Luận văn: Khảo sát vấn đề việc làm của người dân ở khu vực 9, Phường Đống Đa, Thành phố Quy Nhơn - Pdf 14

GVHD: ThS. Phan Thị Kim Dung
SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
4
Luận văn

Khảo sát vấn đề việc làm của người dân ở khu vực 9,
Phường Đống Đa, Thành phố Quy Nhơn

GVHD: ThS. Phan Thị Kim Dung
SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
5

PHẦN DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Việc làm và giải quyết việc làm là một vấn đề kinh tế xã hội mang tính
toàn cầu, là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Ngày nay quan niệm
về phát triển được hiểu đầy đủ là tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công
bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo, giảm tỉ lệ thất nghiệp trong đó thất nghiệp và
thiếu việc làm là bước cản lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy tạo
việc làm cho người lao động đang là vấn đề hết sức nóng bỏng và cấp thiết.
Không chỉ là tạo điều kiện, cơ hội việc làm cho người lao động, phát huy hết
tiềm lực của đất nước mà còn góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo có

Đống Đa đang là khu vực nằm trong quá trình đô thị hóa, sự chuyển đổi đất
nông nghiệp sang đất đô thị diễn ra mạnh và đã tác động không nhỏ đến tình
hình đời sống người dân. Thường thì khi nói đến đô thị người ta thường nghĩ
ngay đến mặt lợi nhiều hơn là mặt hại, trước tiên các đô thị sẽ cung cấp nhiều cơ
hội việc làm, lương bổng, dịch vụ xã hội, năng suất lao động cao hơn; nó góp
phần chuyển hướng phát triển kinh tế và là động lực dịch chuyển cơ cấu kinh tế
ở cả khu vực đô thị và nông thôn. Nhưng bên cạnh đó mặt trái của quá trình đô
thị hóa cũng được bộc lộ rất rõ, một trong số đó là quá trình chuyển đổi đất nông
nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới người nông dân mất đất. Người dân ở khu vực 9,
phường Đống Đa vốn gắn bó đời đời với diêm nghiệp (nghề muối) và các hoạt
động nuôi trồng thủy sản nay đã bị mất đất sản xuất mà công tác đào tạo nghề,
hỗ trợ tạo công ăn việc làm cho người dân sau khi quy hoạch đất đai chưa được
thực hiện hiệu quả, đồng nghĩa với việc một số lượng lớn người lao động rơi vào
tình trạng thất nghiệp kéo theo nó là một loạt các hệ quả khác nữa.
Thành phố Quy Nhơn đang ngày càng phát triển, nhưng vấn đề việc làm
của phần lớn người dân chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa vẫn chưa được
giải quyết, trong đó tình hình thất nghiệp, thiếu việc làm ổn định của người dân
ở khu vực 9, phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn đã và đang là vấn đề trăn
trở của các cấp chính quyền và nhân dân. Từ những lý do trên tôi chọn đề tài
“Khảo sát vấn đề việc làm của người dân ở khu vực 9, Phường Đống Đa,
Thành phố Quy Nhơn” để tiến hành nghiên cứu khoa học nhằm có sự đánh giá
GVHD: ThS. Phan Thị Kim Dung
SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
7

đúng đắn về thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết vấn đề việc
làm cho người dân ở khu vực này.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Việc làm cho người lao động là một vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau. Đã có nhiều đề tài

thành phố.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát thực trạng việc làm của người dân ở khu vực 9, phường Đống
Đa, thành phố Quy Nhơn.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
 Khảo sát việc làm của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho
quá trình đô thị hóa để thấy được các loại hình công việc, tính chất công việc
cũng như những khó khăn trong công việc mà người dân gặp phải.
 Đánh giá về nhu cầu việc làm của người dân của người dân bị thu hồi đất.
 Chỉ ra những cơ hội, tiềm năng của cộng đồng khu vực 9 trong việc giải
quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất.
 Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết vấn đề việc làm cho người dân
bị thu hồi đất nông nghiệp hiện nay.
4. Khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề việc làm của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho
quá trình đô thị hóa của thành phố Quy Nhơn.
4.2 Khách thể nghiên cứu
Người dân ở khu vực 9, phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
 Với yêu cầu của một đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên, chúng tôi chỉ
tập trung vào việc làm rõ thực trạng việc làm của người lao động ở khu vực bị
tác động của quá trình đô thị hóa hiện nay.
 Phạm vi khảo sát được tiến hành trên địa bàn khu vực 9, phường Đống
Đa, thành phố Quy Nhơn.
 Thời gian thực hiện đề tài được hành từ tháng 11/2010 đến tháng 4/2011.
GVHD: ThS. Phan Thị Kim Dung
SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
9

SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
10

có việc làm ổn định, hay làm những công việc không phù hợp, chỉ mang tính
tạm thời, bấp bênh và thu nhập thấp.
 Người dân khu vực bị ảnh hưởng bởi quy hoạch dân cư có nhu cầu rất lớn
về việc làm ổn định, phù hợp để sớm ổn định cuộc sống, trong đó nhu cầu về
việc đào tạo nghề và hỗ trợ cho vay vốn là quan trọng.
 Người dân khu vực 9 đang gặp khó khăn trong việc giải quyết vấn đề việc
làm của mình vì trình độ văn hóa thấp.
 Cộng đồng khu vực 9 có nhiều tiềm năng để có thể giải quyết vấn đề việc
làm cho người dân như: mở các lớp vừa đào tạo nghề vừa xản xuất các mặt hàng
thủ công nghiệp thu hút được sự tham gia rất lớn của người dân, với việc xây
dựng khu đô thị mới trong khu vực này với các ngành nghề dịch vụ và công
nghiệp phát triển thì việc đào tạo tay nghề cho lớp trẻ sẽ đáp ứng được nhu cầu
về nguồn lao động rất lớn trong tương lai rất gần.
 Để giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng bởi quy
hoạch cần có những giải pháp mang tính khả thi, sự tham gia, phối hợp đồng bộ
giữa các cấp ngành trong tỉnh, các tổ chức nhận trách nhiệm xây dựng các công
trình đầu tư trên địa bàn khu vực và bản thân cộng đồng.
8. Cấu trúc đề tài
Đề tài được cấu trúc thành ba phần: phần dẫn nhập, phần nội dung và
phần kết luận. Trong đó phần nội dung bao gồm 3 chương:
 Chương 1: Cơ sở lý luận
 Chương 2: Thực trạng việc làm của người dân khu vực 9, phường Đống
Đa, thành phố Quy Nhơn.
 Chương 3: Một số giải pháp giải quyết vấn đề việc làm cho người dân khu
vực 9, phường Đống Đa, Thành phố Quy Nhơn.
nhập phù hợp sẽ dẫn đến vấn đề thất nghiệp và kéo theo đó là vô vàn những
hệ lụy khôn lường như: gia tăng tệ nạn xã hội, làm mất lòng tin của nhân dân
vào chính quyền địa phương, giáo dục sút kém, trẻ em lao động sớm, ảnh
hưởng tiêu cực đến mục tiêu phát triển của đô thị

GVHD: ThS. Phan Thị Kim Dung
SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
12

1.2 Một số khái niệm
1.2.1 Việc làm
1.2.1.1 Khái niệm
Theo điều 13 của Bộ luật lao động của nước ta có đưa ra khái niệm: Mọi
hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là
việc làm.
Trong việc làm có 2 khái niệm:
Việc làm đầy đủ: Là hiện tượng người lao động có việc làm và được làm
việc liên tục.
Việc làm hợp lý: Là sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các
yếu tố con người và vật chất của sản xuất, là bước phát triển cao hơn của việc
làm đầy đủ. [1;67 ]
Theo ngành xã hội nhân chủng học: Việc làm không chỉ bao hàm cái gì
được làm, được làm như thế nào và ai làm, mà nó còn hàm ý việc làm đó được
đánh giá như thế nào và ai đánh giá. Vì thế, việc làm bao hàm ý nghĩa vật chất,
xã hội, văn hóa và tâm lý cá nhân:
 Việc làm bao hàm chất lượng của mối quan hệ xã hội giữa người này và
người kia hoặc nhóm người này với nhóm người kia về quyền kiểm soát, phân
phối sản phẩm và tài nguyên. Mối quan hệ này thể hiện ở việc giới hạn việc tiếp
cận tài nguyên và lợi nhuận (vốn, kỹ thuật, thông tin…) của người lao động;
việc đánh giá thấp những giá trị, những tài nguyên và lợi nhuận mà người lao

người quản lý, nhân viên xã hội, nghệ sỹ, nhà truyền giáo,…
Phần thưởng kinh tế và tinh thần: tiền lương và tiền thường là mặt kinh tế
của việc làm; vị thế xã hội, danh dự cá nhân, quyền hành (quyền trong gia
đình và uy tín trong cộng đồng) là phần thường về mặt xã hội và tâm lý.
Động cơ phần thường của việc làm rất khác nhau đối với nam nữ và đối với
các bối cảnh làm việc khác nhau (đi làm để kiếm tiền, đi làm để có thêm bạn
hoặc thêm kiến thưc,…)
Tài nguyên: việc làm là sự thực hiện một nhiệm vụ cần thiết nào đó, cần sử
dụng một số tài nguyên như vốn, nguyên liệu, tay nghề, thời gian và một số
quyền hạn xã hội cho phép để phục vụ đời sống. mỗi tài nguyên được đánh
GVHD: ThS. Phan Thị Kim Dung
SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
14

giá căn cứ vào giá trị kinh tế, giá trị xã hội và giá trị của chính cá nhân
người đánh giá.
Giá trị: giá trị của việc làm thay đổi tùy theo hoàn cảnh lịch sử, xã hội và cá
nhân. Việc đánh giá một việc làm có hiệu quả, có năng xuất, có giá trị tùy
thuộc rất nhiều vào quan điểm của người đánh giá. Sự đánh giá này mang
tính tương đối. đánh giá một việc làm thường không dựa theo tiến trình mà
thường vào dựa vào giá trị cụ thể trước mắt của sản phẩm làm ra, vì vậy
những sản phẩm của người mẹ, nhân viên xã hội, nhân viên văn phòng, nhà
chính trị thường không được nhìn thấy, không được đánh giá đúng mức. ví
dụ: nhiều đánh giá dựa trên vẻ đẹp, năng xuất cao của sản phẩm hơn là căn
cứ vào năng lượng và thời gian tiêu phí. Mỗi việc làm có đặc điểm văn hóa
riêng không thể bị xem xét cùng với một tiêu chí đánh giá. Ví dụ: hôn nhân
và quản lý không thể được đánh giá bằng một thang đo lường như nhau.
Thời gian: giá trị của việc làm thay đổi tùy vào việc đó làm khi nào? Ví dụ:
sản phẩm làm ngoài giờ có giá trị gấp đôi sản phẩm trong giờ. Vài công việc
được làm một cách dễ dàng hơn nhờ có kinh nghiệm (tích lũy theo thời gian)

Tâm lý đồng hóa hoặc xã lạ với việc làm: cá nhân hoạc một nhóm người
thường đồng hóa mình với vai trò của công việc hoặc một mặt của công việc
nào đó. Sự đồng hóa này có liên quan mật thiết đến sự đầu tư cá nhân trong
tiến trình hoạt động xã hội. nếu đồng hóa toàn tâm với một công việc nào đó
quá sẽ sao lãng các vai trò khác và bị căng thẳng, dẫn đến “bệnh nghiện làm
việc”. ngược lại với bệnh “nghiện làm việc” là tâm lý xa lạ với việc đang
làm. Mức độ xa lạ cao nhất khi người công nhân bị đối xử như là một cái
máy và có ít quyền hạn nhất đối với sản phẩm do họ làm ra. Sản phẩm phản
chiều cái tôi của người lao động, vì thế giá trị của người lao động cũng nhân
lên từ giá trih sản phẩm.
Sự phân chia lao động theo giới tính: trong nền kinh tế chính trị có giai cấp,
sự phân chia lao động ám chỉ sự chuyên môn hóa của một tiến trình mang
tính kỹ thuật và kinh tế, một số nhà xã hội hóa hiện đại đã mở rộng khái
niệm này bao gồ cả sự phân chia lao động theo giới tính. Đó là sự phân công
những hoạt động, những vai trò trong xã hội cho nam và nữ. sự phân chia
lao động theo giới tính trong việc làm một phần là do sự khác nhau về cơ
GVHD: ThS. Phan Thị Kim Dung
SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
16

hội học hành của nam và nữ. nhìn chung phụ nữ ít khi leo lên được các cấp
học cao. Ví dụ: khoảng 2/5 sinh viên nữ tốt nghiệp cử nhân nhưng chỉ có ¼
nữ tốt nghiệp trên đại học. thật vậy, phụ nữ thường được đào tạo ít hơn nam
giới. một chi tiếc mà mọi người đều biết đến để minh họa cho sự không cân
đối về giới trong lĩnh vực giáo dục là phụ nữ có khuynh hướng học một số
ngành xã hội và thường tránh các ngành khoa học kỹ thuật. sự lựa chọn
ngành học đã ảnh hưởng đến cơ hội hành nghề cho phụ nữ. sự bất lợi trong
nghề nghiệp của phụ nữ có liên quan chặt chẽ đến vai trò của phụ nữ trong
gia đình. Khi gánh nặng lao động trong nhà rơi lên vai phụ nữ thì họ sẽ bị
giới hạn trong việc lựa chọn nghề nghiệp.

nước và các nguồn khác, phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm.
 Chính phủ phải có các chính sách và biện pháp tổ chức dạy nghề, đào
tạo lại, hướng dẫn sản xuất kinh doanh, cho vay vốn với lãi suất thấp từ quỹ
quốc gia giải quyết việc làm, tạo điều kiện để người lao động tìm việc làm
hoặc tự tạo việc làm; hỗ trợ về tài chính cho những địa phương và ngành có
nhiều người thiếu việc làm hoặc mất việc làm do thay đổi cơ cấu hoặc công
nghệ.
 Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính,
cho vay vốn hoặc giảm, miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích
khác để người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức,
đơn vị và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới
nhằm tạo việc làm cho nhiều người lao động.
 Các chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụng lao
động là người dân tộc thiểu số.
 `Giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm
cho mọi người có khả năng lao động, có cơ hội được làm việc với chất lượng
việc làm ngày càng cao.[2;67]
1.2.2 Thất nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau về thất nghiệp:
GVHD: ThS. Phan Thị Kim Dung
SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
18

 Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: thất nghiệp là tình trạng tồn tại
khi một số người trong độ tuổi lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm
được việc làm ở mức lương thịnh hành.
 Theo Paul-A-Samuelson: Thất nghiệp bao gồm những người không có

 Lực lượng lao động (hay dân số hoạt động kinh tế): bao gồm những người
đang làm việc và những người thất nghiệp.
Lịch sử của tình trạng thất nghiệp chính là lịch sử của công cuộc công
nghiệp hóa. Ở nông thôn, mặc dù có tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp một
phần, làm việc ít thời gian ở nông thôn, nhưng tình trạng thất nghiệp này không
bị coi là vấn đề nghiêm trọng.
1.2.2.2 Phân loại thất nghiệp
Có nhiều cách để phân loại tình trạng thất nghiệp, sau đây là một cách phân loại
theo tính chất thất nghiệp:
 Thất nghiệp tự nhỉên: Là loại xẩy ra do quy luật cung cầu của thị trường
sức lao động tác động. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên có quan hệ chặt chẽ với tỉ lệ
lạm phát. Do nhiều lý do khác nhau, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên ở mỗi nước khác
nhau và có xu hướng tăng lên.
 Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu về các
loại lao động. Cầu của loaị lao động này tăng lên cầu của loại lao động khác
giảm xuống, cung điều chỉnh không kịp cầu. Trong quá trình vận động của nền
kinh tế thị trường, sẽ có nhiều ngành kinh tế phát triển thu hút nhiều lao động,
nhưng có nhiều ngành bị thu hẹp lại làm dư thừa lao động. Loại thất nghiệp này
thấy rõ nhất ở hai ngành nông nghiệp và công nghiệp. Do ứng dụng những tiến
bộ của khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp làm dư thừa lao động nông
nghiệp. Trong khi đó nhu cầu lao động trong công nghiệp tăng lên do thu hút
được vốn đầu tư nước ngoài.
 Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do sự di chuyển lao động giữa các vùng,
các miền, thuyên chuyển công tác giũa các giai đoạn khác nhau trong quá trình
sản xuất. trong thời gian di chuyển người lao động không có việc làm.
 Thất nghiệp tự nguyện: Là thực trạng người lao động không muốn làm
việc do nhiều lý do khác nhau.
GVHD: ThS. Phan Thị Kim Dung
SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
20

SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
21


Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng
liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh,
trong thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện.

Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỉ lệ lao động phi
nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các
hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế
quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất là 4000
người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km².[4;67 ]
1.2.3.2 Các khái niệm liên quan về đô thị
 Đô thị hóa theo chiều rộng: Đây là khái niệm nói đến sự đô thị hóa của
các khu vực, các thành phố… sự đô thị hóa chủ yếu là sự phát triển mạnh mẽ về
số lượng, các thị trấn trở thành các đô thị mới,… hoặc các thành phố lớn trở
thành các siêu đô thị. Sự đô thị hóa này chủ yếu nhằm thay đổi sự cũ kỹ lạc hâu,
trong đồi sông xã hội. Chủ yếu ở các nược thuộc thế giới thứ ba như ở châu Á,
khu vực nam Mỹ… Sự đô thị hóa này thường tăng nhanh và gia tăng các đô thị
nhưng đem đên nhiều mặt tiêu cực của xã hội đô thị (tệ nạn xã hội, gia tăng giàu
- nghèo, …
 Đô thị hóa theo chiều sâu: Khái niệm nói lên sự đô thị hóa trong nhiều
mặt quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt các linh vực dịch vụ, giáo dục,
văn hóa… Sự đô thị hóa đặc biệt về chât lượng sống của con người đô thị. Đây
là sự đô thị hóa về việc năng cao nhận thức, kiến thức của con người được văn
minh hơn, được tiếp cận với những dịch vụ cao cấp, đời sống được văn minh
hiện đại hơn. Con người đô thị đó được sống trong cuộc sống tốt hơn, hiện đại
và phát triển hơn. Chủ yếu đô thị hóa theo chiều sâu chủ yếu ở các nước châu

phố là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.
1.2.4 Đô thị hóa
1.2.4.1 Khái niệm
 Đô thị hóa là quá trình thay đổi hình thức cư trú của con người, nhằm làm
thay đổi chất lượng cuộc sống và bộ mặt của nông thôn.
GVHD: ThS. Phan Thị Kim Dung
SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
23

 Hai thành tố trong quá trình đô thị hóa:
 Đô thị hoá là sự tăng lên của cư dân đô thị. Sự tăng lên này theo ba
dòng chính: sự tăng dân số tự nhiên của cư dân đô thị, dòng di dân từ nông thôn
ra thành thị và điều chỉnh về biên giới lãnh thổ hành chính của đô thị. Ba dòng
này có vai trò và vị trí khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
 Đô thị hoá mở rộng không gian đô thị, không gian kiến trúc. Mở rộng
không gian đô thị là một tất yếu đối với các đô thị trên thế giới trong quá trình
đô thị hoá. Đó cũng có thể là đô thị sát nhập vào đô thị hoặc đô thị hoá mở rộng
đô thị ra ngoại thành hoặc lân cận. Mở rộng không gian đô thị cũng mang tính
lịch sử, tuỳ từng quan niệm của mỗi quốc gia.[5;67]
1.2.4.2 Các khái niệm liên quan về đô thị hóa
 Đô thị hóa theo chiều rộng: Đây là khái niệm nói đến sự đô thị hóa chủ
yếu là sự phát triển mạnh mẽ về số lượng. Các thị trấn trở thành các đô thị
mới,… hoặc các thành phố lớn trở thành các siêu đô thị. Sự đô thị hóa này chủ
yếu nhằm thay đổi sự cũ kĩ lạc hậu, trong đời sống xã hội. Sự đô thị hóa này
thường tăng nhanh và gia tăng các đô thị nhưng lại đem đến nhiều mặt tiêu cực
của xã hội đô thị (tệ nạn xã hội, gia tăng tỉ lệ giàu - nghèo …). [3;67 ]
 Đô thị hóa theo chiều sâu: Khái niệm nói lên sự đô thị hóa trong nhiều
mặt quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt các lĩnh vực dịch vụ, giáo dục,
văn hóa… Sự đô thị hóa đặc biệt về chất lượng sống của con người đô thị. Đây
là sự đô thị hóa về việc nâng cao nhận thức, kiến thức của con người được văn

đô thị là tự bắt buộc. Đặc điểm đô thị hoá cưỡng bức là không gian kiến trúc
không được mở rộng theo quy hoạch mà mang tính tự phát cao. Các nhu cầu
của dân nhập cư không được đáp ứng, đô thị trở nên quá tải, những tiêu cực do
đô thị hoá cưỡng bức mang lại ngày một nặng nề. Khả năng khắc phục là chưa
thể.[5;67]
 Đô thị hoá ngược: Là khái niệm dùng để chỉ sự di dân từ đô thị lớn sang
đô thị nhỏ, hoặc từ đô thị trở về nông thôn.
Thông thường ở giai đoạn đầu công nghiệp hoá, kinh tế - xã hội đang phát
triển, đô thị luôn luôn là nơi tạo ra nhiều việc làm và các dịch vụ tốt hơn thu
hút hướng di dân từ nông thôn trở về thành thị. Sự bổ sung một lực lượng lao
động trẻ, nam nhiều hơn nữ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị. Quá
GVHD: ThS. Phan Thị Kim Dung
SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
25

trình đô thị hoá kết thúc, tức là giai đoạn ổn định của đô thị, đô thị trở nên đất
chật, người đông, vấn đề chất lượng sống phụ thuộc nhiều vào môi trường sống
cả tự nhiên và xã hội, so với nông thôn lại có những hạn chế nhất định. Một
mặt do sự phát triển kinh tế - xã hội và các dịch vụ ở nông thôn cũng phát
triển, đến lượt nó lại thu hút luồng di cư trở lại. Mặt khác, nông thôn lại chứa
đựng sự phong phú của văn hoá dân tộc, văn hoá cội nguồn, sự yên tĩnh và đặc
biệt môi trường trong sạch. Thực tiễn cho thấy có sự di cư từ đô thị ra bên
ngoài, đặc biệt là vùng nông thôn hoặc các đô thị nhỏ. [5;67]
1.2.5 Phát triển cộng đồng
1.2.5.1 Khái niệm
 Cộng đồng: là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người
sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh
học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hay tinh thần nào đấy.
 Phát triển cộng đồng: là những tiến trình, qua đó nỗ lực của dân chúng
kết hợp vói nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội,

thành công lớn.
6. Vận động thành lập nhóm nhỏ để thực hiện dự án, không chỉ để giải
quyết một vấn đề cụ thể, mà còn để củng cố, làm vững mạnh tổ chức tự nguyện
của người dân.
7. Cung cấp nhiều cơ hội để người dân tương trợ lẫn nhau và phát sinh
các hoạt động chung, qua đó các thành viên vừa đạt được cảm xúc tự hoàn thành
nhiệm vụ, vừa góp phần cải thiện an sinh cho nhóm.
8. Quy trình “Hành động – Suy ngẫm, rút kinh nghiệm – Hành động
mới” cần áp dụng để tiến đến những chương trình hành động chung lớn hơn,
trình độ quản lý cao hơn.
9. Nếu điều hành có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn theo nhóm là dịp để
tổ chức nhóm trưởng thành.
10. Thiết lập mối liên kết với các tổ chức khác để họ có thêm hỗ trợ và
hợp tác với nhau. GVHD: ThS. Phan Thị Kim Dung
SVTH: Phạm Hồng Hiệp Trang
27

1.2.5.3 Nội dung trong phát triển cộng đồng
 Quản lý tài nguyên cộng đồng: Gồm quản lý môi trường cộng đồng, xử lý
các thảm họa thiên tai, phát triển các cơ sở kinh doanh sản xuất.
 Giáo dục cộng đồng: Giúp trang bị kiến thức, sự hiểu biết và kỹ năng làm
việc, lao động cho người dân, gồm các bước sau:
 Thức tỉnh chính quyền địa phương và cộng đồng về tình trạng hiện tại của
cộng đồng.
 Hình thành giá trị cộng đồng, giúp thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi
mang tính tiêu cực; đề cao các giá trị tích cực, khơi dậy truyền thống tương thân,
tương ái của cộng đồng.

năng và thuận lợi. Từ đó làm cho cộng đồng hiểu và tích cực hợp tác để dần thay
đổi vấn đề của chính mình.
Bước 2: Cộng đồng tăng năng lực
 Biết rõ vấn đề của mình, mình có gì, mình muốn gì thì cộng đồng đó phải
tăng năng lực phát huy các nguồn tài nguyên mà cộng đồng vốn có hay qua quá
trình tập luyện. Thông qua đó cộng đồng khắc phục được những hạn chế và tăng
cường kiến thức, kỹ năng để hành động. Ngoài ra còn phải liên kết các tổ chức lại
để cùng hành động hiệu quả vì mục tiêu chung.
Bước 3: Cộng đồng tự lực
 Mục đích cuối cùng của phát triển cộng đồng là thông qua các tác động từ
bên ngoài, với nội lực bên trong được phát huy và tăng cường cộng đồng sẽ trở
thành cộng đồng tự lực. Cộng đồng tự lực không có nghĩa là mọi khó khăn, khủng
hoảng không còn nữa mà mỗi lần gặp khó khăn cộng đồng có thể tự huy động tài
nguyên bên trong và bên ngoài để giải quyết vấn đề. Qua mỗi lần như vậy cộng
đồng sẽ tăng trưởng và tự lực hơn.
 Tiến trình phát triển cộng đồng là một tiến trình luôn luôn tiếp diễn vì trong
quá trình tồn tại và phát triển của cộng đồng sẽ vấp phải nhiều khó khăn, trở ngại
không ngừng. Trong thực tiễn, tiến trình này không phải lúc nào cũng cứng nhắc
khi áp dụng, mà điều quan trọng là tác viên phát triển cộng đồng phải thực sự vì lợi
ích của cộng đồng, vì sự phát triển và linh hoạt, nhưng cũng phải đảm bảo được các
nguyên tắc cơ bản, các bước đi cơ bản của tiến trình đó.

Trích đoạn Những khó khăn trong vấn đề việc làm Nguyên nhân của vấn đề việc làm * Nguyên nhân chủ quan Nhu cầu đào tạo nghề của người dân khu vực 9, phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn Tiềm năng của cộng đồng trong việc giải quyết việc làm cho người dân khu vực 9, phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn Một số giải pháp giải quyết việc làm nghề cho người dân khu vực 9, phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status