Download Tiểu luận Trách nhiệm pháp lí của vợ, chồng đối với những giao dịch do một bên chồng hay vợ thực hiện liên quan đến tài sản chung của vợ chồng miễn phí
Tình trạng liên đới được xác lập trên cơ sở của quan hệ hôn nhân chứ không phải dựa vào quan hệ chung sống của vợ chồng. Bởi vậy, sự liên đới không tồn tại giữa hai con người chung sống như vợ chồng mà không có đăng kí kết hôn. Trái lại, sự liên đới đó tồn tại cả trong trường hợp vợ chồng kết hôn hợp pháp nhưng lại có nơi ở khác nhau (nghĩa là không chung sống thực tế), vợ hay chồng về mặt lí thuyết phải chịu trách nhiệm liên đới thanh toán các chi phí do việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu đói với cuộc sống của chồng(vợ) khi cư trứ nơi khác. Như vậy căn cứ để xác định trách nhiệm liên đới về tài sản của vợ chồng phải dựa trên quan hệ hôn nhân theo quy định của pháp luật. Điều này có nghĩa là việc liên đới trách nhiệm chỉ được xác định khi quan hệ vợ chồng được xác lập theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn.
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-38078/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
LỜI NÓI ĐẦU
Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một trong những nội dung quan trọng trong đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình. Theo nguyên tắc thì khi thực hiện những giao dịch liên quan đến tài sản chung thì cả vợ và chồng có sự bàn bạc và thực hiện giao dịch. Tuy nhiên trên thực tế, vì một vài lí do khách quan nên có những giao dịch chỉ do một bên chồng hay vợ thực hiện liên quan đến tài sản chung cuả vợ chồng. Vậy, trong trường hợp này vấn đề về trách nhiệm pháp lý sẽ được đặt ra như thế nào?
Trách nhiệm liên đới của vợ và chồng theo điều 25 luật HN&GĐ năm 2000 là một trong những nội dung đáng chú ý trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Đây là một quy định mới được bổ sung trong luật HN&GĐ năm 2000 mà luật HN&GĐ năm 1959 và 1986 chưa có. Chính vì là một quy định mới cho nên việc áp dụng nó vào thực tế còn có nhiều khập khiễng và chưa thống nhất.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề cũng như đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện điều luật này em xin đi sâu tìm hiểu vấn đề : “Trách nhiệm pháp lí của vợ, chồng đối với những giao dịch do một bên chồng hay vợ thực hiện liên quan đến tài sản chung của vợ chồng”.
Do kiến thức còn hạn chế, khả năng đào sâu vấn đề chưa cao vì thế bài làm không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô để bài làm của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!!!
I, GIẢI THÍCH KHÁI NIỆM
Trách nhiệm pháp lý: Là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước và chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi và những biện pháp cưỡng chế của nhà nước được quy định ở chế tài pháp luật. Tức là, mọi hành vi vi phạm pháp luật phá vỡ trật tự pháp luật, xâm phạm đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ đều phải chịu sự trừng trị của pháp luật
Trách nhiệm pháp lý được cấu thành bởi các yếu tố: hành vi vi phạm pháp luật, sự thiệt hại gây ra cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và sự thiệt hại gây ra cho xã hội, lỗi của chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Trách nhiệm pháp lý có nhiều loại, thông thường, được phân thành các loại trách nhiệm: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỉ luật, trách nhiệm dân sự... Trách nhiệm pháp lý sẽ được chấm dứt với các sự kiện pháp lí thích ứng.
Giao dịch: Là những hành vi của công dân và của các tổ chức nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự. Phần lớn các giao dịch là sự thoả thuận của hai hay nhiều người và có tính chất đền bù tương ứng cho nhau. Trong giao dịch đó, một bên thực hiện những hành vi nhất định cho bên kia (giao vật, giao tiền, thực hiện một dịch vụ...) đồng thời được bên kia đền bù cho việc thực hiện những hành vi đó. Những hợp đồng tặng, hợp đồng cho, hợp đồng cho vay không lấy lãi... là những giao dịch không đền bù. Giao dịch có thể thực hiện bằng văn bản hay bằng miệng. Việc lựa chọn hình thức giao dịch do các bên giao dịch quyết định. Nhưng đối với phần lớn thì pháp luật có quy định hình thức thực hiện. Việc không tuân theo yêu cầu của pháp luật về hình thức giao dịch làm cho giao dịch bị coi là vô hiệu chỉ có trong những trường hợp được luật quy định.
Tài sản chung: là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung. Trong đó, sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản – Điều 214 BLDS.
Tài sản chung của vợ chồng - căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng
Theo quy đinh tại Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản chung của vợ chồng truớc hết là tài sản chung hợp nhất và có thể phân chia. Việc xác định việc xác định tài sản chung của vợ chồng phải dựa vào nguồn gốc phát sinh tài sản. Cụ thể tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kì hôn nhân;
Thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kì hôn nhân (tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp....);
Các tài sản mà vợ chồng mua sắm được bằng thu nhập nói trên;
Tài sản mà vợ chồng được tặng, cho chung hay thừa kế chung;
Tài sản mà vợ hay chồng có trước khi kết hôn hay những tài sản riêng nhưng vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung hay theo pháp luật quy định là tài sản chung.
Như vậy, so với những quy định về tài sản chung và quyền của vợ và chồng đối với tài sản chung trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định vấn đề này một cách tương đối cụ thể và dễ vận dụng hơn nhiều.
Từ đặc điểm của sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó không thể xác định được phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu đối với tài sản chung, chúng ta không thể xác định được phần tài sản nào là của vợ hay của chồng trong khối tài sản chung hợp nhất. Do đó, các nhà làm luật đã sử dụng nguyên tắc suy đoán, tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Tức là tài sản do vợ, chồng tạo ra bằng công sức của mỗi người từ khi họ kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt và những tài sản khác do vợ chồng thỏa thuận hay do pháp luật quy định. Tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do công sức của hai vợ chồng cùng tại ra, có thể chỉ do vợ hay chồng làm ra trong thời kì hôn nhân.
Nguyên tắc suy đoán này bảo đảm cho sự công bằng trên cơ sở vì lợi ích chung của gia đình và của vợ chồng. Quy định này cũng là điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Quy định này xuất phát từ thực tế tranh chấp tài sản giữa vợ chồng, rất khó để chứng minh được đâu là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng sau một thời gian sống chung.
Quy định này cũng được hướng dẫn cụ thể tại nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 (về khoản 2 Điều 27).
II, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ TÀI SẢN GIỮA VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000.
Quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng bao gồm: quyền sở hữu tài sản, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thừa kế.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 219 BLDS năm 2005 và Khoản 1 Điều 28 luật HN&GĐ năm 2000 thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu và sử dụng định đoạt đối với tài sản chung của vợ chồng. Như vậy, về nguyên tắc, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong việc xây dựng phát triển và duy trì khối tài sản, đồng thời họ cũng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất. Do mục đích và tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân là sự “liên kết” giữa một người đàn ông và một người đàn bà trong đó vợ chồng cùng có trách nhiệm vun đắp hạnh phúc gia đình, có trách nhiệm với nhau, với các con và các thành viên khác. Vì thế, thông thường mọi công việc mà ...