Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại hải phòng - Pdf 10

Nhu cầu việc làm của người dân ở một số
vùng đô thị hóa tại Hải Phòng Đào Thị Tư Duyên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Tâm lý học; Mã số: 60 31 80
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Hữu Thụ
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nhu cầu và nhu cầu việc làm. Khái quát sơ
bộ về địa bàn nghiên cứu. Nghiên cứu thực trạng nhu cầu việc làm của người dân ở
một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện qua nhận thức, đối tượng hướng tới
và hành động cụ thể để thỏa mãn nhu cầu việc làm của bản thân và gia đình. Đánh
giá mức độ nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa trên địa bàn
tỉnh. Đưa ra một số kiến nghị về tâm lý – xã hội giúp chính quyền địa phương tạo ra
việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm của người dân.

Keywords. Tâm lý học công nghiệp; Tâm lý học việc làm; Đô thị hóa; Hải Phòng

Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
- Việc làm gắn liền với sự tồn tại, phát triển và hạnh phúc gia đình của người dân ở
vùng đô thị hóa.
- Việc chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ khiến không ít người
dân ở vùng đô thị hóa rơi vào cảnh thiếu hoặc chưa có việc làm đồng thời làm nảy sinh nhiều
tệ nạn xã hội.

hiện qua: Nhận thức, đối tượng hướng tới và hành động cụ thể để có việc làm nhằm thỏa mãn
nhu cầu việc làm.
5. Khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu là 162 người dân, trong đó 55 người dân ở huyện An Lão, 53
người dân ở huyện Tiên Lãng, 54 người dân ở huyện Vĩnh Bảo và 7 cán bộ địa phương.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ nghiên cứu nhu cầu việc làm của người dân ở một
số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện ở nhận thức, đối tượng hướng tới và hành động cụ
thể để có việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm. Đồng thời nghiên cứu một số yếu tố ảnh
hưởng tới nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng.
6.2. Phạm vi địa bàn: Đề tài chỉ nghiên cứu ở 3 huyện: Huyện An Lão, huyện Tiên
Lãng, huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng.
6.3. Phạm vi khách thể: Đề tài chỉ nghiên cứu những người dân đang ở trong độ tuổi
lao động (từ 18 đến 45 tuổi).
7. Giả thuyết nghiên cứu
Phần lớn người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng có nhu cầu việc làm ở
mức độ trung bình, một số người nhu cầu việc làm đạt mức độ cao nhưng hầu hết trong số họ
nhu cầu việc làm chưa được thỏa mãn thực sự. Nhu cầu này phụ thuộc rất nhiều yếu tố, bao
gồm cả chủ quan (nhận thức, động cơ, hứng thú, tâm thế sẵn sàng…) và khách quan (điều
kiện thỏa mãn, mức độ quan tâm của chính quyền địa phương, chế độ đãi ngộ…), trong đó
yếu tố chủ quan giữ vai trò chủ đạo.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu.
8.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài để tìm hiểu sâu hơn những khái
niệm công cụ nhằm hoàn thiện cơ sở lý luận của đề tài.
8.2. Phương pháp chuyên gia
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để nâng cao sự hiểu biết về lĩnh vực mà mình
nghiên cứu cũng như cách thức tiến hành nghiên cứu.
8.3. Phương pháp quan sát
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để thu thập những thông tin mà phiếu bảng

nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục. Việc thoả mãn nhu cầu tình dục sẽ giải phóng
năng lượng tự nhiên và như thế tự do cá nhân thực sự được tôn trọng, kìm hãm nhu cầu này
sẽ dẫn đến hành vi mất định hướng của con người. “Khát dục” trong Phân tâm học không có
ý nói đến việc thỏa mãn những khát khao thông thường mà là sự đòi hỏi thỏa mãn những khát
khao mãnh liệt. Những mong muốn này được thỏa mãn sẽ đem lại cho con người những
khoái cảm đặc biệt và sẽ tạo ra một trạng thái tâm lý sung sướng, khoan khoái, dễ chịu. Khi
một khát vọng nào đó chưa được thỏa mãn thì sự căng thẳng về mặt tâm lý lên đến tột đỉnh”.
Erich Fromm nhà Phân tâm học mới quan niệm: “Nhu cầu tạo ra cái tự nhiên của con
người, đó là những nhu cầu:
1. Nhu cầu quan hệ người - người.
2. Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người
3. Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo.
4. Nhu cầu về sự bền vững và hài hòa.
5. Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu.
A. Maslow (1908 - 1970) được xem là người sáng lập và dẫn đầu trào lưu chủ nghĩa
nhân văn trong tâm lý học Mỹ. Theo Maslow, con người có 5 nhu cầu gốc (những nhu cầu
khác đều phát sinh từ những nhu cầu này) được sắp xếp thành bậc thang theo thứ bậc từ thấp
lên cao, chúng hoạt hóa và điều khiển hành vi con người. Bậc thang đó bao gồm:
1. Physiological: Nhu cầu sinh học như: Ăn, uống, nghỉ ngơi…
2. Safety/security: Nhu cầu an toàn
3. Belonginess and Love: Nhu cầu được chấp nhận và yêu thương
4. Esteem: nhu cầu được tôn trọng
5. Actualization: Nhu cầu tự thể hiện
Theo ông muốn phát triển nhu cầu ở bậc cao hơn thì ít nhất nhu cầu ở bậc thấp hơn
(liền kề) phải được thỏa mãn đến mức độ nhất định.Việc thỏa mãn nhu cầu ở bậc thang thấp
hơn sẽ kích thích người ta nghĩ tới việc phải thỏa mãn nhu cầu ở bậc cao hơn. Vì vậy, về
nguyên tắc ở cùng một thời điểm chỉ có một nhu cầu chiếm vị trí nổi trội trong nhân cách của
mỗi người.
Herry Murray khẳng định: “Nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy
hành vi. Nhu cầu ở mỗi người khác nhau về cường độ, mức độ, đồng thời các loại nhu cầu

thông tin về khả năng thoả mãn sẽ nảy sinh những rung cảm âm tính làm tăng năng lượng
nhu cầu. Tuy nhiên, kết quả hành vi lại không thuận lợi, kết quả dương tính sẽ làm giảm tổng
thể các hành động thoả mãn nhu cầu. Theo ông, đặc điểm nhu cầu phụ thuộc vào việc được
trang bị thông tin, công cụ và cách thức nhằm thoả mãn nhu cầu.
A.N.Leonchiep cho rằng: Nhu cầu với tính chất là sức mạnh nội tại thì chỉ có thể được
thực thi trong hoạt động. Ông phê phán việc tách nhu cầu ra khỏi hoạt động vì như vậy sẽ coi
nhu cầu là điểm xuất phát của hoạt động theo sơ đồ: Nhu cầu - hoạt động - nhu cầu. Mối liên
hệ giữa hoạt động với nhu cầu được ông mô tả bằng sơ đồ: Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động.
Khi xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu với động cơ, ông cho rằng: “Khi đối tượng của
nhu cầu xuất hiện, được nhận biết (được cảm nhận, được hình dung hoặc được tư duy) thì có
được chức năng thúc đẩy, hướng dẫn hoạt động tức là trở thành động cơ. Hay nội dung đối
tượng của nhu cầu chính là động cơ của hoạt động. Một hoạt động diễn ra bao giờ cũng
hướng vào việc đạt mục đích, đạt kết quả ở một mức độ nhất định. Động cơ của hoạt động
chính là cái nhu cầu đã được đối tượng hóa và được hình dung trước dưới dạng các biểu
tượng của kết quả hoạt động”.
Như vậy, có rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về nhu cầu và họ đều đưa ra
những quan điểm và dẫn chứng chứng minh cho tính đúng đắn của nó dựa trên cách tiếp cận
của riêng mình. Tuy nhiên, quan điểm về nhu cầu của các nhà Tâm lý học Xô Viết dường
như được nhiều nhà khoa học đồng thuận hơn cả. Ở Việt Nam hiện nay, khi nghiên cứu về
nhu cầu cũng lấy quan điểm của các nhà Tâm lý học Xô Viết làm nền tảng.
Trong nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học Mỹ về nhu cầu việc làm công nghệ
thông tin chỉ ra rằng: Nhu cầu về các nhà chuyên nghiệp công nghệ thông tin (CNTT) đang
dâng lên nhanh hơn mong đợi. Bùng nổ của công nghệ thông tin trong kinh doanh toàn cầu
nơi "dây chuyền giá trị" được kết nối từ khách hàng tới nhà chế tạo và nhà cung cấp và gần
đây với thị trường ứng dụng di động đã làm tăng thêm nhiều nhu cầu đối với việc thiếu hụt
công nhân.
1.2. Nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu việc làm của các nhà tâm lý học trong
nƣớc.
Đề cập đến quan niệm của các nhà Tâm lý học Việt Nam về nhu cầu, chúng ta có thể
tìm thấy qua một số tập sách như: Tâm lý học Liên Xô - Tuyển những bài báo, Nxb Tiến Bộ

Luận án tiến sĩ của tác giả Lã Thị Thu Thủy, cán bộ Viện Tâm lý học được thực hiện
năm 2006 với đề tài: “Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của tri thức trẻ”. Tác giả Hà Thị Hòa
Bình, năm 2001 đã làm đề tài luận văn tiến sĩ tâm lý học mang tên “Nhu cầu thông tin của
khách thể tuyên truyền”.
Năm 2003, Hoàng Thị Thu Hòa với luận án tiến sĩ mang tên “Nhu cầu học tập của
sinh viên sư phạm”.
Nhu cầu việc làm là nhu cầu được làm việc, được hoạt động, nó là nhu cầu cấp cao,
được con người sáng tạo ra và có sự tham gia mạnh mẽ của ý thức, nó khác với nhu cầu sinh
học. Hoạt động là yếu tố hiện thực hóa nhu cầu, là bằng chứng thể hiện và khẳng định giá trị
tồn tại của con người, không ai sống mà không hoạt động, không làm việc. Bởi thế nhu cầu
việc làm có ở bất kỳ cá nhân nào trong xã hội và mức độ thiết thân, thường trực của nó ở mỗi
cá nhân khác nhau là khác nhau.
1.3. Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.3.1. Khái niệm nhu cầu
1.3.2. Khái niệm việc làm
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm: “Việc làm là những hoạt động lao
động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”.
1.3.3. Khái niệm nhu cầu việc làm
1.3.3.1. Khái niệm
Nhu cầu việc làm là những mong muốn, đòi hỏi của con người về việc làm cần phải
được thỏa mãn để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của bản thân và gia đình. Nhu cầu việc
làm mang tính xã hội cao, được con người ý thức rõ ràng và thể hiện giá trị xã hội của cá
nhân.
1.2.3.2. Bản chất của nhu cầu việc làm
1.3.4. Khái niệm nhu cầu việc làm của ngƣời dân ở vùng đô thị hóa
1.3.4.1. Khái niệm đô thị hóa
1.3.4.2. Khái niệm người dân ở vùng đô thị hóa
1.3.4.3. Khái niệm nhu cầu việc làm của người dân ở vùng đô thị hóa
Nhu cầu việc làm của người dân ở vùng đô thị hóa là những mong muốn, đòi hỏi có
việc làm ổn định để tồn tại và phát triển của người dân vốn ở những vùng nông thôn nay

quan và khoa học nhằm chỉ ra thực trạng nhu cầu việc làm, các yếu tố ảnh hưởng và một số
biện pháp tâm lý nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại
Hải Phòng.
- Kế hoạch thực hiện:
Từ tháng 1/2011 đến tháng 4/2011 đọc tài liệu, hoàn thành cơ sở lý luận của đề tài.
Từ tháng 5/2011 đến tháng 7/2011 xây dựng bộ công cụ điều tra thực tế.
Từ tháng 8/2011 đi cơ sở điều tra thực tế
Tháng 9/2011 xử lý kết quả điều tra
Tháng 10/2011 đến 2/2012 viết kết quả nghiên cứu
Từ tháng 3 đến tháng 11/2012 bảo vệ đề tài nghiên cứu
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Mục đích: Thu thập dữ liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
- Cách thức tiến hành: Chọn lọc những tài liệu liên quan đến đề tài (công trình nghiên
cứu khoa học của các nhà Tâm lý học trong và ngoài nước), luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ,
các bài báo, tạp chí, các trang web liên quan đến đề tài nghiên cứu. Đọc, phân tích, khái
quát, tổng hợp các tài liệu đã chọn lọc và đưa ra kết luận.
2.3.2. Phương pháp chuyên gia
- Mục đích: Tham khảo ý kiến của người có chuyên môn, kiến thức về lĩnh vực mà
mình nghiên cứu để đưa ra hướng nghiên cứu đúng đắn.
- Cách tiến hành: Lựa chọn chuyên gia chuyên sâu về lĩnh vực mà mình nghiên cứu,
đề nghị được trợ giúp, được tham khảo ý kiến của họ về những kiến thức và kỹ năng cần thiết
để thực hiện đề tài một cách có hiệu quả.
2.3.3. Phương pháp quan sát
- Mục đích: Nhằm thu thập thêm thông tin mà phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và
phương pháp phỏng vấn sâu chưa làm được.
- Cách thức tiến hành: Quan sát không tham dự, quan sát ở nhà văn hóa xã, nhà văn
hóa thôn trong buổi họp tổ dân phố, họp thôn. Chủ yếu quan sát thái độ của người dân trong
buổi họp, nội dung trao đổi của buổi họp.
2.3.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

: Ảnh hưởng: 2 điểm
: Không ảnh hưởng: 1 điểm
Với cách cho điểm như trên thì điểm thấp nhất là 1 và cao nhất là 2, ĐTB của ba mức
độ là 0.7. Do đó, chúng tôi có thang đánh giá nhu cầu việc làm như sau:
Từ 1.0 đến dưới 1.7 điểm ứng với mức độ thấp
Từ 1.7 đến dưới 2.4 ứng với mức độ trung bình
Từ 2.4 đên 3.0 ứng vơi mức độ cao.
2.3.5. Phương pháp phỏng vấn sâu
* Mục đích:
+ Lý giải những nguyên nhân bản chất của nhu cầu việc làm của người dân ở vùng đô
thị hóa tại Hải Phòng.
+ Khẳng định các kết quả nghiên cứu của phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
+ Khai thác sâu hơn nội dung cần nghiên cứu ở khách thể.
* Nội dung phỏng vấn sâu:
- Phiếu phỏng vấn sâu gồm 3 phiếu
+ Phiếu phỏng vấn sâu 1: Dành cho chính quyền địa phương
+ Phiếu phỏng vấn sâu 2: Dành cho người dân chưa có việc làm
+ Phiếu phỏng vấn sâu số 3: Dành cho người dân đã có việc làm (Xem phụ lục 2, 3,
4).
* Cách thực hiện
Phỏng vấn sâu 43 người, trong đó:
+ 12 người dân ở huyện An Lão, Hải Phòng
+ 12 người dân ở huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng
+ 12 người dân ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng
+ 3 cán bộ huyện An Lão, Hải Phòng
+ 2 cán bộ huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng
+ 2 cán bộ huyện Tiên Lãng, Hải Phòng
* Nguyên tắc phỏng vấn:
- Tạo không khí thân mật giữa người nghiên cứu và khách thể phỏng vấn
+ Đề cập đến vấn đề cần phỏng vấn một cách khéo léo, dễ hiểu.

hiện qua nhận thức về ý nghĩa của việc làm đối với người dân trong vùng.
Vị trí thứ nhất là “giúp cá nhân nuôi sống bản thân và gia đình”, đạt ĐTB là 2.87 với
87.6% khách thể “rất đồng tình”.
Đứng ở vị trí thứ hai là ý nghĩa “làm cho cuộc sống gia đình ổn định, hạnh phúc” với
ĐTB là 2.77, đây cũng là điểm số thể hiện sự đồng tình ở mức độ cao.
“Làm cho con người vui vẻ, năng động và sáng tạo” là ý nghĩa thứ ba của việc làm
với 76.6% “rất đồng tình”, 22.2% “đồng tình” và 1.2% khách thể “không đồng tình”. Ý nghĩa
này đạt ĐTB là 2.76 - tương ứng với sự nhận thức ở mức độ cao.
Như vậy, những khách thể mà chúng tôi nghiên cứu nhận thức về ý nghĩa của việc
làm ở mức độ cao. Khi so sánh mối tương quan giữa các nội dung phản ánh ý nghĩa của việc
làm với những người có việc làm và chưa có việc làm chúng tôi không thấy có sự khác biệt
đáng kể. Tuy nhiên, những ý nghĩa liên quan đến sự sống của từng cá nhân và gia đình nhận
được nhiều ý kiến “rất đồng tình” và “đồng tình” hơn những ý nghĩa khác.
3.1.1.2. Nhận thức của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng về giá trị
của việc làm đối với bản thân và gia đình
Giá trị của việc làm đối với bản thân và gia đình trong nhận thức của người dân vùng
đô thị hóa ở mức độ cao với ĐTB là 2.81. Điều này cho thấy những giá trị trên hết sức gần
gũi và gắn bó mật thiết với đời sống của họ.
Vị trí thứ nhất thuộc về giá trị “giúp cá nhân tồn tại và phát triển trong xã hội” nhận
được 100% số người được hỏi “rất đồng tình” và “đồng tình”, đạt ĐTB là 2.91 - số điểm thể
hiện nhận thức ở mức độ cao.
Thứ hai là vị trí của giá trị “mang lại niềm vui, tiếng cười trong gia đình” với ĐTB là
2.87, số điểm này phản ánh sự nhận thức của những người được hỏi ở mức độ cao, tương ứng
với mức độ “rất đồng tình” và “đồng tình” của 100% khách thể nghiên cứu.
“Giáo dục ý thức trách nhiệm” là giá trị đứng ở vị trí thứ ba trong nhận thức của
người dân vùng đô thị hóa về giá trị của việc làm khi nhận được 99.4% khách thể “rất đồng
tình” và “đồng tình”, tỷ lệ này tạo nên ĐTB là 2.82 - số điểm phản ánh nhận thức đạt mức độ
cao.
Vị trí thứ tư thuộc về giá trị “giúp cá nhân có kiến thức, kỹ năng chuyên môn của một
lĩnh vực cụ thể” với ĐTB là 2.77, ứng với các tỷ lệ lựa chọn cụ thể như sau: 98.1% khách thể

*. Nhận thức của người dân về những khó khăn trong quá trình tìm kiếm việc làm để
thỏa mãn nhu cầu việc làm của bản thân và gia đình.
Khó khăn lớn nhất mà người dân vùng đô thị hóa gặp phải khi tìm kiếm việc làm và
cơ hội việc làm là “lương thấp” với ĐTB là 2.42 số điểm thể hiện khó khăn ở mức độ cao.
Khó khăn thứ hai mà người dân vùng đô thị hóa gặp phải là “phải làm việc xa nhà”
với ĐTB là 2.12 - số điểm tương ứng với khó khăn ở mức độ trung bình.
“Không có đầu ra cho sản phẩm” là khó khăn thứ ba mà người dân vùng đô thị hóa đã
và đang gặp phải với ĐTB là 2.0, số điểm ứng với mức độ trung bình. Để làm nên số điểm
như trên thì mức độ “rất đồng tình” và “đồng tình” được 59.2% khách thể lựa chọn.
Kết quả so sánh tương quan giữa những người có việc làm và những người chưa có
việc làm với những nội dung phản ánh khó khăn mà người dân ở một số vùng đô thị hóa tại
Hải Phòng gặp phải khi tìm kiếm việc làm để thỏa mãn nhu cầu việc làm có sự chênh lệch
đáng kể. Trong khi điểm TBC của những người có việc làm ở các nội dung trên đạt 1.73 điểm
thì điểm TBC của những người chưa có việc làm là 2.09. Sự chênh lệch này phần nào chứng
tỏ: Trong quá trình tìm kiếm việc làm để thỏa mãn nhu cầu việc làm của mình, những người
chưa có việc làm gặp khó khăn nhiều hơn những người hiện đã có việc làm.
Nói về khả năng vượt qua những khó khăn trên thì: Trong tổng số 162 khách thể
nghiên cứu chỉ có 43 khách thể “đã vượt qua khó khăn”, 31 khách thể “sắp vượt qua khó
khăn” và còn tới 88 khách thể “chưa vượt qua khó khăn”. Đồng thời những người chưa có
việc làm chủ yếu chưa vượt qua khó khăn khi điểm TBC dành cho khả năng vượt qua khó
khăn là 2.82, trong khi đó điểm TBC dành cho khả năng vượt qua khó khăn của những người
đã có việc làm là 2.19.
3.1.2. Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa biểu hiện qua việc
làm mà họ hướng tới (đối tượng cụ thể).
Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy: Trong số 162 khách thể nghiên cứu thì 139
người (chiếm 85.8%) đã có việc làm nhưng vẫn còn tới 23 người (chiếm 14.2%) chưa tìm
được việc làm. Điều đáng lưu ý là phần lớn việc làm hiện tại của người dân vùng đô thị hóa
không trùng hợp với việc làm mong muốn của họ.
Việc làm được nhiều người dân mong muốn nhất là “làm việc ở doanh nghiệp” với
ĐTB là 2.66, số điểm tương ứng với mức độ “cao”.

nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm của các khách thể nghiên cứu chúng tôi nhận thấy: Dù cùng
thực hiện các hành động trên ở mức độ trung bình nhưng số điểm mà các nhóm khách thể đạt
được lại có sự chênh lệch đáng kể. Trong khi những người đã có việc làm đạt điểm TBC là
2.10 thì những người chưa có việc làm đạt điểm TBC là 1.78. Sự chênh lệch này chứng tỏ
những người có việc làm đã thực hiện những hành động trên thường xuyên hơn những người
chưa có việc làm.
3.2. Đánh giá mức độ nhu cầu việc làm của ngƣời dân ở một số vùng đô thị hóa
tại Hải Phòng.
Phần lớn người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng có nhu cầu việc làm ở
mức độ trung bình, một số người nhu cầu việc làm đạt mức độ cao nhưng hầu hết trong số họ
nhu cầu việc làm chưa được thỏa mãn thực sự.
3.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến nhu cầu việc làm của ngƣời dân ở một số vùng
đô thị hóa tại Hải Phòng
Yếu tố gây ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình tìm kiếm việc làm để thỏa mãn nhu cầu
việc làm của các khách thể nghiên cứu là “sự năng động, sáng tạo của mỗi cá nhân” với ĐTB
là 2.19 - tương ứng với sự ảnh hưởng ở mức độ trung bình.
Nội dung có ĐTB đứng thứ hai (2.01) tương ứng với mức độ “trung bình” là “kiến
thức, kỹ năng chuyên môn”.
Nội dung thứ ba ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của người dân vùng đô thị hóa là
“vốn đầu tư” với 45.1% cho là “rất ảnh hưởng”, 45.1% cho là “ảnh hưởng” và 9.9% khách
thể cho là “không ảnh hưởng”. Tỷ lệ này khiến nội dung trên đạt ĐTB là 1.96 tương ứng với
mức độ “ảnh hưởng”.
Nội dung có ĐTB đạt 1.93 tương ứng với mức độ “trung bình” và đứng ở vị trí số 4 là
“thông tin chi tiết về việc làm”.
Vị trí thứ 5 thuộc về nội dung “địa điểm làm việc” với 93.8%% số người lựa chọn
mức độ “rất ảnh hưởng” và “ảnh hưởng”, tỷ lệ này khiến nội dung trên đạt ĐTB là 1.86 - số
điểm tương ứng với mức độ “trung bình”.
3.4. Một số kết quả nghiên cứu chân dung tâm lý về nhu cầu việc làm của ngƣời
dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng
3.5. Một số giải pháp tâm lý - xã hội giúp ngƣời dân ở một số vùng đô thị hóa tại

nhu cầu việc làm của bản thân và gia đình. Do đó nhu cầu việc làm của họ chưa được hiện
thực hóa và chưa được thỏa mãn.
+ Quá trình tìm kiếm việc làm để thỏa mãn nhu cầu việc làm của người dân ở một số
vùng đô thị hóa tại Hải Phòng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố chủ
quan và khách quan nhưng yếu tố chủ quan giữ vai trò chủ đạo. Một trong những yếu tố đó là
sự năng động, sáng tạo của bản thân, tiếp đến là kiến thức, kỹ năng chuyên môn của từng cá
nhân.
2. Kiến nghị
2.1. Đối với nhà nước
Trước khi tiến hành đô thị hóa, nhà nước nên có chính sách rõ ràng về đào tạo việc
làm để người dân trong vùng có cơ hội được thỏa mãn nhu cầu việc làm, đồng thời phải giám
sát việc thi công các dự án lớn, nhỏ để tạo niềm tin cho dân.
2.2. Đối với chính quyền địa phương
- Chính quyền địa phương nên mở rộng công tác tuyên truyền trên tất cả các phương
tiện truyền thông đại chúng hiện có ở địa phương để người dân có cơ hội tiếp cận và nắm bắt
thông tin việc làm phong phú và chuẩn xác hơn. Nhờ đó mà họ có nhiều cơ hội việc làm,
nhanh chóng rút ngắn thời gian tìm việc làm cho bản thân và những người xung quanh.
- Chính quyền địa phương tạo sự kết nối giữa các doanh nghiệp với người dân trong
vùng để các doanh nghiệp ưu tiên tuyển dụng người dân và thu mua sản phẩm mà người dân
sản xuất để họ có việc làm ổn định.
- Chính quyền địa phương có chính sách hỗ trợ vốn để người dân phát triển kinh tế,
mở làng nghề và tạo cơ hội thuận lợi để phát triển các nghề truyền thống của địa phương.
- Chính quyền địa phương nên mời cán bộ có chuyên môn về tập huấn, đào tạo việc
làm cho người dân trong vùng, đưa các thiết bị mới vào hoạt động sản xuất và tạo điều kiện
tối đa để người dân thử nghiệm các mô hình sản xuất mới.
- Chính quyền địa phương nên tổ chức các lớp dạy nghề cho người dân trong vùng
trước khi tiến hành thu hồi diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
2.3. Đối với người dân
- Người dân phải tự tìm hiểu thêm thông tin việc làm từ những nguồn khác nhau, có
thể là nhờ sự trợ giúp của nguời thân, bạn bè, các phương tiện truyền thông đại chúng, thậm

14. Nguyễn Thị Tuyết Mai, luận án tiến sĩ tâm lý học: “Nhu cầu bồi dưỡng về nghiệp vụ quản
lý của cán bộ xã”, 2008.
15. Nguyễn Hà Thành, luận văn thạc sĩ tâm lý học “Nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh sản
của học sinh trung học phổ thông”, trường Đại hoc Khoa học Xã hội và Nhân Văn, 2007.
16. Nguyễn Hữu Thụ, Tâm lý học quản trị kinh doanh, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2007.
17. Lã Thị Thu Thủy, luận án tiến sĩ tâm lý học: “Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của tri thức
trẻ”, 2006.
18. Nguyễn Khắc Viện, Tâm lý học, Nxb văn hóa thông tin, 2001.
19. Nguyễn Đình Xuân “Tâm lí học Quản trị kinh doanh”, 2001.
20.http://4rumtuyensinh.duytan.edu.vn/sites/index.aspx?p=forum_thread&forum=346&thred


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status