peptide mới tạo ra hiệu quả kháng
ung thư. Các thành phần này không bị ảnh hưởng bởi quá trình tiêu hoá nên có hiệu
quả khi uống.
nghiệm độc tính cấp và bán cấp.
2.4.1.2. Dược tính [20],
[24], [27],
[32], [33]
Năm 1971, hơn 200 dược chất hoá lý có khả năng kháng khối u được chọn lọc
bởi các nhà nghiên cứu Nhật, PSK là liệu pháp chữa trị tốt nhất vì nó bảo vệ hệ miễn
dịch bằng cách trung hoà các thuốc hoá trị và các quá trình gây độc của tế bào ung
thư.
PSK có khả năng tăng cường hoạt động miễn dịch tế bào và miễn dịch thể dịch.
Khi PSK được dùng kết hợp với phương pháp xạ trị thí nghiệm trên chuột, người ta
quan sát thấy có sự hồi phục hệ miễn dịch thể dịch đã suy yếu. Các nghiên cứu trên
động vật xác nhận thêm rằng PSK cảm ứng tế bào T diệt và phục hồi lại các thông số
miễn dịch bị suy yếu trong khi đó sẽ ức chế các hợp chất gây ức chế miễn dịch.
PSK ngăn chặn các phản ứng phụ khi dùng kết hợp với các tác nhân hoá trị như
5-FU (5-fluorouracil), doxorubicin, cyclophosphamide (CPA), tegafur, cis-Blastin và
mitomycin-C (MMC) để chữa trị ung thư, gia tăng khả năng sống còn của các bệnh
nhân ung thư dạ dày ở các giai đoạn III và IV (Kaibara et al, 1970).
PSK kích ứng sự biểu hiện cytokine trong các tế bào máu đơn nhân vùng ngoại
vi in vitro. Sự biểu hiện gen TNF-α (yếu tố gây hoại tử khối u) và interleukin-8 (IL-8)
được cảm ứng mạnh ở những người tình nguyện khoẻ mạnh và những bệnh nhân ung
thư dạ dày khi dùng PSK, mặc dù đáp ứng của mỗi người mỗi khác.
Có tác dụng ngăn chặn sự phát triển khối u in vitro. PSK gia tăng khả năng sống
còn, ức chế sự hình thành và di căn của các tác nhân gây ung thư hoặc các khối u tạo
ra do phóng xạ. PSK cũng ức chế sự phát triển trở lại sau hậu phẫu hoặc sự di căn các
tế bào khối u ở các mẫu động vật thí nghiệm, cơ chế có lẽ là ngăn chặn sự di chuyển,
sự xâm nhập, sự gắn kết với các tế bào màng trong và sự phát triển. Các kết quả
nghiên cứu cũng cho thấy tác động hỗ trợ hiệu quả giữa PSK và liệu pháp sinh học
gồm vaccin L1210 gắn với concanavalin A (lectin gây phân bào) và kháng thể đơn
dòng chống lại các tế bào ung thư ruột kết.
Thí nghiệm của Pang ZJ và CS đã chứng minh PSK cải thiện hoạt tính enzyme
dày, 82 – 87 % đối với ung thư thực quản, 70 – 86 % đối với ung thư phổi. PSP là chất
đầy tiềm năng và hiệu quả trong điều trị ung thư. 22
9 PSP gia tăng chức năng miễn dịch của cơ thể bình thường.
Tăng sự biểu hiện của gen Interleukin-6 (IL-6) trong các tế bào lympho máu
ngoại vi (PBL) ở người và do đó sản xuất ra IL-6 và cũng hoạt hoá tế bào bạch cầu để
gia tăng quá trình sản xuất interferon α và γ lên gấp 2 – 4 lần.
Gia tăng mạnh mẽ chỉ số thực bào, trị số HC
50
, kháng thể ở chuột, tăng PBL từ
phase G1 đến phase S, thúc đẩy sự phát sinh PBL.
Thúc đẩy sự phát sinh tế bào lympho T và tế bào tiền tế bào T ở tuyến ức và lách,
tăng cường hoạt tính tế bào lympho B.
9 PSP trung hoà quá trình ức chế miễn dịch do khối u gây ra ở động vật.
Làm ngưng quá trình tiêu biến của tuyến ức ở chuột mang bệnh Sarcoma.
Trung hoà sự trương phồng của gan khi mắc bệnh ung thư cổ trướng Ehrlich.
Chống lại quá trình ức chế kháng thể của tế bào ung thư Sarcoma ở chuột.
Tăng giá trị bổ thể huyết thanh C
3
trong chuột mắc bệnh Sarcoma.
9 PSP trung hoà quá trình ức chế miễn dịch do tác dụng của các hoá dược trong
điều trị ung thư.
Ức chế quá trình tiêu biến tế bào bạch cầu do cyclophosphamine (CPA) gây ra và
rút ngắn thời gian phục hồi tế bào bạch cầu.
Chống lại quá trình ức chế của CPA trên IL-2 và tế bào T tự sát thương.
Phục hồi lại phản ứng mẫn cảm loại chậm bị ức chế bởi CPA.
Dùng kết hợp với các phương pháp hoá trị và xạ trị sẽ làm giảm các tác dụng phụ
bệnh gan.
2.4.3. So sánh giữa PSK và PSP [28]
PSP và PSK là chuỗi proteoglycan, có trọng lượng phân tử khoảng 100 kDa, thành
phần polysaccharide đều không có N-acetylamino-hexose trong khi tất cả chuỗi
polysaccharide khác có. PSP và PSK đều được xem là những chất gây biến đổi các
đáp ứng sinh học có khả năng trị ung thư và làm tăng miễn dịch, nhưng những nghiên
cứu và thử nghiệm lâm sàn cho thấy PSP và PSK có một số khác biệt.
Bảng 2.2: So sánh giữa PSK và PSP
Đặc điểm so sánh Giống nhau Khác nhau
Chủng loại Vân chi Trametes versicolor
PSP: chủng COV-1 từ Trung Quốc.
PSK: CM-101 từ Nhật.
Dạng dược phẩm
PSP: dạng viên
PSK: dạng gói
Màu bột Nâu
PSP: nâu
PSK: nâu đậm
Dạng nguyên liệu thô Hệ sợi
24
Kỹ thuật lên men
Nguồn carbon chính là glucose
lên men ở 25
o
C, 3 ngày hoặc
26
o
C, pH = 5 – 7.
PSP: nguồn nitơ từ bột đậu nành
PSK: 39%, 34%.
- Phục hồi lại phản ứng mẫn
cảm bị ức chế bởi các dược
chất hoá học và bảo tồn lượng
bạch cầu.
Mức ngăn chặn của PSP, đối với bệ
Sarcoma trên chuột là 43%, PSK
28%.
Dược tính
Gia tăng hoạt tính đại thực
bào, hàm lượng globulin miễn
dịch, bổ thể C
3
, kháng thể
HC
50
, và IL-2 tế bào lympho-T
PSP có thể làm tăng hàm lượng α-
và β-ITF tạo bởi tế bào bạch cầu
gấp 2 – 4 lần.
Độc tính
LD
50
>20g/kd, không đôc,
không làm xuất hiện các dị
hình, không ảnh hưởng đến
sinh sản.
PSP có thể tạo ra phản ứng độc
bằng cách tập hợp nhiễm sắc thể
của các tế bào ung thư phổi nhưng
không hoặc ít tiếp xúc với chất tan. Sự khuếch tán thúc đẩy quá trình hoà tan và kéo
chất tan từ các tế bào vỡ ra khỏi tế bào đi vào dịch chiết. Các yếu tố ảnh hưởng đến
quá trình khuếch tán:
9 Sự chêch lệch nồng độ
9 Nhiệt độ
9 Độ nhớt của dung môi
2.5.2.3. Quá trình thẩm tích
Việc di chuyển chất tan phân tử nhỏ qua các kênh bào tương (Plasmodesmata,
ống trao đổi) trong quá trình chiết xuất được thực hiện bởi sự khuếch tán thụ động theo