Download Đề tài Trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với người có hành vi bạo lực gia đình và các biện pháp pháp lý ngăn chặn bạo lực gia đình miễn phí
Luật HN & GĐ 2000 đã quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng, buộc vợ chồng phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đó. Tuy vậy, trong thực tế đã co rất nhiều sai phạm xảy ra giữa vợ và chồng, thể hiện ở việc hiện nay giữa vợ và chồng. Các hành vi bạo lực giữa vợ và chồng rất đa dạng: có thể là bạo lực về thể chất như đánh đập , hành hạ; có thể là bạo lực về tinh thần như chửi bới, hăm dọa, ép buộc. cô lập; có thể bạo lữc về tình dục như cưỡng ép quan hệ tình dục khi một bên không muốn, bắt quan hệ tình dục quá sức; cũng có thể là các hành vi bạo lực khác liên quan đến vấn đề tái sản, con cái như: cưỡng đoạt tài sản, ép buộc mang thai, ép buộc sinh con Tất cả những hành vi này đều có thể dẫn đến hậu quả là làm tổn hại đến tinh thần, sức khỏe của vợ, chồng và nó đã vi phạm các nguyên tắc cơ bản của hôn nhân gia đình Việt Nam.
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-38477/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
chống bạo lực gia đình.
Bạo lực gia đình xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích của các thành viên tronggia đình mà pháp luật đã quy định. Hành vi bạo lực gây cho các thành vien gia đình sự tổn thương, lo lắng, nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ, tình cảm của các thành viên, làm giảm sút năng lực phát triển của họ. Vì thế, phòng chống bạo lực gia đình là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất để bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình. Ngược lại những nguyên tắc bảo vệ quyền của các thành viên trong gia đình mà pháp luật đã quy định sẽ là cơ sở pháp lý để thực hiện công tác đấu tranh phòng chống bạo lực gia đình.
Chương 2. Bạo lực gia đình, hành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình.
2.1. Quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình theo luật HN & GĐ 2000.
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Vì thế gia đình có một vị thế và vai trò rất lớn, gia đình vừa vừa là cơ sở, vừa là nền tảng cho sự phát triển của xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay đã luôn dành cho gia đình một sự quan tâm đặc biệt và đã có rất nhiều quy định thích hợp để điều chỉnh vấn đề này.
Ngay trong bản hiến pháp 1992 đã quy định “Gia đình là tế bào của xã hội, Nhà nước bảo hộ HN & GĐ. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện tiến bộ, một vợ - một chồng, vợ chồng bình đẳng, cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái thành công dân tốt, con cái có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ. Nhà nước không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữ các con” - Điều 64 Hiến pháp 1992.
Luật HN & GĐ 2000 đã quy định một chương riêng từ Điều 47 đến điều 60 về quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình, trong đó Điều 49 đã quy định một cách chung nhất về mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Đó là:
1. Các thành viên cùng sống chung trong gia đình đều có nghĩa vụ quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung của gia đình, đóng góp công sức. tiền và tài sản khác để duy trì đời sống chung phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của mình.
Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau, quyền và lợi ích hợp pháp của cá thành viên khác trong gia đình được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ nhau, nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng
Hôn nhân là một trong những yếu tố quan trọng xác lập nên quan hệ gia đình. Khi nam nữ kết hôn trở thành vợ - chồng họ sẽ được xác lập những quyền đồng thời gánh vác các nghĩa vụ giữa họ với các thành viên khác trong gia đình, giữa họ với nhau.
Vợ chồng có trách nhiệm cùng nhau chung sức để vun đắp cho tổ ấm gia đình mà họ đã gây dựng. Luật HN&GĐ 2000 đã quy định “Vợ chồng chung thủy, yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững”( Điều 18). “Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau;cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau.” ( Điều 21).
Mục đích của hôn nhân luôn là xây dựng một gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và bền vững. Muốn được như vây thì điều cơ bản là vợ chồng trong quan hệ hôn nhân phải biết thương yêu, chung thủy với nhau, biết dành cho nhau sự quý trọng, gĩư gìn nhân phẩm, uy tín cho nhau. Điều đó được thể hiện qua những hành vi, cách xử sự giữa vợ chồng với nhau trong cuộc sống thường ngày, bên cạnh đó vợ chồng không được phép thực hiện những hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau. Vợ, chồng trong cuộc sống gia đình phải đối xử với nhau bằng tình cảm, họ co trách nhiệm quan tâm, khuyên bảo lẫn nhau nhưng không ai có quyền ép buộc hay có những hành vi khác xâm phạm đến những quyền, lợi ích chính đáng của vợ hay chồng.
Ngoài ra một quy định rất quan trọng trong quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng đó là vợ chồng “ bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình” ( Điều 19). Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc nam nữ bình đẳng mà Hiến pháp đã quy định. Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng là quyền bình đẳng trên mọi phương diện. Thể hiên trong việc vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận và cùng nhau quyết định các vấn đề chung của gia đình, đó là các vấn đề như: Chăm sóc giáo dục con cái, vấn đề sử dụng định đoạt tài sản chung của vợ chồng, chỉ trong một số những trường hợp nhất định khi vợ hay chồng không đủ điều kiện hay có sự ủy quyền giữa vợ, chồng cho nhau thì vợ hay chồng mới có quyền đưa ra các quyết định mà không cần sự đồng ý của người còn lại. Ngoài ra vợ chồng cũng cần có sự bàn bạc giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau lựa chọn nghề nghiệp, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mỗi người ( Điều 23).
Luật HN & GĐ 2000 quy định rõ ràng quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng khi họ xác lập quan hệ hôn nhân vì thế khi nam nữ kết hôn trở thành vợ chồng họ có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các quy định đó. Nếu vi phạm một trong các quyền và nghĩa vụ này, không những vợ , chồng người co hành vi vi phạm phải chịu trach nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình mà cao hơn nữa từ chính những hành vi đó cuộc sống gia đình sẽ mất đi sự êm ấ, hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được và nguy cơ giảm sút sự bền vững của gia đình là điều dễ xảy ra.
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con cái.
Quan hệ giữa cha mẹ và con cái cũng được Luật HN&GĐ 2000 quy định rất rõ ràng nhằm điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, góp phần đảm bảo cuộc sống gia đình yên ấm, bền vững.
Về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ.
Luật HN&GĐ 2000 quy định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con vẩn được xây dựng dựa trên nguyên tắc cha và mẹ bình đẳng với nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ và quyền đối với con.
Điều 34 quy định:
Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con, tôn trọng ý kiến của con, chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con, không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 37 quy định “Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập. Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận,...