Khác biệt giới trong hành vi đọc sách của học sinh trung học phổ thông miền núi - Pdf 10

1

Khác biệt giới trong hành vi đọc sách của học
sinh trung học phổ thông miền núi (Nghiên cứu
trường hợp tại trường THPT Chuyên Bắc Kạn,
trường THPT Bắc Kạn, trường THPT Dân lập
Hùng Vương, trường Phổ thông Dân tộc Nội trú
tỉnh Bắc Kạn)

Nguyễn Thị Thái Hà

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Xã hội học
Chuyên ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn khoa học: TS.Trương An Quốc
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về khác biệt giới trong hành vi đọc sách
của học sinh. Tìm hiểu mức độ khác biệt giới trong hành vi đọc sách của học sinh trung
học phổ thông miền núi, trên các phương diện thể loại sách, mục đích đọc sách, thời
gian đọc sách, mức độ đến thư viện của học sinh. Trên cơ sở những phân tích đó đưa ra
những khuyến nghị và giải pháp nhằm giúp các em học sinh miền núi đến được với các
tài liệu đọc một cách tốt hơn, phù hợp với nhu cầu mỗi giới và nâng cao chất lượng đọc

Keywords. Xã hội học; Khác biệt giới tính; Hành vi đọc sách; Học sinh miền núi

Content.

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có thể nhận thấy, hành vi đọc sách đã xuất hiện trong nhiều nghiên cứu trong và ngoài
nước. Tuy vậy, chưa có một nghiên cứu nào tập trung tìm hiểu về hành vi đọc sách của học sinh

+ Trên cơ sở những phân tích đó đưa ra những khuyến nghị và giải pháp nhằm giúp các
em học sinh miền núi đến được với các tài liệu đọc một cách tốt hơn, phù hợp với nhu cầu mỗi
giới và nâng cao chất lượng đọc.
4. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khác biệt giới trong hành vi đọc sách của học sinh trung học phổ thông miền núi.

3

4.2. Khách thể nghiên cứu
Học sinh đang theo học tại bốn trường trung học phổ thông ở tỉnh Bắc Kạn.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi thời gian: Từ tháng 10/2010 đến tháng 5/2011.
* Phạm vi không gian: Trường THPT Chuyên Bắc Kạn, Trường THPT Bắc Kạn, Trường PTDT
Nội trú tỉnh Bắc Kạn, Trường Phổ thông dân lập Hùng Vương.
5. Giả thuyết nghiên cứu
- Phần lớn học sinh trung học phổ thông đã ý thức được tầm quan trọng của việc đọc sách, số
học sinh thường xuyên tiếp cận với sách là khá cao.
- Có sự khác biệt trong hành vi đọc sách giữa học sinh nam và học sinh nữ:
+ Học sinh nữ thường thích đọc những cuốn sách đơn giản, dễ hiểu hơn học sinh nam.
+ Học sinh nam dành ít thời gian đọc sách hơn học sinh nữ.
+ Mục đích đọc sách, tiêu chí lựa chọn sách và nơi đọc sách của học sinh nam cũng có sự khác
biệt so với học sinh nữ.
- Yếu tố cá nhân, phương pháp giảng dạy của giáo viên và cơ sở vật chất của thư viện trường có
ảnh hưởng đến sự khác biệt trong hành vi đọc của học sinh nam và học sinh nữ.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
Trong báo cáo này chúng tôi sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, mà trọng tâm là học thuyết hình thái kinh tế xã hội làm nền tảng.
6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Có thể nói, đã có khá nhiều các nghiên cứu của các nhà khoa học về vấn đề văn hoá đọc
nói chung và hành vi đọc sách của độc giả nói riêng với nhiều hướng tiếp cận khác nhau.
Có thể kể đến ở đây một vài nghiên cứu như nghiên cứu Truyền hình và hành vi đọc
của giới trẻ: một cách tiếp cận (Television and Young People's Reading Behaviour: A Review
of Researc)h của các tác giả Johannes W.J. Beentjes và Tom H.A. van der Voort, hay nghiên
cứu Hành vi đọc của giới trẻ cuối thế kỷ: nghiên cứu tập trung ở học sinh dân tộc thiểu số
bậc tiểu học (Young people’ reading at the end of the century: Focus on Ethnic Minority
Pupils) (1999) được Trung tâm nghiên cứu quốc gia Anh về văn học thiếu nhi thuộc viện
Roehampton công bố nhằm tìm hiểu về thói quen đọc sách của những em học sinh dân tộc thiểu
số.
Ở đây có thể kể đến một nghiên cứu khác về việc Tìm hiểu sự khác biệt giới trong
hành vi đọc ở trẻ em (Gender Differentials in Reading Behaviour Among Children) của các
tác giả Rita Rani, Raj Pathania và Shuphangna Sharma (Ấn Độ, 2006). Như vậy, có thể nhận
Nhu cầu đọc sách
Điều kiện khách quan
Đặc điểm giới
Hành vi đọc sách
5

xét rằng, sách báo và tạp chí vẫn nhận được sự yêu thích và quan tâm của giới trẻ trong thời đại
công nghệ thông tin như hiện nay.
Trong khoảng thời gian từ tháng 04-08/2009, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tiến
hành cuộc khảo sát về Thực trạng đọc sách của thiếu nhi Việt Nam (nghiên cứu tại 10 tỉnh
thành trong cả nước).
Vấn đề đọc sách của giới trẻ hiện nay còn được tác giả Lê Thị Như Khê đề cập tới trong
một nghiên cứu vào năm 2007 là “Sở thích đọc sách của giới trẻ ở Huế hiện nay: những số
liệu điều tra”.
Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào đi sâu vào việc tìm hiểu sự khác biệt giới trong

học sinh là người dân tộc thiểu số. Ngày 03/6/1991 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Thái có Quyết
định 179/UB-QĐ về việc thành lập Trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Thái; Năm 1997 tỉnh Bắc
Kạn được tái thành lập, trường được mang tên là “Trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Kạn”. Nhà
trường có nhiệm vụ giáo dục, đào tạo con em các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số
cho tỉnh và đất nước.
1.3. Lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử
và chủ nghĩa duy vật biện chứng.
1.3.1. Lí thuyết học tập xã hội:
1.3.2. Lí thuyết hành động xã hội của M.Weber
1.3.3. Lí thuyết nhu cầu của Maslow
1.4. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Khái niệm GIỚI
1.2.2. Khái niệm Hành vi
1.2.3. Khái niệm khác
+ Trường Trung học phổ thông
+ Trường Phổ thông dân tộc nội trú
+ Trường Trung học phổ thông Chuyên
+ Một số đặc điểm về giới ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông (từ 15 tuổi đến 18
tuổi) 7

CHƢƠNG 2: KHÁC BIỆT GIỚI TRONG HÀNH VI ĐỌC SÁCH CỦA HỌC SINH
THPT MIỀN NÚI

giải trí hấp dẫn khác như tivi, máy tính. Bên cạnh đó, chương trình học ở trường và các lớp học
thêm chiếm phần lớn thời gian trong ngày của các em, đặc biệt là ở các trường có phân ban.
Việc đọc sách để trau dồi kiến thức đã được chú ý đến, nhưng ở mức độ chưa cao.
8

Bảng 2.3: Mức độ đến thƣ viện của học sinh (%)
Mức độ đến thư viện
Tần suất
Thường xuyên
6,2
Thỉnh thoảng
62,5
Hiếm khi
23,2
Không bao giờ
8,0

Kết quả điều tra cho thấy, có 62,5% học sinh cho biết thỉnh thoảng mới đến thư viện.
Còn tới gần một phần tư số học sinh được hỏi cho biết các em hiếm khi lui tới thư viện. Lượng
học sinh không bao giờ đến thư viện còn cao hơn hẳn số học sinh tới thư viện thường xuyên
(8,0% so với 6,2%). Khi được phỏng vấn, các em cho biết tới thư viện chỉ khi nào nhà trường
có đợt mượn sách giáo khoa đầu năm, hoặc một số tìm tài liệu phục vụ môn học. Còn lại trong
khoảng thời gian cả năm học hầu như các em không lui tới thư viện.
2.1.3. Mục đích đọc sách của học sinh
Ở đây chúng tôi tiến hành tìm hiểu mục đích đọc sách của học sinh trung học phổ thông
miền núi và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.4: Mục đích đọc sách của học sinh (%)
Mục đích đọc sách
Tấn suất
Đọc để tìm hiểu một vấn đề đang quan tâm

các em.
2.1.4. Những khó khăn của học sinh khi tiếp cận với nguồn đọc
Hiện nay mặc dù xét một cách toàn diện thì thị trường sách, báo vô cùng phong phú với
rất nhiều thể loại đa dạng với nhiều hình thức thể hiện khác nhau. Ở các thành phố chúng ta
không mấy khó khăn để tìm được một siêu thị hay cửa hàng sách, học sinh sinh viên ở những
nơi này cũng dễ dàng tiếp cận với các thư viện lớn. Trong khi đó với đặc thù là miền núi với
nhiều hạn chế về mọi mặt, việc tiếp xúc với nguồn đọc cũng là một khó khăn lớn của học sinh
nơi đây.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.5: Khó khăn của học sinh trong việc tiếp cận với nguồn đọc (%)
Các yếu tố
Tần suất
Thể loại sách không phong phú
17,2
Không có sách phù hợp với nhu cầu
25,6
Không có tiền mua sách
43,2
Không có thời gian đọc sách
13,8
Khác
0,2
Tổng
100
Có thể nói gần đây, phạm vi đọc của học sinh đã được mở rộng ra nhiều. Điều này có
thể thấy qua sự bùng nổ báo chí và sách vở in ấn. Đủ loại ấn phẩm, rất phong phú về thể loại.
Sự kiêng dè, cấm kỵ cũng giảm đi. Sự đọc tăng lên mạnh mẽ. Tuy nhiên, nếu coi đọc như là
một sản phẩm văn hóa, được định nghĩa bằng "văn hóa đọc", phổ biến cho cả xã hội và dân tộc
thì trình độ "đọc cái gì" cho đến nay của ta vẫn còn nhiều hạn chế. Trình độ đó vẫn là sản phẩm
trực tiếp của một thời thiếu thốn sách vở. Nếu như ở các thành phố thì bạn đọc nói chung và học

12
6,0
7
3,5
Các loại báo, tạp chí
53
26,5
47
23,5
Truyện tranh
11
5,5
35
17,5
Truyện ngắn, tiểu thuyết
36
18,0
55
27,5
Truyện trinh thám, phiêu lưu
23
11,5
9
4,5
Truyện kinh dị, chuyện lạ
23
11,5
12
6,0
Tổng

ngắn, báo, tạp chí hay truyện tranh.
Chúng tôi nhận thấy học sinh nam hiện nay đã quan tâm đến việc đọc sách nhiều hơn,
mặc dù vẫn còn tồn tại tình trạng những học sinh quan niệm đọc sách là việc của con gái. Tuy
vậy nhiều em học sinh nam đã có niềm đam mê với sách vì mục đích tích lũy kiến thức và nâng
cao hiểu biết.
2.2.2. Giới tính và mục đích đọc sách của học sinh
Xác định mục tiêu đọc sách trước khi tiếp cận với sách là yếu tố vô cùng quan trọng
giúp học sinh thu được những kiến thức phù hợp, có ích, và tiết kiệm thời gian và công sức.
12

Tìm hiểu mối liên hệ giữa giới tính và mục đích đọc sách của học sinh chúng tôi đã phân tích và
thu được kết quả như sau:
Bảng 2.7: Tương quan giữa giới tính và mục đích đọc sách của học sinh
Mục đích đọc sách

Giới tính
Nam
Nữ
Để tìm hiểu một vấn đề đang quan tâm
21
10,5
26
13,0
Để tìm tài liệu trả lời cho câu hỏi, bài tập
giáo viên yêu cầu
41
20,5
17
8,5
Để biết toàn bộ nội dung một cuốn sách

này cho thấy sự chủ động trong việc đọc sách của học sinh nữ là cao hơn học sinh nam. Chúng
tôi nhận thấy rằng mục đích hàng đầu của sinh viên khi lựa chọn sách là học tập và giải trí.
Sở dĩ học sinh nam không có sự chủ động hay thói quen đọc sách là vì nhiều lý do. Theo
chúng tôi thì vì các em nam thường coi việc đọc sách là của các bạn nữ, hơn nữa tình trạng
chung là các bạn nam rất ít đọc sách, vì thế các emm thường chịu ảnh hưởng tâm lý theo đám
13

đông, đa số. Trong khi đó có những nam sinh không cảm thấy hứng thú khi đọc sách, hay nói
cách khác đọc sách đối với các em là công việc nhàm chán, tẻ nhạt.
2.2.3. Giới tính và tiêu chí lựa chọn sách của học sinh
Với sự phát triển đa dạng về chủng loại cũng như hình thức thể hiện của các loại sách
hiện nay thì việc tìm được một cuốn sách ưng ý với học sinh không phải là việc đơn giản. Đặc
biệt là không phải học sinh nào cũng được trang bị những kỹ năng tốt nhất để lựa chọn được
một cuốn sách phù hợp với nhu cầu. Phân tích tương quan giữa biến số giới tính và tiêu chí
chọn sách của học sinh chúng tôi nhận thấy:
Bảng 2.8: Tương quan giữa giới tính và tiêu chí chọn sách
Tiêu chí chọn sách
Giới tính
Nam
Nữ
Thiết kế, hình ảnh sinh động, bắt mắt
14
7,0
21
10,5
Tựa sách hấp dẫn
24
12,0
32
16,0

Cramer’s V = 0,226; P = 0,005

Phân tích mối quan hệ giữa yếu tố giới tính và những tiêu chí lựa chọn sách của học sinh
ta được kết quả như sau: Cramer’s V = 0,226 > 0; P = 0,005. Như vậy có thể nói có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê giữa học sinh nam và học sinh nữ trong việc đưa ra những tiêu chí lựa
14

chọn sách khác nhau. Đồng thời có mối liên hệ giữa hai yếu tố này. Trong khi nhiều học sinh nữ
quan tâm đến nội dung của cuốn sách thì học sinh nam đọc sách vì có nhiều người đang đọc.
Cũng có nhiều học sinh nữ quan tâm đến vấn đề giá cả của cuốn sách hơn học sinh nam. Chúng
ta thường biết đến phái nữ với cá tính tính toán trong vấn đề tài chính. Đặc biệt là các em học
sinh còn trong độ tuổi đi học, chưa có khả năng tự chủ về mặt tài chính, vì thế việc cân nhắc về
giá cả của cuốn sách là hoàn toàn hợp lý. Ngoài ra, ở đây cũng có nhiều học sinh trọ học xa nhà,
vì thế sự tự lập trong chi tiêu là điều mà các em rất coi trọng. Nam sinh thì thường có tâm lý
bốc đồng, thiếu thận trọng trong vấn đề chi tiêu, vì thế việc các em không quan tâm nhiều tới
giá cả của một cuốn sách cũng là điều dễ hiểu.
2.2.4. Giới tính và thời gian dành cho việc đọc sách mỗi ngày của học sinh
Có thể nói để hình thành một thói quen đọc sách đã không phải một việc dễ dàng với
mỗi học sinh. Việc tự thiết lập cho mình một khung thời gian nhất định mỗi ngày dành cho việc
đọc sách của mỗi học sinh khác nhau là khác nhau. Chúng tôi đã tìm hiểu sự khác biệt về quỹ
thời gian dành cho việc đọc sách của học sinh nam và học sinh nữ và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.9: Tương quan giữa giới tính và thời gian đọc sách
Thời gian đọc sách trong một
ngày
Giới tính
Nam
Nữ
Dưới 1h
67
33,5

Học sinh nam thường có tốc độ đọc chậm hơn và đọc ít sách hơn học sinh nữ. Bởi các
học sinh nam cho rằng đọc sách là việc mang tính chất phái nữ. Hầu như các em nam rất khó có
thể tập trung đọc sách trong thời gian dài. Một số em còn cho biết không thấy có ích lợi gì mà
sách mang lại nên các em không thích đọc sách.
2.2.5. Giới tính và nơi học sinh thƣờng đọc sách
Để xem xét sự khác biệt giữa học sinh nam và học sinh nữ trong việc lựa chọn địa điểm
đọc sách, chúng tôi đã tiến hành phân tích tương quan giữa biến số giới tính và nơi đọc sách của
học sinh và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.10: Tương quan giữa giới tính và nơi đọc sách của học sinh
Nơi đọc sách
Giới tính
Tổng
Na
m
Nữ
Ở nhà/Phòng trọ/Ký túc xá
115
57,
5
140
70,
0
255
63,75
Hiệu sách
21
10,
5
10
5,0

3
1,5
3
0,75
16

Tổng
200
10
0
200
10
0
400
100
Cramer’s V = 0,213; P = 0,003
Từ những phân tích thống kê thu được ở bảng trên (Cramer’V = 0,213 > 0; P = 0,003)
chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt về giới trong việc lựa chọn địa điểm đọc sách của học sinh
trung học phổ thông miền núi. Phần lớn học sinh nam và học sinh nữ đều lựa chọn nơi đọc sách
thích hợp nhất là ở nhà hay phòng trọ, ký túc xá với tỷ lệ tương ứng là 57,5% và 70,0%. Có tới
18,5% học sinh nam cho biết thường đọc sách ngay tại lớp học, trong khi đó lại có nhiều học
sinh nữ đến thư viện trường để đọc sách hơn cả (12,5%). Thư viện công cộng và hiệu sách là
những nơi học sinh thường ít lựa chọn. Chúng tôi nhận thấy sở dĩ các em thường đọc sách tại
nhà là vì lý do tiện lợi, thời gian đọc sách không bị bó hẹp, chi phối bởi các yếu tố khách quan.
Nguồn sách có thể là mua, mượn bạn bè, thuê ở các cửa hàng hay mượn thư viện.
Qua bảng số liệu trên chúng tôi nhận thấy thư viện công cộng (thư viện tỉnh, thư viện thị
xã) gần như không thu hút được sự quan tâm của học sinh trung học phổ thông ở cả hai giới.
Chúng tôi đã tiến hành quan sát và phỏng vấn sâu và được biết, thư viện tỉnh và thị xã chỉ mở
cửa trong giờ hành chính, các ngày làm việc từ thứ 2 đến thứ 6 trong tuần, do đó chưa đáp ứng
được nhu cầu đọc và tìm kiếm tài liệu của học sinh. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình

17
8,5
9
4,5
26
6,5
Thái độ phục vụ kém
11
5,5
7
3,5
18
4,5
17

Chất lượng sách không đảm bảo, không
phủ hợp
8
4,0
40
20,0
48
12,0
Thư viện không cho đọc sách báo tại chỗ
9
4,5
5
2,5
14
3,5

Có thể nhận thấy hiện nay khối lượng kiến thức ở trường gần như quá tải đối với các em
học sinh. Bên cạnh đó là sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình giải trí mới mẻ, hấp dẫn thu
hút giới trẻ. Vì vậy ngoài giờ học phần lớn các em học sinh muốn tham gia vào những hoạt
động vui chơi khác ngoài sách vở nhằm giải tỏa tâm lý thi cử, bài vở. Tuy nhiên với học sinh
nam và học sinh nữ thì những hoạt động giải trí mà các em hướng tới cũng không hề giống
nhau.
Bảng 2.12: Tương quan giữa giới tính và loại hình giải trí ngoài việc đọc sách
Loại hình giải trí ngoài việc đọc sách
Giới tính
Nam
Nữ
18

Xem tivi
45
22,5
57
28,5
Ngủ
9
4,5
7
3,5
Truy cập internet tìm kiếm thông tin
56
28,0
67
33,5
Chơi game online
57

đọc.
19

CHƢƠNG 3: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI HÀNH VI ĐỌC SÁCH CỦA HỌC
SINH THPT MIỀN NÚI
3.1. Các đặc điểm cá nhân của học sinh
Ở đây chúng tôi xem xét đến yếu tố giới là yếu tố có ảnh hưởng tới sự khác biệt trong
hành vi đọc sách của học sinh, cụ thể là ảnh hưởng tới mức độ lên thư viện của học sinh.
Bảng 3.1: Yếu tố giới và mức độ đến thƣ viện của học sinh (%)
Giới tính
Mức độ lên thư viện
Tổng
Thường
xuyên
Thỉnh
thoảng
Hiếm khi
Không
bao giờ
Nam
2,5
59,0
27,5
11,0

Trường THPT Bắc Kạn
38,0
37,0
25,0
Trường PTDTNT tỉnh Bắc Kạn
25,0
59,0
16,0
Trường PTDL Hùng Vương
26,0
61,0
13,0
20

Tóm lại, đặc điểm của học sinh có những ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện hành
vi đọc sách. Những đặc điểm này không chỉ là những đặc điểm nội tại bên trong mà còn là
những đặc điểm được hình thành từ quá trình cá nhân sống, học tập trong môi trường trung học
phổ thông. Thông qua việc phân tích tương quan chúng tôi nhận thấy các yếu tố này có ảnh
hưởng nhất định đến quá trình thực hiện hành vi đọc sách của học sinh trung học phổ thông
miền núi.
Như vậy yếu tố giới và yếu tố trường học đều có ảnh hưởng khá mạnh đến việc thực
hiện hành vi đọc sách của học sinh trung học phổ thông miền núi.
3.2. Phương pháp khích lệ và gợi mở vấn đề của giáo viên
Quá trình giáo dục là quá trình diễn ra có sự tác động hai chiều giữa người dạy và người
học. Đối với học sinh nói chung thì ảnh hưởng của giáo viên đối với quá trình thực hiện hành vi
học tập của các em là khá lớn. Đặc biệt là đối với những học sinh phải trọ học và sống xa gia
đình. Việc các em đọc sách gì và đọc như thế nào cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ các giảng dạy
của thầy cô. Việc có được một phương pháp đọc sách đúng cách không phải là điều đơn giản.
Sự hướng dẫn kỹ năng đọc và tìm kiếm tài liệu của giáo viên sẽ giúp học sinh thực hiện tốt hơn
việc đọc và nâng cao hiệu quả sử dụng tài liệu.

100%
Trang thiết bị, máy móc phục vụ tra cứu
8,6
21,2
40,5
24,2
5,5
Hệ thống tư liệu trong thư viện
10,2
33,8
36,8
17,8
1,6
Điều kiện phòng đọc(bàn ghế, diện tích, )
6,0
18,0
32,2
32,2
11,6
Chất lượng phục vụ của cán bộ thư viện
4,2
20,0
33,2
35,8
6,8
Tóm lại, hầu hết cơ sở vật chất của các trường còn chưa đáp ứng được nhu cầu của học
sinh. Nhóm cơ sở vật chất được đánh giá là thiếu thốn nhất theo ý kiến của chính những người
học là hệ thống tư liệu của thư viện, nhóm cơ sở vật chất khá hơn cả là điều kiện phòng đọc.
Như vậy với điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế như vậy thì việc khuyến khích và hình
thành thói quen đọc sách cho học sinh có lẽ sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn.

Các yếu tố như phương pháp giảng dạy của giáo viên, cơ sở vật chất của thư viện trường
có ảnh hưởng tới hành vi đọc sách của học sinh.
KHUYẾN NGHỊ
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã có, chúng tôi đã phần nào khái quát được
một bức tranh về thực trạng vấn đề đọc sách của học sinh trung học phổ thông miền núi hiện
nay, một số khác biệt từ góc độ giới trong việc thực hiện hành vi đọc sách của học sinh. Từ đó
chúng tôi xin đưa ra một vài khuyến nghị và giải pháp nhằm phát huy và thúc đẩy các dạng
hành vi đọc sách tích cực của học sinh nhằm phát huy một cách tốt nhất năng lực và kỹ năng
đọc sách của mỗi giới như sau:
Thứ nhất cần nâng cao nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của việc đọc sách,
đặc biệt là đối với nam sinh.
Thứ hai khuyến khích học sinh đọc sách ngay từ khi học sinh bước vào trường trung
học phổ thông. Mặc dù sở thích của mỗi học sinh nam và học sinh nữ có sự khác biệt nhưng xét
về mặt bằng chung thì là tương đối giống nhau. Hầu hết học sinh nam quan tâm đến những
thông tin trên báo và tạp chí về các lĩnh vực thể thao, chuyện hài, lịch sử, các vấn đề khoa học,
những câu chuyện phiêu lưu … Học sinh nữ thì quan tâm đến các thể loại báo, tạp chí, truyện
ngắn, tiểu thuyết, các tác phẩm văn chương,…
Thứ ba cần cung cấp một lượng sách đảm bảo phục vụ cho số lượng học sinh của các
trường. Cụ thể phải dựa vào thực trạng mỗi trường để cung cấp, thường xuyên cập nhật các đầu
sách đáp ứng nhu cầu đọc sách và tìm kiếm tài liệu của các em. Tạo môi trường đọc thân thiện
giúp các em có được sự thoải mái khi tiếp cận với các nguồn đọc. Dựa vào kết quả nghiên cứu
23

tiến hành cung cấp lượng sách, loại sách phù hợp với nhu cầu của mỗi giới nhằm tại ra sự hứng
thú cho học sinh để việc đọc được phát triển rộng rãi và thu được kết quả tốt nhất.
Thứ tư cần hướng dẫn phương pháp, cách thức đọc sách hiệu quả cho học sinh để các
em có thể tiếp thu và vẫn dụng tốt hơn những tri thức khoa học. Xây dựng cho các em thói quen
đọc sách, đọc sách gì và đọc như thế nào. Thực hiện tốt phương pháp đọc sách sẽ giúp học sinh
hệ thống kiến thức, thu nạp thông tin hiệu quả hơn, đồng thời tiết kiệm thời gian đọc sách và
tìm kiếm tài liệu cần thiết.

phương tiện truyền thông kiểu mới, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
16. Nguyễn Quý Thanh (2011), Một số quan điểm xã hội học của Durkheim – sách chuyên
khảo, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
17. TS. Phạm Văn Tình (2006), Đọc và văn hoá đọc trước ngưỡng cửa thông tin, Tạp chí Thư
viện số 3.
18. Trần Văn Tùng (2001), Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam, Nxb
Thế giới, Hà Nội.
19. Phạm Viết Vượng (2003), Nâng cao chất lượng giáo dục là con đường phát triển bền vững
ở Việt Nam, Tạp chí Giáo dục, số 53, tr.5- 6.
20. Trần Thị Kim Xuyến (2003), Giới và công tác giảm nghèo, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

Tiếng Anh
21. Bernice E, Cullinan (2000), Independent reading and school achievement, www.ala.org.
22. Carol Tenopir and Ian Rowlands (2007), Information behaviour of the researcher of the
future: Age – related information behaviour, www.jisc.ac.uk, cập nhật ngày 11/01/2008.
23. Commeyras, M. & Inyega, H. (2007), An integrative review of teaching reading in Kenyan
primary schools, p.258-281.
24. Christina Clark and Sarah De Soysa (2011), Mapping the interrelationships of reading
enjoyment, attitudes, behaviour and attainment – An exploratory investigation,
www.literacytrust.org.uk.
25. The Department of Arts and Culture (2007), National survey into the reading and book
reading behaviour of adult South Africans, www.saccd.org.za, cập nhật ngày 03/03/2011.
26. Hannah Richardson, Boys now reading as well as girls, study suggest, www.bbc.co.uk, cập
nhật ngày 27/02/2012.
27. Rita Rani, Raj Pathania and Shubhangna Sharma (2006), Gender differentials in reading
behavior among children, www.krepublishers.com.
25

28. Stiftung Lesen (2008), Reading behaviour in Germany, The Federal Ministry of Education
and Research, www.euread.com, cập nhật ngày 16/02/2012.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status