Loài vật trong tiếng gọi nơi hoang dã và nanh trắng của jack london - Pdf 10


1

Loài vật trong Tiếng gọi nơi hoang dã và Nanh
trắng của Jack London

Trần Thị Lệ

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Văn học
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài; Mã số: 60 22 30
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Lê Huy Bắc
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Tổng quan về vai trò đặc biệt của loài vật trong sáng tác của Jack London.
Chứng minh một thế giới nhân vật loài vật đa dạng và trình bày vị trí của hình tượng
chó sói, dấu ấn ngụ ngôn cũng như cách tái hiện nhân vật trong tiểu thuyết của Jack
London. Chỉ ra những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Jack
London.

Keywords. Tiểu thuyết; Văn học nước ngoài; Nghiên cứu văn học MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Jack London (1876 – 1916) là một trong những đại biểu xuất sắc của nền văn
học tiến bộ Hoa Kỳ vào những thập niên cuối của thế kỉ XIX đầu XX. Tuy cuộc đời
ngắn ngủi nhưng con người của hai thế kỉ này đã trải qua nhiều biến chuyển phức
tạp trong đời sống xã hội nước Mỹ và để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ. Tác
phẩm của Jack London được dịch ra nhiều thứ tiếng và có mặt ở Việt Nam vào
những năm sáu mươi của thế kỉ XX. Mặc dù được nhiều bạn đọc yêu mến nhưng
cho đến nay các công trình nghiên cứu về Jack London vẫn chưa được quan tâm

London. Do đó có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về các văn bản này trên nhiều
phương diện từ hình tượng, hiện thực, thi pháp,…Song mảng tài liệu nghiên cứu về
loài vật trong sáng tác của Jack London vẫn chủ yếu được trình bày xen kẽ, rải rác
trong một số bài viết: Những nhận định đặc trưng phong cách J. London của tác giả
Đỗ Đức Dục [20]; Vài nét về nhân vật và nghệ thuật kể chuyện của Đào Duy Hiệp
[28]; Tác giả Lê Nguyên Cẩn có bài viết về J. London và hình tượng con chó Buck. Và
một số công trình nghiên cứu tổng hợp của tác giả Lê Đình Cúc về tác gia văn học Mỹ
[17]; Lê Huy Bắc với hồ sơ về con chó Buck [6]. Bên cạnh nguồn tài liệu tiếng Việt
còn có một nguồn tài liệu dồi dào từ tiếng nước ngoài của một số tác giả như: King
Hendricks, Ear Labor, Earl Wilcox, J. MeClintock,…là những gợi mở cho đề tài của
chúng tôi. 3
3. ĐỐI TƢỢNG, MỤC ĐÍCH, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhân vật loài vật trong hai cuốn tiểu thuyết:
Tiếng gọi nơi hoang dã và Nanh trắng. Từ hình tượng này, chúng tôi mở rộng khai
thác trên một số phương diện về nghệ thuật, tư tưởng của nhà văn.
3.2. Mục đích nghiên cứu
Loài vật có một vai trò đặc biệt trong sáng tác của Jack London. Ngoài việc
chứng minh một thế giới loài vật đa dạng, luận văn còn đi sâu trình bày vị trí của hình
tượng chó sói, dấu ấn ngụ ngôn cũng như tái hiện nhân vật. Từ đó chỉ ra những đặc sắc
trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Jack London.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
3.3.1. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài: Loài vật trong Tiếng gọi nơi hoang dã và Nanh trắng, chúng tôi chủ
yếu tập trung vào ba vấn đề chính: phân loại kiểu nhân vật loài vật, tính ngụ ngôn và
vài nét về nghệ thuật xây dựng nhân vật.
3.3.2. Phạm vi tác phẩm

tượng chính: Hình tượng chó sói và các loài vật hoang dã. Trong đó, chó sói là hình
tượng chủ đạo, xuất hiện với tần số dày đặc. Chúng góp mặt ở nhiều thể loại, phong
phú về môi trường sống, đa dạng về tính cách, phức tạp trong đời sống nội tâm.
Để rõ hơn vấn đề này,chúng tôi đưa ra đây bảng thông kê sơ bộ về hai cuốn tiểu
thuyết của Jack London hòng chứng mình vai trò, vị trí của hình tượng chó sói trong
đời sống văn học của nhà văn tài năng này.
Loài vật xuất hiện trong Tiếng gọi nơi hoang dã
Hình tƣợng trung tâm – Loài chó/sói
Loài vật khác
Vật nuôi
Hoang dã
Bán hoang dã
Vật nuôi
Hoang dã
Tút (Toots-chó ỉn
Nhật Bản)
Étkimô
(Husky)
Bấc
(Buck)

Thỏ Bắc Cực
Idaben (Ysabel-chó
lai Mexican)
Chó sói
(Wolf)
Cơli
(Curly)

Gấu đen
Paicơ (Pike)

Ngỗng trời Đớp (Dub)
5 Đôli (Dolly)

Tích (Teek)

Kuna (Koona)

Xkít (Skeet)

(White fang)

Chim tuyết,
gõ kiến
Một tai (One Ear)
Một mắt
(One eye) Thỏ
Quán quân
(Spanker)
Muỗi
Liplip
(Lip-lip)
Nhím
Baxic
(Baseek)
Gà rừng
Chó săn lông xù
(Setter dog)


Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có một số điểm đáng lưu ý sau:
- Các kiểu nhân vật có sự phân bố khác nhau trong hai cuốn tiểu thuyết Ở Tiếng gọi
nơi hoang dã, kiểu hình tượng bán hoang dã chiếm tỉ lệ nhiều nhất. Trong khi đó Nanh
trắng chủ yếu là những con vật nuôi. Từ kiểu phân bố hình tượng có phần chênh lệch
này cho thấy nhà văn đã ngầm đề xuất và lí giải một cách thuyết phục ý tưởng xây
dựng hành trình xuôi/ngược của văn minh và hoang dã. Sự phong phú của loài vật
hoang dã cũng như bán hoang dã là sức hút đối với Buck thì ở Nanh trắng những con
vật nuôi đã được thuần hóa lại đưa nó gần hơn với thế giới văn minh
- So với Hemingway, J. London không miêu tả một cách đa dạng về chủng loại.
Nhưng ở J. London chúng ta lại bắt gặp sự xuất hiện của những con sói lai. Dưới ngòi
bút của ông, chó sói mới trở thành một thực thế sống động.
- Loài chó – sói xuất hiện trong truyện của J. London thường có những xuất
thân rất cụ thể. J. London đã làm thay đổi quan niệm trước đây về hình ảnh những con
sói ma mãnh, quỷ quyệt và độc ác.
1.1.2. Hành trình theo bản năng
Hành trình theo bản năng diễn tả toàn bộ quá trình chuyển biến của Buck, từ một
con chó nhà hóa thành sói hoang. Có thể khái quát hành trình của Buck vào bốn giai
đoạn sau (tương ứng với bố cục của truyện). ): Giai đoạn 1: Vào cõi nguyên thủy
(chương I). Giai đoạn 2: Lao động và thách thức (chương II đến chương V). Giai đoạn 3:
Sức mạnh yêu thương (chương VI). Giai đoạn 4: Bi kịch hóa sói VII). Mỗi giai đoạn là
một giải thích, một minh chứng và kết luận thuyết phục của Jack London về vấn đề thích
nghi hay tiến hóa của xã hội loài sói mà cũng là xã hội loài người.
- Ở giai đoạn đầu Vào cõi nguyên thủy, Buck được tập trung miêu tả qua những chuyến đi
với các đia danh cụ thể và liên tục di chuyển. Sau mỗi chặng đường từ miền Nam ấm áp
cho tới phương Bắc lạnh giá, khốc liệt, Buck dần thích nghi với sự sống mới thông qua
những biến đổi về ngoài hình và các bài học sinh tồn.
- Sang tới giai đoạn 2: Lao động và thách thức, câu chuyện kể về Buck trở nên cuốn hút
bởi cùng với sự thích nghi ở Buck là các dấu hiệu “thoái trào”. Một trong những nguyên
nhân đẩy hành trình của đạt “cực điểm” chính là yếu tố bản năng. Theo quy trình này,

người.
- Bên cạnh những cám dỗ mang tính hữu hình của văn minh, ở Nanh trắng còn tồn tại
một xúc cảm vô hình “một con sói biết nhớ văn minh”. Đây chính là sợi dây kéo Nanh
trắng quay trở về với lều trại của quanh người.

8
- Con đường đến với văn minh của Nanh trắng chỉ thực sự được định hình và xác
lập khi có sự xuất hiện của Weedon Scott. Văn minh luôn tỏa ra sức hút kì diệu và
ngày càng có sự tăng cấp trong suốt hành trình của con sói lai này. Trong đó tình yêu
là sự cám dỗ lớn nhất để Nanh trắng nỗ lực vượt lên bản năng giống nòi, áp chế dục
vọng và hóa thân trọn vẹn vào đời sống loài người.
J. London quả là bậc thầy trong việc phân tích những tầng bậc tâm lí phức tạp,
linh diệu của nhân vật đặc biệt này. Nhà văn luôn đứng từ lối nhìn của động vật, để
cho thấy cách mà loài vật nhìn nhận thế giới của chúng và cách mà chúng nhìn nhận
loài người. Đó là điểm khác biệt ở hình tượng sói của Jack London so với ngụ ngôn và
văn học truyền thống.
1.2.2. Rời bỏ bản năng
Việc “rời bỏ bản năng” mà chúng tôi trình bày được dựa trên lí thuyết của
Darwin: Những yếu tố tích cực trong khả năng nhận thức và thích nghi của loài vật
trong các hoàn cảnh sống mới. Jack London đã trình bày quá trình thuần hóa thuyết
phục và logic thông diễn biến sau:
- Thể hiện ở Nanh trắng là sự thuần phục, tự nguyện phục tùng các ý muốn của thần
linh. Nó là một con sói hiếm hói ngưỡng vọng và sùng bái con người như nhưng vị
thần linh.
- Ở Nanh trắng luôn tồn tại hai đặc tính đáng quý. Biết đánh giá và nhận xét cuộc
sống con người. Từ đó hình thành cho chú sói này khả năng tự điều chỉnh, thích ứng với
môi trường sống đặc biệt của các đáng thần linh.
- Nanh trắng là một con chó dành tình cảm đặc biệt cho con người ban đầu xuất phát
từ lửa và thức ăn. Nhưng kể từ khi gặp Widon Scott những cố gắng để đáp lại tình yêu
thương ở người chủ này là cao trào của sự quyết tâm rời bỏ bản năng ở Nanh trắng.

bằng yếu tố tình thương. Buck và Nanh trắng chính là những ngọn nến nhỏ trong xã
hội Mỹ đang tắt dần hơi ấm tình người.
2.2. Chiều sâu giáo huấn đạo lí
2.2.1. Bài học về sinh tồn
Lẽ sinh tồn là thuật ngữ xuất hiện thường trực trong đời sống thường nhật và đi
vào văn chương của Jack London như một hệ quả tất yếu. Sự sống đối với Jack
London mà nói chính là đấu tranh để tồn tại.
Nhà văn một mặt thừa nhận sức mạnh mù quáng của tự nhiên đối với hành trình
đi tìm sự sống. Mặt khác ông ngợi ca sức sống bền bỉ, nghị lực phi thường tiềm ẩn

10
trong các cá thể xuất chúng. Ở Buck nhân tố bản năng đưa nó rơi vào các trạng thái
thoái trào về đạo đức nhưng cũng giúp nó thích nghi một cách nhanh chóng với hoàn
cảnh mới. Ở Nanh trắng yếu tố bản năng trì níu hành trình đến với văn minh nhưng lại
cho thấy những nỗ lực không ngừng trong toàn bộ hành trình thích nghi của loài sói
hoang dã thành chó nhà.
Jack London cũng luôn nhận định hiện thực trong mối tương quan giữa chủ thể
và hoàn cảnh. Xét về hình thức của Tiếng gọi nơi hoang dã và Nanh trắng thì đây là
hai cuốn tiểu thuyết độc lập nhưng khi đặt cạnh nhau chúng là một câu chuyện mà
nhân vật chính hóa thân vào hai trạng huống khác nhau. Hoàn cảnh sống càng khắc
nghiệt, vạn vật càng phải biến hóa mềm dẻo và hệ quả của sự tuân thủ các quy luật ấy
bao giờ cũng dẫn tới sự ra đời của các nét tính cách mới (bao gồm cả yếu tố tích cực
và tiêu cực). Buck và Nanh trắng của Jack Lodon đều được thừa nhận ở môi trường
mới. Những gì mà nhà văn thể hiện có thể đã không còn mới mẻ nhưng điều đáng nói
ở đây chính là thái độ sống tích cực của ông trước mọi hoàn cảnh.
2.3.2. Bài học về tình yêu thương
Truyện của Jack London lần đầu tiên đề cập đến những con sói biết yêu thương.
Nhà văn gần như đã thay đổi hoàn toàn quan niệm và ấn tượng tồn tại hàng ngàn năm
trong đời sống văn hóa tinh thần của loài người. Những con sói luôn là hình ảnh đáng
sợ, khôn ranh, xỏa quyệt, là biểu tượng khắc tinh với huyền thoại Ma cà rồng

tố như: nguồn gốc xuất thân, hình dáng, các địa danh chúng đi qua. Ngoài ra còn có
một số đặc sắc về thi pháp như tính chân thực của hình tượng, vấn đề luân chuyển đa
dang điểm nhìn.
Có thể nói sự thành công lớn nhất của Jack London trong hai cuốn tiểu thuyết
Tiếng gọi nơi hoang dã và Nanh trắng là nghệ thuật xây dựng hình tượng. Chính vì
vậy, khi tìm hiểu những nét đặc sắc từ thể loại ngụ ngôn đến tiểu thuyết được biểu
hiện ở Jack London, luận văn của chúng tôi chủ yếu nhìn từ góc chiếu của nhân vật để
đi đến các phương diện khác của tác phẩm. Và nhận thấy rằng: Jack London là một
nhà văn cổ điển trong lối tư duy nhưng lại là một nhà cách tân lớn ở hình thức thể hiện
hiện đại.

12

Chƣơng 3
NHÂN VẬT QUA XUNG ĐỘT VÀ KHẮC HỌA TÂM LÍ

3.1. Khắc họa nhân vật thông qua xung đột
3.1.1. Đối sánh với con người
Con người với chiếc dùi cui trong tay đã trở thành biểu tượng cho sự đối
chọi hay khuất phục, yêu thương và thù hận trong cuộc chiến sinh tồn và thích nghi
của loài chó sói. Sự đối sánh với con người thể hiện rõ tính chất biến hóa trong nghệ
thuật tạo dựng xung đột ở Jack London. Trong đó có sự đậm nhạt, nhanh chậm khác
nhau trong mỗi tác phẩm, nhân vật, đoạn đời.
Tiểu biểu ở Nanh trắng là cuộc đối đầu với Smith kéo dài tới 40/300 trang
văn bản. So với Nanh trắng, xung đột trong Tiếng gọi nơi hoang dã xuất hiện bí ẩn, bất
ngờ và nhanh chóng đẩy nhân vật sang một trạng thái khác. Buck đang say sưa trong
tình yêu với chủ nhận nhưng chỉ trong một khoảnh khắc bé nhỏ đứng trước cái chết
của Jonh thornton: Buck hóa sói. Người Yheets gọi nó là hung thần hay quỷ dữ hiện
hình. Điều đó cho thấy: sự tha hóa bao giờ cũng diễn ra nhanh hơn rất nhiều trong khi
con người phải mất hàng nghìn năm mới vươn tới văn minh,

nhiên với cái băng giá của tuyết, khắc nghiệt của cái đói, nguy hiểm rình rập. Sự sống
và cái chết trở nên mong manh, mơ hồ. Mở ra không gian đặc biệt ấy và đẩy nhân vật
vào, nhà văn muốn tìm một lời giải cho tính bản năng, cho khát vọng sống lớn lao
không chỉ có riêng ở loài vật.
So sánh với Hemingway – một nhà văn có nhiều điểm tương đồng với J. London,
ta có thể thấy những quan niệm khác biệt. Nếu J. London luôn tuân thủ tuyệt đối luật lệ
của rừng hoang: Kẻ mạnh là kẻ chiến thắng. Với Hemingway, thiên nhiên là phép thử để
nổi bật lên lòng dũng cảm, sư hèn nhát, tính nhân từ ở con người. Với J. London cái chết
ngoài những ý nghĩa trên còn là một lời cảnh tỉnh nghiêm khắc trước làn sóng người đang
đổ xô về Klondike.
3.2. Miêu tả tâm lí nhân vật
3.2.1. Tái hiện dòng ý thức và vô thức
Trong quan niệm của triết học thì ý thức là cái mà chúng ta có thể tri nhận và làm
chủ nó. Ý thức là cái quyết định nhiều hơn đến quá trình “văn minh hóa dã man” của
Nanh trắng. Những chuyển biến trong ý thức của mỗi con sói được thể hiện ở các
phương diện như:
- khả năng nhận thức được sức mạnh của con người.
- Thể hiện trong lao động
- Tính sáng tạo

14
Từ việc ý thức được sự hiện hữu của cá nhân và các sự vật xung quanh, những
con sói đã biến tấu linh hoạt các kinh nghiệm sống có được vào từng hoàn cảnh cụ thể
như một con người chân chính.
Nếu ý thức là cái có thể chế ngự thì vô thức hay tiềm thức lại thuộc về bản năng.
Vô thức là cái quyết định tới Buck trên con đường hóa sói và được khái quát thành
một số khía cạnh như:
- lí giả giấc mơ về con người lông lá với tiếng hú gọi của tổ tiên vọng lại
- Biểu tượng lửa và tiếng hú
- Nỗi sợ hãi


1. Văn học Mỹ những năm cuối thế kỉ XIX đầu XX là một giai đoạn nở rộ của
nhiều thể loại, đặc biệt là truyện ngắn và tiểu thuyết. Sự mở rộng và phát triển các thể
loại tự sự đã cho thấy nhu cầu đào sâu hiện thực của các nhà văn. Rất nhiều sáng tác
trong giai đoạn này phảng phất dư vị lạ hóa của truyện cổ tích hay chất hàm súc của
ngụ ngôn. Đây là những thể loại ra đời sớm, có nguồn gốc từ nền văn học dân gian
nhưng lại đậm chất thế sự, có khả năng khái quát, chuyển tải các vấn đề cuộc sống.
Thêm vào đó, sự bùng nổ mạnh mẽ của thông tin cũng như nhu cầu thể nghiệm các hình
thức nghệ thuật mới, đòi hỏi và thôi thúc người cầm bút phải tìm ra hướng đi riêng. Văn
học Mỹ qua những tên tuổi đã trở nên quen thuộc với độc giả Việt Nam như: Mark
Twain, O. Henry, Hemingway, John Steinbeck,… đã cho thấy sự chuyển mình và bắt kịp
các xu hướng của nghệ thuật đương đại
2. Tiểu thuyết Jack London không nằm ngoài quy luật ảnh hưởng và kế thừa của
đời sống văn học. Được xem là một hiện tượng độc đáo của nền văn học hiện đại nước
Mỹ. Từ những thập niên sáu mươi của thế kỉ XX, những sáng tác thành công nhất của
Jack London đã được dịch và giới thiệu rộng rãi ở Việt Nam. Trong đó Tiếng gọi nơi
hoang dã nổi liên như một huyền thoại. Tài năng của ông thể hiện ở mảng truyện loài
vật sau đó được khẳng định thêm qua cuốn tiểu thuyết Nanh trắng. Trải qua bao biến
động của lịch sử, nhân vật sói của Jack London vẫn khơi gợi biết bao xúc cảm trong
lòng độc giả khắp bốn phương. Tiếp cận với kiểu hình tượng sói của ông, người đọc
đều nhận thấy ở chúng những nét bình dị, gần gũi thân thuộc trong nghệ thuật xây
dựng nhân vật, trong chủ đề đạo đức. Ấy là nhờ chất ngụ ngôn phảng phất thấm đượm
qua mỗi sáng tác. Từ quá trình cách tân này, Jack London đã có công bắc một nhịp cầu
nối giữa văn học truyền thống và đương đại.
3. Tìm hiểu loài vật qua hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Tiếng gọi nơi hoang dã và
Nanh trắng, người viết trên cơ sở khảo sát về hệ thống nhân vật đã chỉ rõ vị trí của hình
tượng chó sói trong sáng tác của nhà văn. Đề xuất hai kiểu hình tượng trung tâm Sói hóa
chó nhà và Sói thuần hóa, đồng với việc khái quát các kiểu hình tượng này, chúng tôi đã lí
giải được ý nghĩa biểu tượng của loài chó sói và những ảnh hưởng lẫn thành công của


xu thế chung. Sự tinh túy này được chắt lọc từ tài năng và cách nhìn phóng khoáng của
nhà văn trước hiện thực đời sống.
6. Qua việc nghiên cứu hai cuốn tiểu thuyết đặc sắc về loài vật, chúng tôi nhận ra
cá tính sáng tạo của nhà văn trong tổng thể chung: từ loài vật đến con người và ngược

18
lại. Đó là một lối tư duy biện chứng, luôn đánh giá hiện thực trên cái nhìn toàn diện,
đa chiều. Luôn đi tìm những mảng sáng trong con người nhưng lại để họ tự trải nghiệm,
trả giá về cuộc đời. Vì vậy mà nhân vật của ông có phê phán nhưng không cay nghiệt,
có bi kịch nhưng không gợi sự bi thương. Sói của Jack London lần đầu tiên trở thành
biểu tượng kì thú mang dấu ấn văn hóa, lịch sử của nước Mỹ và nhân loại.

References.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Tiếng Việt
1. Nguyễn Kim Anh (2004), Thiên nhiên đặc trưng trong thi pháp tiểu thuyết của
Jack London, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Viện khoa học xã hội Việt Nam – Viện
văn học.
2. Nguyễn Kim Anh (2003), “Lòng khát khao sống và cuộc đấu tranh sinh tồn
trong tác phẩm Tình yêu cuộc sống của Jack London”, Châu Mỹ ngày nay, (8),
tr. 60 – 63.
3. Nguyễn Kim Anh (2003), “Hình ảnh người da đỏ Indian trong sáng tác của Jack
London”, Châu Mỹ ngày nay, (6), tr. 61 – 64.
4. Lại Nguyên Ân (2003), (chủ biên), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQGHN.
5. M. Backhtin (2003), Lý luận và lý luận tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn.
6. Lê Huy Bắc (2003), Văn học Mỹ, Nxb Đại học Sư phạm.
7. Lê Huy Bắc (2004), Phê bình – lí luận văn học Anh Mỹ, Nxb GD.
8. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn: Lý luận tác gia và tác phẩm, Tập 1, 2 Nxb
GD.

25. Hà Minh Đức (2002), Lí luận văn học, Nxb GD, Hà Nội.
26. Trần Thị Ngân Hà (2006), Nhân vật loài vật trong tác phẩm của Jack London,
Khóa luận tốt nghiệp, Đai học Sư phạm Hà Nội.
27. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn
học, Nxb Giáo dục.
28. Đào Duy Hiệp (2002), “Nhân vật và người kể chuyện trong Tiếng gọi nơi
hoang dã”, Văn học nước ngoài, (02). 2002, tr. 208 – 217.
29. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục,
Hà Nội.
30. Holly Hughes (1999), “Văn học Mỹ (1600 – 1914)”, Văn học, (10), tr. 75 – 84.

20
31. Lưu Hồng Khanh (2005), Tâm lí học chuyên sâu Ý thức và tầng sâu
vô thức, Nxb Trẻ.
32. Đinh Gia Khánh (2004), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb GD.
33. Lê Lâm (2004), Loài vật trong sáng tác của Ernest Hemingway, Luận văn
Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
34. Jack London (2001), Tác phẩm chọn lọc, Nxb Văn hóa thông tin,.
35. Jack London (2002), Nanh trắng, Nxb Văn học.
36. Jack London (1997), Tuyển tập truyện ngắn Jack London, Nxb Hội nhà văn,
Hà Nội.
37. J. Chevalier và A. Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới,
Nxb Đà Nẵng.
38. K. Pauxtôpxki (1961), Bông hồng vàng, Nxb Văn hóa.
39. Phương Lựu (2003), Lí luận văn học, Nxb GD, Hà Nội.
40. Phương Lựu (2001), Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX, Nxb Văn
học.
41. Nguyễn Đăng Mạnh (2006), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà
văn, Nxb GD.
42. Nhiều tác giả (1970), Lịch sử văn học Việt Nam, Tâp 1, Nxb GD (Tủ sách Đại

58. Đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn Nhóm lửa của Jack London
59.
60. Luật đời, Chúc kẻ lên đường.
61.
62. Jack London's Writings
63.
The Call of the Wild, by Henry Veggi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status