LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin cảm ơn các thầy cô trong khoa Điện Tử - Viễn Thông đã tận tình truyền
đạt kiến thức của mình cho em trong suốt những năm học qua cũng như đã tạo điều kiện để
em có thể thực hiện khóa luận này.
Đồng thời em cũng xin cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Hà và chị Nguyễn Thị Tú
Quỳnh,những người đã trực tiếp hướng dẫn,giúp đỡ em trong suốt thời gian làm khóa luận.
Cuối cùng em muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã cổ vũ,động viên em trong
những lúc gặp khó khăn khi thực hiện khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn tất cả.
Tp Hồ Chí Minh , 9/7/2010
Sinh viên
Phạm Phú Hưng
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông.
LỜI MỞ ĐẦU
Truyền thông không dây đã và đang phát triển rất nhanh trong những năm gần đây, theo đó các
thiết bị di động đang trở nên càng ngày càng nhỏ hơn. Để thỏa mãn nhu cầu thu nhỏ các thiết bị di
động, anten gắn trên các thiết bị đầu cuối cũng phải được thu nhỏ kích thước. Các anten phẳng,
chẳng hạn như anten vi dải (microstrip antenna) và anten mạch in (printed antenna), có các ưu
điểm hấp dẫn như kích thước nhỏ và dễ gắn lên các thiết bị đầu cuối, … sẽ là lựa chọn thỏa mãn
yêu cầu thiết kế ở trên. Cũng bởi lí do này, kỹ thuật thiết kế anten phẳng băng rộng đã thu hút rất
nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu anten.
Gần đây, đặc biệt là sau năm 2000, nhiều anten phẳng mới được thiết kế thỏa mãn các yêu cầu
về băng thông của hệ thống truyền thông di động tế bào hiện nay, bao gồm GSM (Global System
for Mobile communication, 890 – 960 MHz), DCS (Digital Communication System, 1710 – 1880
MHz), PCS (Personal Communication System,1850 – 1990 MHz) và UMTS (Universal Mobile
Telecommunication System, 1920 - 2170 MHz), đã được phát triển và xuất bản trong nhiều các tài
liệu liên quan.
Anten phẳng cũng rất thích hợp đối với ứng dụng trong các thiết bị truyền thông cho hệ thống
mạng cục bộ không dây (Wireless Local Area Network, WLAN) trong các dải tần 2.4 GHz (2400 –
2484 MHz) và 5.2 GHz (5150 – 5350 MHz).Anten vi dải vốn đã có băng thông hẹp nên việc mở
gian bên ngoài được gọi là anten.Nói cách khác,anten là thiết bị chuyển tiếp một vòng kín của tín
hiệu RF (Radio Frequency : tần số vô tuyến) và sự bức xạ,lan truyền của sóng điện từ trong
không gian.
Thông thường,giữa máy
phát và anten phát cũng như
giữa máy thu và anten thu không
nối trực tiếp với nhau mà được ghép thông qua một đường truyền dẫn năng lượng điện từ,gọi là
fide (như hình 1.1).Trong hệ thống này,máy phát có nhiệm vụ tạo ra dao động điện cao tần.Dao
động điện sẽ được truyền đi theo fide tới anten phát dưới dạng sóng điện từ ràng buộc.Anten phát
có nhiệm vụ biến đổi sóng điện từ ràng buộc này thành sóng điện từ tự do truyền ra ngoài không
gian.Ngược lại,anten thu có nhiệm vụ tiếp nhận sóng điện từ tự do trong không gian (chỉ tiếp nhận
được một phần năng lượng điện từ do an ten phát truyền đi,phần còn lại sẽ bức xạ lại vào không
gian)và biến chúng thảnh sóng điện từ ràng buộc rồi truyền đến máy thu. Yêu cầu đặt ra cho thiết
bị anten-fide là phải thực hiện việc truyền dẫn và biến đổi năng lượng với hiệu suất cao nhất mà
không gây ra méo dạng tín hiệu.
1.2. Các tham số cơ bản của anten .
1.2.1. Sự bức xạ sóng điện từ bởi một anten.
Hình 1. Anten,thiết bị dẫn sóng và bức xạ điện từ
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông.
Sự bức xạ điện từ của anten dựa trên nguyên tắc bức xạ điện từ trong không gian,bắt nguồn từ
lý thuyết về tính cảm ứng của trường điện từ.Trước hết,trường từ biến thiên sinh ra trường điện
biến thiên,sau đó trường điện biến thiên này lại tạo ra dòng điện biến thiên đồng nghĩa với tạo ra
trường từ biến thiên.Quá trình này lặp đi lặp lại tạo nên sóng điện từ trong không gian gồm hai
thành phần phụ thuộc nhau là trường điện (E) và trường từ (H).Hai trường này vuông góc với
nhau và vuông góc với hướng truyền của sóng điện từ trong không gian.
Khi năng lượng từ máy phát truyền
tới anten,nó sẽ hình thành hai trường.Một
trường là trường cảm ứng (trường khu gần),trường này bị ràng buộc với anten,có cường độ lớn và
tuyến tính với năng lượng được gởi đến anten.Trường kia là trường bức xạ (trường khu xa) gồm
hai thành phần là điện trường và từ trường (hình 1.2).Tại khu xa,chỉ có bức xạ được duy trì.
Hình 1. Bức xạ hướng tính
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông.
Hình 1.4 thể hiện bức xạ đẳng hướng và hình 1.5 thể hiện bức xạ hướng tính của anten.Mặt
phẳng E được định nghĩa là mặt phẳng chứa vector điện trường và hướng bức xạ cực đại, mặt
phẳng H được định nghĩa là mặt phẳng chứa vector từ trường và hướng bức xạ cực đại.Trong thực
tế ta thường chọn hướng của anten sao cho mặt phẳng E hay mặt phẳng H trùng với các mặt phẳng
tọa độ (mặt phẳng x,y hoặc z) như hình 1.5.
Các búp sóng của giản đồ bức xạ hướng tính
Các búp sóng khác nhau của giản đồ bức xạ hay còn được gọi là thùy (lobe) có thể được phân
thành các loại sau : thùy chính,thùy phụ,thùy bên và thùy sau.Hình 1.6 minh họa một giản đồ cực
3D đối xứng với một số thùy bức xạ ,như ta thấy một số thùy có cường độ bức xạ lớn hơn các thùy
khác.Hình 1.7 biểu diễn các thùy trong hình 1.6 trên cùng một mặt phẳng (giản đồ 2D).Thùy chính là thùy chứa hướng bức xạ
cực đại,trong hình 1.6 thùy chính có hướng
θ = 0.Trên thực tế,có thể tồn tại nhiều hơn
một thùy chính.Thùy phụ là bất kỳ thùy
Hình 1. Các búp sóng trong không gian 3 chiềuHình 1.6. Các búp sóng trong
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông.
nào ngoài thùy chính.Thông thường,thùy bên là thùy nằm liền xác với thùy chính và định xứ ở bán
cầu theo hướng của thùy chính.Thùy sau là thùy mà trục của nó tạo một góc xấp xỉ
180
0
so với
thùy chính và thường định xứ ở bán cầu ngược với thùy chính.1.2.3. Mật độ công suất bức xạ.
Sóng điện từ được sử dụng để truyền tải thông tin trong không gian hoặc qua cấu trúc dẫn
n
= vector đơn vị pháp tuyến của bề mặt.
da = vi phân diện tích của bề mặt (
m
2
).
Khi trường biến đổi theo thời gian,ta thường tìm mật độ năng lượng trung bình bằng cách lấy
tích phân vector Poying tức thời trong một chu kỳ và chia cho một chu kỳ.Khi trường biến đổi
tuần hoàn theo thời gian có dạng
e
jwt
,ta định nghĩa được thành phần E và H,chúng có quan hệ
với các thành phần tức thời E và H theo công thức như sau :
E (x,y,z)= Re [E(x,y,z)
e
jωt
] =
1
2
Re [
E e
jωt
+E
¿
e
− jωt
]
(1.3)
H(x,y,z)= Re [H(x,y,z)
e
theo thời gian với tần số bằng 2 lần tần số
ω
cho trước.Vector Poying trung bình theo thời
gian (mật độ công suất trung bình ) có thể được viết lại :
E ×H∗¿
W
av
(
x , y , z
)
=
[
W ( x , y ,z ;t )
]
av
=
1
2
ℜ ¿
(1.6)
Dựa trên (1.6),công suất phát xạ trung bình của anten có thể được định nghĩa là :
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông.
ˆ
1
Re( * )
2
S S
S
2
).
Tổng công suất bức xạ nhận được bằng cách tích phân cường độ bức xạ :
P
rad
=
∯
U dΩ=
∫
0
2π
∫
0
π
sinθ dφdθ
(1.9)
dΩ=sin θ dφd θ
là đơn vị góc khối (steradian).
1.2.5. Hệ số định hướng.
Hệ số định hướng (D) của anten là tỉ số giữa cường độ bức xạ của aten theo một hướng cho
trước so với cường bức xạ trung bình theo tất cả các hướng.Nếu hướng không được xác định thì
hướng của cường độ bức xạ cực đại được chọn.
Đơn giản hơn,hệ số định hướng của anten được xác định bằng tỉ số giữa cường độ bức xạ của
anten theo hướng cho trước (
U
) và cường độ bức xạ của một nguồn đẳng hướng (
U
0
=
4πU
max
P
rad
(1.12)
Trong đó : D là hệ số định hướng (không có thứ nguyên).
U là cường độ bức xạ (W/đơn vị góc khối).
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông.
U
0
là cường độ bức xạ của nguồn đẳng hướng .
P
rad
là tổng công suất bức xạ (W).
Trong nhiều trường hợp thực tế có thể tính độ định hướng theo công thức :
D=
32.400
θ
1
θ
2
(1.13)
với
θ
1
,θ
Phân cực của anten theo một hướng cho trước chính là phân cực của sóng được truyền đi bởi
anten.Khi không có hướng nào được đề cập tới thì phân cực của anten là phân cực theo hướng có
hệ số tăng ích cực đại.
Sự phân cực của sóng được định nghĩa là hình ảnh để lại bởi đầu mút của vector trường khi
được quan sát dọc theo chiều truyền sóng.Một phân cực của anten có thể được phân loại như tuyến
tính,tròn hay ellip.
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông. a.Phân cực thẳng ; b. Phân cực tròn ; c. Phân cực ellip
Đầu mút của vector điện trường quay theo chiều kim đồng hồ gọi là phân cực phải
(clockwise_CW) và quay ngược chiều kim đồng hồ gọi là phân cực trái (counterclockwise_CCW).
Trường của sóng phẳng khi sóng này truyền theo chiều âm của trục z có thể được biểu diễn
như sau :
E (z;t) =
̂
a
x
E x (z;t) +
̂
a
y
E y(z;t)
(1.16)
Ta lại có mối quan hệ giữa các thành phần tức thời và thành phần phức :
E x (z;t) = Re [
E
x
e
x0
, E
y0
tương ứng là biên độ cực đại của các thành phần theo trục x và trục y.
Phân cực thẳng
Để bức xạ có phân cực thẳng, độ lệch pha theo thời gian giữa hai thành phần phải là :
∆ φ=φ
x
−φ
y
=nπ
n=0,1,2,3……. (1.19)
Phân cực tròn
Phân cực tròn có thể đạt được khi hai thành phần có biên độ bằng nhau và có độ lệch pha theo
thời gian giữa chúng phải bằng số lẻ lần
π
2
.Tức là :
|E x |=|E y| <=>
E
x0
=E
y0
(1.20)
∆φ=φ
x
−φ
≠
|E y| <=>
E
x0
≠ E
y0
(1.22)
∆φ=φ
x
−φ
y
=
{
+
(
1
2
+2n
)
π v ớ i n=0, 1,2…..( đ ố i v ớ i CW)
−
(
1
2
+2n
)
π v ớ i n=0,1, 2… .. (đ ố i vớ i CCW)
(1.23)
Bởi vì các đặc tính của anten như trở kháng vào,giản đồ,hệ số tăng ích,phân cực…của anten
không biến đổi giống nhau theo tần số nên có nhiều định nghĩa băng thông khác nhau.Tùy các ứng
dụng cụ thể,yêu cầu về các đặc tính của anten được chọn như thế nào cho phù hợp.
1.2.9. Trở kháng vào.
Trở kháng vào của anten có thể được xác định bằng trở kháng của anten tại điểm đầu vào của
nó hay tỉ số điện áp trên dòng điên hay tỉ số giữa điện trường và từ trường tương ứng tại cùng một
điểm.Ở đây,ta chỉ quan tâm đến trở kháng tại đầu vào của anten.Tỉ số điện áp trên dòng điện ,trong
trường hợp không có tải,xác định trở kháng của anten :
Z
A
=R
A
+ X
A
(1.26)
Với
Z
A
là trở kháng đầu vào của anten (
Ω
)
R
A
là điện trở của anten tại các đầu vào (
Ω
)
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông.
Các khái niệm đầu tiên của anten vi dải được đưa ra bởi Deschamp (1953),Gutton và Baissinot
(1955).Tuy nhiên,mãi đến những năm 70,khi các yếu tố kỹ thuật được đáp ứng đầy đủ (chất nền
tốt,các mô hình lý thuyết đầy đủ hơn,…),thì anten vi dải mới được phát triển mạnh mẽ với các ưu
điểm nổi bật như khối lượng nhẹ,thể tích nhỏ,giá thành thấp,cấu trúc đơn giản,thích hợp với các
mạch tích hợp…
Hình 1.9 mô tả cấu trúc đơn giản nhất của
một anten vi dải bao gồm một patch bức xạ nằm
trên một nền điện môi (
ϵ
r
≤ 10
) và một mặt
phẳng đất (ground plane) nằm ở mặt còn lại
của chất nền.Chất dẫn patch,thường bằng đồng
hoăc vàng,có nhiều hình dạng khác nhau nhưng
các dạng thông thường nói chung là thường được sử dụng để dễ phân tích cũng như tính toán hiệu
suất.
Hằng số điện môi (
ϵ
r
) của chất nền đóng vai trong quan trong nhất đối với hoạt động
của anten vi dải.Nó ảnh hưởng đến đăc tính trở kháng,tần số cộng hưởng,băng thông,hiệu suất…
Hình 1. Cấu trúc đơn giản của anten vi dải
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông.
của anten.Trong điều kiện lý tưởng,hằng số điện môi nên có giá trị thấp (
ϵ
r
≤ 2.5
) để mở rộng
vùng viền (fringing field)_vùng được dùng để giải thích cho quá trình bức xạ của anten vi dải.Tuy
Giới hạn hệ số tăng ích cực đại (
20dB
).
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông.
Có nhiều phương pháp để tối thiểu hóa các hạn chế của aten vi dải.Ví dụ như ta có thể tăng
băng thông lên 60% bằng các kỹ thuật đặc biệt ; các hạn chế về độ lợi và công suất có thể được
khắc phục khi dùng các cấu trúc mảng anten …
2.1.2. Cơ chế bức xạ.
Bức xạ của anten vi dải có thể được xác định bởi phân bố trường giữa patch và mặt phẳng
đất.Nói cách khác bức xạ của anten vi dải có thể được biểu diễn bởi phân bố dòng bề mặt của
patch.Việc tính toán một cách chính xác phân bố dòng hay trường của patch rất phức tạp nên ta có
thể sử dụng các tham số đơn giản và các thuật toán xấp xỉ để khái quát mô hình làm việc cua anten
vi dải.
Giả sử anten
patch vi dải được nối với một nguồn microwave.Năng lượng trên patch sẽ tạo nên các điện tích
phân bố ở mặt trên và dưới của patch.Quá trình tương tự xảy ra ở mặt phẳng đất (hình 1.10).Anten
patch có độ dài khoảng nửa bước sóng nên các phân bố điện tích được hình thành như hình 1.10
.Phân bố điện tích này được kiểm soát bởi hai cơ chế tương tác giữa các điện tích :
Lực đẩy giữa các điện tích giống nhau ở đáy patch có xu hướng làm đẩy các điện tích ở
đáy và cạnh lên bề mặt trên của patch.
Lực hút giữa các điện tích trái dấu ở đáy của patch và mặt phẳng đất,lực hút này giữ các
điện tích tập trung ở đáy của patch.
Sự di chuyển của các điện tích dưới sự tương tác của các lực trên tạo nên các dòng chảy trên
bề mặt và đáy của patch (
⃗
J
b
;
⃗
nhiều tham số vật lý.Chúng có thể
được thiết kế với nhiều hình dạng và
hướng khác nhau.Một cách tổng quát ta có thể chia anten vi dải ra làm bốn loại cơ bản : anten
patch vi dải, anten vi dải lưỡng cực, anten vi dải khe mạch in và anten vi dải sóng chạy.
2.2.1. Anten patch vi dải (Microstrip Patch Antenna)
Một anten patch vi dải,có dạng hình học phẳng hoặc không phẳng,nằm trên một mặt của chất
nền, mặt phẳng đất nằm ở mặt còn lại của chất nền.Thiết kế anten patch chủ yếu tập trung vào đặc
tính bức xạ của nó.Các loại được sử dụng phổ biến được mô tả ở hình 1.14, chúng có đặc tính bức
xạ gần giống nhau mặc dù hình dạng khác nhau.Các loại anten patch vi dải hình chữ nhật hay hình
Hình 1. Phân bố điện trường của patch ở mode TM 100
Hình 1. Phân bố từ của patch ở mode TM 100
Hình 1. Anten vi dải với khe bức xạ tương đương
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông.
tròn được sử dụng nhiều nhất.Thông thường chúng có độ lợi từ 5 – 6 dB và có độ rông búp sóng
– 3dB ở
70
0
-
90
0
.
Ngoài ra,còn có những anten
patch vi dải dùng cho các ứng dụng đặc
biệt như trong hình 1.15.
2.2.2. Anten vi dải lưỡng cực
(Microstrop Dipole Antenna)
Về mặt hình học, anten vi dải
lưỡng cực chỉ khác anten patch hình
chữ nhật ở tỉ lệ của chiểu rộng và
1.1.
Hình 1. Anten vi dải lưỡng cực
Hình 1. Anten vi dải khe mạch in
Hình 1. Anten sóng chạy
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông.
Anten patch vi dải Anten vi dải khe hở Anten vi dải khe
mạch in
Cấu hình Mỏng Mỏng Mỏng
Chế tạo Rất dễ Dễ Dễ
Phân cực Tuyến tính,tròn Tuyến tính,tròn Tuyến tính
Hình dạng Bất kỳ hình dạng
nào
Đa số là hình chữ
nhật hoặc tròn
Hình chữ nhật và
tam giác
Bức xạ nhiễu Có tồn tại Có tồn tại Có tồn tại
Băng thông 2-50% 5-30%
30%
Bảng 1.1 Bảng so sánh các đặc trưng của các loại anten.
2.3. Các kỹ thuật cấp nguồn cho anten vi dải.
Có nhiều kỹ thuật được phát triển để tiếp điện cho anten vi dải, nổi bật như các kỹ thuật dùng
đường vi dải (microstrip line), cáp đồng trục (coaxial feed), ghép gần (promixity coupled) và ghép
khe hở (aperture coupled).Việc lựa chọn kỹ thuật tiếp điện phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.Vấn đề
được quan tâm nhiều nhất khi tiếp điện là hiệu suất chuyển đồi công suất giữa cấu trúc phát xạ và
đường truyền, sự phối hợp trở kháng giữa chúng, trở kháng của các thành phần gây ra hiện tượng
sóng mặt và bức xạ nhiễu như các mối nối,chốt chuyển tiếp…Các bức xạ không mong muốn có
thể sẽ làm tăng mức thùy phụ và biên độ phân cực chéo trong thành phần bức xạ.Vì vậy,cần tính
toán kỹ thuật tiếp điện sao cho tối thiểu hóa các bức xạ nhiễu và ảnh hưởng của nó.
2.3.1. Đường truyền vi dải (Microstrip Feed).
Hình 1.20b biểu diễn một phương pháp ghép nối tiến bộ hơn, trong đó được truyền vi dải được
đặt vào trong patch một đoạn l.Tham số l được lựa chọn sao cho trở kháng vào của anten là 50Ω.
Tiếp điện bằng đường nối vi dải rất dễ thiết kế và chế tạo nhưng lại gây ra bức xạ nhiễu lớn và
là nguyên nhân tạo ra phân cực chéo.Vì vậy,kỹ thuật này thường được sử dụng trong các ứng dụng
không yêu cầu hiệu suất cao và cần có đường tiếp điện phẳng. Băng thông đạt được khoảng 3-5%.
2.3.2. Tiếp điện bằng cáp đồng trục (Coaxial Feed).
Kích thích anten thông qua cáp đồng trục là phương pháp cơ bản nhất để truyền công suất
microwave.Cáp đồng trục với lõi đồng bên trong được tiếp nối với anten vi dải qua khe hở ở mặt
phẳng đất.Một anten thường sử dụng cáp đồng trục loại N như hình 1.21.Cáp đồng trục được ghép
vào mặt sau của mạch in,sau đó lõi của nó sẽ đi qua chất nền và được tiếp nối với patch.Vị trí tiếp
nối sẽ được tính toán,lựa chọn để có được phối hợp trở kháng tốt nhất.Cũng giống
như tiếp điện
bằng đường
Hình 1. Tiếp điện bằng đường truyền vi dải
Hình 1. Tiếp diện bằng cáp đồng trục
Khóa Luận Tốt Nghiệp Khoa : Điện Tử - Viễn Thông.
truyền vi dải, tiếp điện bằng cáp đồng trục có ưu điểm là dễ thiết kế và chế tạo.Hơn nữa,thông qua
việc xác định tiếp điểm ta có thể kiểm soát được mức trở kháng vào,tạo thuận lợi cho việc phối
hợp trở kháng.Tuy nhiên kỹ thuật này cũng có một số hạn chế nhất định :
Trong ứng dụng mang anten,tiếp điện bằng cáp đồng trục yêu cầu nhiều tiếp điểm.Điều
này làm cho việc chế tạo gặp nhiêu khó khăn và anten có độ bền thấp (do cần nhiều mối
khoan và hàn).
Đối với những ứng dụng yêu cầu băng thông cao, ta phải sử dụng anten có chất nền dày,
làm tăng độ dài của cáp đồng trục.Điều này đồng nghĩa với việc làm tăng bức xạ
nhiễu,công suất sóng mặt và tăng trở kháng trong đường dẫn.
2.3.3. Ghép gần (Proximity Coupled Microstrip Feed).
Kỹ thuật này sử dụng 2 lớp chất nền, patch được đặt ở lớp trên và đường truyền đặt ở lớp dưới
được sự phân cực thuần.
Hạn chế của kỹ thuật ghép gần là khó
chế tạo liên kết rãnh và các lớp chất nền
đều có yêu cầu định tuyến phải chính xác.
Đặc tính Đường truyền
vi dải
Cáp đồng trục Ghép gần Ghép khe hở
Bức xạ nhiễu từ
đường truyền
Nhiều Nhiều Ít Ít nhất
Độ bền Tốt Thấp (do các
mối khoan và
hàn)
Khá Khá
Chế tạo Dễ Yêu cầu khoan
và hàn
Yêu cầu định
tuyến
Yêu cầu định
tuyến
Khả năng có
phân cực thuần
Khó Khó Khó Tốt
Phối hợp trở
kháng
Dễ Dễ Dễ Dễ
Băng thông (sau
khi phối hợp trở
kháng)
2-5% 2-5% 13% 21%
Đường dẫn song song một chiều:
Cấu hình cơ bản của đường dẫn song song một chiều với hai cách phân chia công suất được
mô tả ở hình 1.24.
a.Cấu trúc đối xứng b. Cấu trúc bất đối
xứng.
Đối với phân bố khẩu độ đều,công
suất thường được chia đều đến các mối
nối.Tuy nhiên,ta cũng có thể chọn tỉ lệ chia
công suất khác nhau nếu muốn tạo ra
phân bố hình chuông trên mảng anten.Nếu khoảng cách giữa các phần tử bức xạ được thiết kế
giống nhau,vị trí búp sóng sẽ độc lập với tần số và ta cũng có được đường dẫn băng rộng. Ngoài
Hình 1. Cấu trúc song song