1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ LỆ
LOÀI VẬT TRONG TIỂU THUYẾT NANH TRẮNG
VÀ TIẾNG GỌI NƠI HOANG DÃ CỦA JACK LONDON
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ LỆ
LOÀI VẬT TRONG TIỂU THUYẾT NANH TRẮNG
VÀ TIẾNG GỌI NƠI HOANG DÃ CỦA JACK LONDON
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 60 22 02 45
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS LÊ HUY
2.2. Thế giới loài vật – bức tranh chân thực về con người ..................... 43
2.2. Chiều sâu giáo huấn đạo lí ............................................................. 47
2.2.1. Bài học về sinh tồn................................................................... 47
4
2.2.2. Bài học về tình yêu thương ...................................................... 53
2.3. Đặc sắc trong việc chuyển hóa chất liệu ngụ ngôn vào thể loại tiểu thuyết
.............................................................................................................. 59
Chương 3: NHÂN VẬT QUA XUNG ĐỘT VÀ KHẮC HỌA TÂM LÍ .. 66
3.1. Khắc họa nhân vật thông qua xung đột ........................................... 66
3.1.1. Đối sánh với con người ............................................................ 66
3.1.2. Đối sánh với đồng loại ............................................................. 72
3.1.3. Đối sánh với thiên nhiên .......................................................... 77
3.2. Miêu tả tâm lí nhân vật ................................................................... 82
3.2.1. Tái hiện dòng ý thức và vô thức ............................................... 82
3.2.2. Phân tích tâm lí đồng dạng với con người ................................ 94
KẾT LUẬN ............................................................................................ 100
5
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Jack London (1876 – 1916) là một trong những đại biểu xuất
sắc của nền văn học tiến bộ Hoa Kỳ vào những thập niên cuối của thế kỉ
XIX đầu XX. Tuy cuộc đời ngắn ngủi nhưng con người của hai thế kỉ
này đã trải qua nhiều biến chuyển phức tạp trong đời sống xã hội nước
Mỹ và để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ. Ông là cây bút thành công
trên nhiều thể loại với hơn 50 tập sách, bao gồm 22 tiểu thuyết, 3 vở
mảng đề tài về loài vật đã trở nên vắng bóng, thay vào đó là xu hướng
khai thác đời sống, chiều sâu tâm tư con người, đáp ứng thị hiếu của độc
giả. Với đề tài: “Loài vật trong tiểu thuyết Nanh trắng và Tiếng gọi nơi
hoang dã của Jack London”, chúng tôi mong muốn góp tiếng nói đánh
thức mảng văn học dường như đang đi vào quên lãng.
1.3. Văn học với chức năng tái hiện hình tượng con người ở các
chiều kích đa dạng, phức tạp đã khó, xây dựng được một hình tượng loài
vật mà không sa vào mô phỏng, ngụ ngôn hóa còn là thách thức khó
nhọc hơn được đặt ra đối với mỗi nhà văn. Jack London với những con
sói lai của mình đã thể hiện sự am hiểu, óc quan sát tuyệt vời về thế giới
loài vật. Ngòi bút tài năng này một mặt mở ra những mảng kiến thức
rộng lớn về khoa học xã hội, triết học, sinh học, phân tâm học; mặt khác
lại đem đến cho độc giả những trăn trở, suy nghẫm khôn nguôi trước
hiện thực đời sống. Ngoài hai cuốn tiểu thuyết được đưa ra khảo sát
trong luận văn, loài vật còn là biểu tượng nghệ thuật trở đi trở lại trong
nhiều tác phẩm khác của Jack London như: Tình yêu cuộc sống, Bartard,
Huski, Gót sắt, Con trai của sói… Nó là kết quả của một cuộc đời nhiều
biến động, phiêu lưu, là những trải nghiệm sâu sắc và nghiệt ngã trên
những vùng đất ông đã đi qua.
7
1.4. Vì những con sói mang một ý nghĩa đặc biệt và xuất hiện xuyên
suốt trong nhiều sáng tác của nhà văn nên khi nghiên cứu đề tài, chúng
tôi hướng tới việc làm sáng tỏ một số vấn đề có tính khoa học như: loài
vật được Jack London lựa chọn, tái hiện như thế nào? Chiều sâu tư tưởng
cũng như các đặc trưng nghệ thuật ẩn chứa trong mỗi hình tượng nhân
vật. Nhiều năm qua, tác phẩm của Jack Lonndon đã được chọn giảng ở
một số trường phổ thông, cao đẳng và đại học. Nghiên cứu đề tài này sẽ
có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy đối với
tưởng và văn nghiệp. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cố gắng chắt lọc từ tiền đề
chung, tạo cơ sở để lí giải thế giới nghệ thuật của nhà văn.
Từ các nguồn tài liệu “chìa khóa” ấy, tác giả Lê Huy Bắc đã kế tục và
cho ra đời nhiều bài viết, công trình mang tính chuyên sâu và có hệ thống
về Jack London. Trong cuốn Văn học Mỹ, ngoài phần khái quát, giới thiệu
về một số các tác gia khác, Lê Huy Bắc đã dành hơn một trăm trang sách
viết về Jack London. Tác giả không chỉ cung cấp một cái nhìn toàn diện về
con người cuộc đời văn nghiệp mà còn đi sâu phân tích các vấn đề nổi cộm
trong thế giới nghệ thuật của Jack London như: nghệ thuật xây dựng xung
đột, dấu vết ngụ ngôn trong sáng tác của London. Ngoài ra tác giả cũng đã
phân tích bình luận khá trọn vẹn về tiểu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dã (The
call of the wild). Những kiến giải của Lê Huy Bắc quả thực đã gợi mở
nhiều vấn đề đối với những ai đang quan tâm tới J. London.
Liên quan đến đề tài, bài viết Nhân vật và người kể chuyện trong
“Tiếng gọi nơi hoang dã” của Đào Duy Hiệp đã hướng đến khía cạnh
trọng tâm mà chúng tôi đang nghiên cứu. Bài viết gọn, cô đọng, đi thẳng
vào vấn đề đã là phong cách đặc trưng của Đào Duy Hiệp. Trong phần đầu,
tác giả hình dung về cuộc phiêu lưu của Buck song đáng kể là ở phần sau
với “người kể chuyện và vấn đề điểm nhìn”, người viết xác định ngôi kể,
9
sự luân chuyển linh động điểm nhìn và tác dụng của nó đối với việc tái hiện
chiều sâu tâm lí nhân vật.
Ngoài những mảng trên, loài vật trong sáng tác của J. London còn được
đề cập đến ở các luận án, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp. Nổi bật nhất
là luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Kim Anh với đề tài Thiên nhiên đặc
trưng trong thi pháp tiểu thuyết của Jack London. Nhìn chung, ở bài viết này,
tác giả Kim Anh đã nhóm thiên nhiên vào ba điểm: Những con chó sói, con
người hoang dã và không gian hoang sơ. Công trình có sự đầu tư công phu và
London và các bài viết của một số nhà nghiên cứu khác. Trong đó liên quan
trực tiếp đến đề tài gồm các bài viết:
Jack London, bậc thầy truyện ngắn (Jack London master Crafisman of
the Short Story), tuy không bàn đến hai tiểu thuyết mà chúng tôi nghiên cứu
song tác giả King Hendricks đã đưa ra những đánh giá cụ thể về một số truyện
ngắn. Người viết nhấn mạnh vào yếu tố bản năng và tình yêu cuộc sống, sự
đối sánh tương đồng giữa vật – người trong các sáng tác của J. London.
Tác giả Earl Labor trong Biểu tượng hoang dã của Jack London:
Bốn cách diễn giải (Jack London Symbolic Wilderness: Four Versions)
đã đề cập đến tính chất hoang sơ của vùng Bắc Mỹ và vùng biển Nam
Thái Bình Dương. Labor cũng chỉ rõ mối quan hệ giữa hoàn cảnh với sự
thay đổi của con người.
Bàn đến chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác của J. London, Earl Wilcox
có bài Kipling của vùng Klondike: Chủ nghĩa tự nhiên trong những tác
phẩm hư cấu đầu tiên của Jack London (The “Kipling of the Klondike:
Naturalism in London’s Early Fiction). Đó là cuộc đấu tranh sinh tồn giữa
con người với con người, giữa con người với thiên nhiên. Ông cũng nhấn
mạnh tính ưu trội của người da trắng, những quy luật tự nhiên của cuộc sống.
Cuốn chuyên luận cũng đề cập đến nhiều vấn đề khác mà chúng tôi
quan tâm như: Việc dùng tâm lí vô thức của Carl Jung của Jack London
11
(Jack London’s Use of Carl Jung’s Psychology of the Unconscious) của J.
McClintock, Martin Eden của Jack London: sự phát triển của nhân vật
hiện sinh (Jack London’s Martin Eden: The Devlopment of the Existential
Hero) của J. Spinner là những gợi mở cho đề tài của chúng tôi.
Chuyên luận Hình thức và lịch sử chủ nghĩa tự nhiên trong văn học
Mỹ (Form and History in American literary Naturalism) của June
Howard. Trong chương ba Chủ nghĩa tự nhiên và loài vật, tác giả đã đề
Loài vật có một vai trò đặc biệt trong sáng tác của Jack London. Ngoài
việc chứng minh một thế giới nhân vật loài vật đa dạng, luận văn còn đi sâu
trình bày vị trí của hình tượng chó sói, dấu ấn ngụ ngôn cũng như cách tái
hiện nhân vật của tác giả. Từ đó chỉ ra những nét đặc sắc trong nghệ thuật
xây dựng nhân vật của Jack London.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
3.3.1. Phạm vi đề tài
Với đề tài: “Loài vật trong tiểu thuyết Nanh trắng và Tiếng gọi nơi
hoang dã của Jack London”, chúng tôi chủ yếu tập trung vào ba vấn đề
chính: các kiểu nhân vật loài vật, tính ngụ ngôn và nghệ thuật xây dựng
nhân vật.
3.3.2. Phạm vi tác phẩm
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ khảo sát kĩ trên hai cuốn tiểu
thuyết lớn viết về loài vật của Jack London: Tiếng gọi nơi hoang dã (Jack
London, “Tác phẩm chọn lọc” của Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2001)
và Nanh trắng (Nhà xuất bản Văn học, 2002).
Ngoài ra chúng tôi cũng tham khảo trên một số truyện ngắn và tiểu
thuyết khác của cùng tác giả để từ đó có sự nhìn nhận và đánh giá toàn
diện hơn về vai trò, ý nghĩa của hình tượng này trong quá trình sáng tác
của nhà văn.
13
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng và kết hợp cùng lúc
nhiều phương pháp nghiên cứu. Mỗi phương pháp đóng vai trò riêng và
được sử dụng đậm, nhạt khác nhau ở các phần trình bày của luận văn.
Trong đó có hai phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp thi pháp học.
- Phương pháp so sánh đối chiếu
nhiên. Trong đó có những truyện mà loài vật trở thành hình tượng trung
tâm xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Tuy nhiên không phải bất cứ loài vật nào
khi đi vào tác phẩm của Jack London đều trở thành hình tượng nghệ thuật.
Sự độc đáo của nhà văn thể hiện ở chỗ ông khái quát hiện thực đời sống
qua một hình tượng đậm đặc, những con chó sói.
Sói góp mặt trong nhiều thể loại của Jack London. Ở chúng là sự
phong phú về môi trường sống, đa dạng về tính cách, phức tạp trong đời
15
sống nội tâm; biểu hiện qua các tiểu thuyết như: Sói biển (The Sea – Wolf),
Gót sắt (Iron Heel), Ánh sáng ban ngày (Burning Daylight); trong các
truyện ngắn: Tình yêu cuộc sống (Love of life), Sói nâu (Brown Wolf), Sự
im lặng màu trắng (The White Silence), Nhóm lửa (To Build a Fire)… Từ
nhiều bối cảnh rộng, hẹp, đậm, nhạt được mở ra trong các các cuốn truyện,
J. London đã đem đến cho độc giả các quan niệm về hiện thực, con người,
các triết lí nhân sinh sâu sắc. Bên cạnh đó, ông cũng coi những tác phẩm
như Tiếng gọi nơi hoang dã có một giá trị lớn lao bằng với các tác phẩm
chính trị đem đến.
Qua khảo sát, chúng tôi xét thấy London chủ yếu tập trung vào hai
nhóm đối tượng: hình tượng chó sói và các loài vật hoang dã khác. Mỗi con
vật dù đứng với tư cách là hình tượng chính hay phụ; to lớn hay bé nhỏ;
xuất hiện dày đặc hay thoáng qua đều được nhà văn chăm chút tỉ mẩn với
những nét cá tính riêng.
Dĩ nhiên, chó sói không phải là hình tượng duy nhất được chọn trong
thế giới loài vật đa dạng sắc màu của nhà văn. Trong Tiếng gọi nơi hoang
dã, ta bắt gặp hình ảnh nhân hóa của những gã nai, nàng nai, bé nai… cho
tới họ hàng nhà dế, những chú gà gô, chim gõ kiến, bày sóc… đầy đủ
khuôn mặt của các loài sinh vật bò trườn. Hay với vài trang sách ngắn ngủi
trong Nanh trắng, thấp thoáng chỗ này là một con chồn thông đang đứng
chúng là những con chó không tên tuổi, lang thang trên những con tàu của
người da trắng vào Yukon. Chung quy lại, có thể lọc ra đây ba kiểu loại
chó thường gặp: những con chó nhà hiền lành với nhiệm vụ canh giữ nhà,
kéo xe; loài sói man rợ với cuộc chiến sinh tồn trên vùng đất phương Bắc
khắc nghiệt và kiểu hình tượng xuất sắc: lai giữa sói với chó nhà.
Để rõ hơn vấn đề này, chúng tôi đưa ra đây bảng thống kê sơ bộ về hai
cuốn tiểu thuyết của Jack London hòng chứng minh sự soán ngôi của loài chó
17
– sói. Đồng thời thấy được các kiểu loại nhân vật trung tâm, ý đồ sáng tạo của
tác giả. Tạo cơ sở cho việc nghiên cứu các phần tiếp theo của luận văn.
Loài vật xuất hiện trong Tiếng gọi nơi hoang dã
Hình tượng trung tâm – Loài chó/sói
Loài vật khác
Vật nuôi
Hoang dã
Bán hoang dã Vật nuôi
Toots
Husky
Buck
Thỏ Bắc Cực
Chim gõ kiến
Pike
Ngỗng trời
Hoang dã
Dub
Dolly
Teek
Koona
Skeet
Nig
Loài vật xuất hiện trong Nanh trắng
Hình tượng trung tâm – Loài chó/sói
Loài vật khác
Vật nuôi
Hoang dã
Bán hoang dã
Vật nuôi
Hoang dã
Muỗi
Lip-lip
Nhím
Baseek
Gà rừng
Setter dog
Linh miêu
Mastiff dog
Chồn thông
Cherokee
Sóc
Collie
Chũi
Dick
Chuột rừng
rộng: từ con vật to lớn đến con vật bé nhỏ, từ hung dữ đến hiền lành. Có
thể kể tên ra đây một số loài như cá, bạch tuộc, bướm, chim, mèo, châu
chấu, cào cào, kì nhông, bò tót, ngựa, voi trắng, sư tử, trâu rừng, linh
dương, linh cẩu, kền kền, gà rừng, dê, thỏ, chó,… Trong mỗi loài lại được
phân nhỏ hơn, cá lại có: cá kiếm, cá mập, cá hồi,… Loài chim lại có: mòng
biển, chim sẻ, chim bạch yến, ngỗng, chim bồ câu, chim gáy… Liệt kê một
cách chi tiết về Hemingway để khẳng định rằng trong sáng tác của ông
chúng ta hiếm gặp hình tượng chó sói, đặc biệt sự đề xuất kiểu con lai (sói
nhà lai chó sói). Chỉ đến J. London, chó sói mới trở thành một thực thế
sống động. Thậm chí, chó – sói là nhân vật chính cho cả cuốn tiểu thuyết
dài mấy trăm trang và con người lại giữ vai trò mờ nhạt, làm phông nền
cho số phận của chó sói. Trong khí đó những nhà nghiên cứu lưu tâm tới
hình tượng loài vật ở Hemingway vẫn chủ yếu xem xét chúng trên phương
diện làm nổi bật phẩm chất vẻ đẹp của con người. Đó là điểm khác biệt lớn
giữa hai tác giả và cũng là minh chứng cho sự độc đáo trong việc lựa chọn
và tái hiện hình tượng chó – sói trong sáng tạo văn học của J. London.
Sự phân bố hình tượng có phần chênh lệch cũng cho thấy nhà văn đã
ngầm đề xuất và lí giải một cách thuyết phục ý tưởng xây dựng hành trình
xuôi/ngược của “văn minh- phi văn minh”. Sự phong phú của loài vật
hoang dã cũng như bán hoang dã là sức hút đối với Buck thì ở Nanh trắng
những con vật nuôi đã được thuần hóa lại đưa nó đến gần hơn với thế giới
20
con người. Cần phải nói thêm rằng: Sự khảo sát trên của chúng tôi chỉ
mang tính tương đối. Bởi trong Tiếng gọi nơi hoang dã, Spitz có thể được
xếp vào vật nuôi đã được thuần hóa hoặc hoang dã. Song chúng tôi xét thấy
chúng mang những đặc điểm giống Buck. Nghĩa là chúng cũng bị đưa từ
văn minh vào cuộc hành trình của phương Bắc, hoặc có thể từ hoang dã
được con người thuần hóa thành những con chó biết lao động, phục vụ lại
quát hành trình đối nghịch của loài vật trong sáng tác của ông. Bên cạnh đó
việc xem xét nhân vật từ góc chiếu kiểu loại cũng cho phép luận văn mở ra
tầng sâu triết lí của cây bút vốn có nhiều đóng góp với nền văn học hiện
thực nước Mỹ nói riêng và nền văn học nghệ thuật nhân loại nói chung.
1.1.2. Hành trình theo bản năng
Nanh trắng và Tiếng gọi nơi hoang dã của Jack London không chỉ là
những cuốn tiểu thuyết lớn có loài vật là hình tượng trung tâm. Đây còn là
hai tác phẩm mang nhiều điểm tương đồng: về hình tượng, xây dựng cốt
truyện, bối cảnh… Sự trùng hợp này ngoài ý thức đem đến cho văn học
nghê thuật một kiểu hình tượng xuyên suốt, ấn tượng, đa chiều; Jack
London còn muốn phát biểu điều gì? Chỉ khi Nanh trắng ra đời, độc giả
mới có thêm một cơ hội nhìn lại và hiểu rõ hơn về cuốn tiểu thuyết đã
thành công trước đó - Tiếng gọi nơi hoang dã.
Jack London đã hồ hởi chia sẻ với George P. Brett, biên tập viên của
mình về ý đồ xây dựng một cuộc hành trình mới: “Tôi dự định đảo ngược
lại quá trình. Thay cho sự thoái hóa văn minh ngược của một con chó, tôi
sẽ mô tả sự tiến hóa. Sự văn minh của con chó – sự phát triển của việc
thuần hóa, lòng trung thành, tình yêu, đạo nghĩa và tất cả những vẻ đẹp
trang nhã cũng như những đức tính tốt đẹp” [6,13]. Bên cạnh đó, cách lựa
chọn bối cảnh thể hiện qua việc tổ chức bố cục đã khiến ngay cả những độc
giả hờ hững nhất cũng nhận ra có một sự sắp đặt nào đó. Nanh trắng có 25
chương thì có tới 21 chương miêu tả phương Bắc. Tiếng gọi nơi hoang dã
có 7 chương, chỉ 1 chương nói về phương Nam. Như vậy cả Buck và Nanh
22
trắng đều được đặt trong không gian hoang sơ, lạnh lẽo, đói khát, hiểm
nguy. Một con sói đi từ phương Nam ấm áp tới, một con sói khác sinh ra đã
biết săn mồi và chiến đấu. Ở chúng đều đòi hỏi yếu tố thích nghi mang tính
bản năng. Vậy điều gì khu biệt chúng? Đó chính là các chiều hướng con
đi” [34,392]. Sự phát triển ở Buck hoàn toàn phù hợp với quy luật tiến hóa.
Quy trình tự nhiên sẽ đào thải những yếu tố tiêu cực và giữ lại các đặc
tính trội. Điều đó đã đúng với trường hợp của Nanh trắng. Buck là khía
cạnh phức tạp, bí ẩn trong đời sống văn chương của Jack London. Độc giả
khi đọc Tiếng gọi nơi hoang dã hẳn đã có thể hình dung được toàn bộ tác
phẩm là hai “lát cắt” của một cuộc đời. Từ đầu cho tới mối xung đột với
người Yeehat thực chất là một quá trình chuẩn bị về chất và lượng. Ông
ảnh hưởng sâu sắc học thuyết tiến hóa của Darwin và tư duy triết học biện
chứng. Theo đó, quá trình tiến hóa của loài người, thực tế là hành trình
nhận thức, cải tạo và chiếm lĩnh sự sống. Ở khía cạnh khác, Jack London
đã trình bày một cách thuyết phục sự đa dạng của các đặc tính trong tương
tác với môi trường. Và chỉ ra rằng không phải bất cứ sự thích nghi nào
cũng đem tới một kết quả tích cực.
Những mầm mống “thoái trào” luôn tiềm ẩn, nảy sinh và có nguy cơ
phát lộ ở bất cứ môi trường hay thời điểm sống nào của con người. Quá
trình chuyển biến từ một con chó nền nã, lịch thiệp, tự tin thành một con
sói ma mãnh, nguy hiểm và đầy sợ hãi với Buck quả rất nhọc nhằn. Bởi bản
thân nó đã được thụ hưởng “nền giáo dục văn minh” đã lâu.
Từ một con chó luôn: “tạo được thói quen tin tưởng vào những người
nó quen biết” [34,350], một phẩm chất đáng quý mà mà sau này độc giả có
cơ may gặp lại ở Nanh trắng, J. London đã tước bỏ chất văn minh đầu tiên
mà cũng quan trọng nhất của một con chó nhà. Đặt nền tảng để Buck tiến
sâu trong môi trường hoang dã bằng mối hoài nghi bất tận, luôn: “canh
cánh nỗi lo sợ cho tương lai”. Kể từ lúc đó, Buck không có lấy một phút
thảnh thơi an nhàn: “Tất cả đều là rối loạn và chiến đấu” [35,360].
24
J. London đã đưa ra các giả thuyết về sự tác động của ngoại cảnh lên
quá trình tiến hóa, cũng như những nguyên nhân đẩy Buck đến con đường
nhiều môi trường sống đã chi phối sâu sắc tới sự phát triển tính cách và số
phận của mỗi nhân vật. Ở mỗi con sói sự biến đổi về nhận thức đã dẫn đến
các diễn biến phức tạp về thể chất, tinh thần và ngược lại.
Khả năng thích nghi với môi trường sống ở các sinh vật dù xuất sắc tới
đâu, tự thân chúng vẫn không thể đóng vai trò quyết định tới việc biến đổi
từ vật hoang dã thành vật nuôi. Hành trình ấy chỉ diễn ra toàn vẹn khi có sự
xuất hiện của bàn tay con người. Ở Nanh trắng kẻ gây ra vết thương lớn,
ám ảnh cho chú sói con này phải kể đến “Smith đẹp trai”. Y được nhà văn
miêu tả như một “quái vật” xấu xí và ác độc. Mỗi nhân vật con người là
một chặng tiếp sức đẩy bản tính hoang dã của các con sói lên cao độ. Buck
“trở lại với chính nó về bản chất” [34,382] là bởi con người ta đã tìm thấy
thứ kim loại màu vàng trên vùng đất phương Bắc, hay bởi sự ngụy biện vì
đồng lương ít ỏi của gã phu vườn Manuel? Mà cũng có thể con người (dù
có khi họ rất yêu quý) vẫn chỉ coi Buck là một con vật lao động. Tất cả
những nguyên nhân ấy đều là một phần trong hành trình của Buck kể từ khi
nó khuất phục trận đòn dùi cui của người mặc áo nịt đỏ kia. Từ giai đoạn
tiền hoang dã đến lúc Buck bất chấp trận đòn của Hal là một quá trình tước bỏ
hoàn toàn niềm tin vào con người – yếu tố quyết định đến việc thuần chủng
các loài vật nuôi. Qua đây, J. London đã nói lên rằng: Văn minh không phải là
một quá trình được hoàn tất và cố định như con người vẫn hằng mơ tưởng.
Nhà văn khẳng định về Buck: “Sự phát triển của nó (hay có thể nói là
sự “thoái trào” của nó) diễn biến thật nhanh chóng” [34,379–380]. Và sự
thật Buck đã hóa sói trước khi gặp người Yeehats. Đây chỉ là nốt chuyển
giao cuối cùng. Buck trở về với tổ tiên nó trong hành trình lao khổ trên vệt
đường mòn bằng những biểu hiện cụ thể ở sự phát triển của thị lực và tài
đánh hơi. Buck chẳng phải nhọc công gắng sức để học bởi khi cọ xát với
hoàn cảnh đặc biệt của phương Bắc “những bản năng tắt lịm từ lâu đời nay