Các vấn đề của triết học
Triết học đưa ra các câu hỏi về bản thể, nhận thức, chân lý, đạo đức, thẩm mỹ. Các
vấn đề cơ bản của triết học là:
• Vấn đề về bản thể: vật chất và ý thức là gì? Mối quan hệ giữa chúng như
thế nào?
• Vấn đề về chân lý: làm thế nào để xác định được một luận cứ đi từ tiền đề
đến kết luận có hiệu lực hay không? Làm thế nào để biết được một phát
biểu là đúng hay sai? Ta có thể trả lời những loại câu hỏi nào?
• Vấn đề về nhận thức: quá trình nhận thức diễn ra thế nào? Chúng ta có thể
nhận thức chính xác thế giới khách quan hay không?
Thực tại là gì? Chúng
ta nhận thức thực tại như thế nào, có nhận thức toàn bộ thực tại hay không?
• Vấn đề về đạo đức: thế nào là "tốt", thế nào là "xấu" (hoặc thế nào là "giá
trị", thế nào là "phi giá trị")? Sự khác biệt giữa tốt và xấu? Hành động như
thế nào là đúng? Các giá trị có tính chất tuyệt đối hay tương đối? Thế nào là
các
quy tắc tự nhiên? Hạnh phúc là gì?
• Vấn đề về thẩm mỹ: đẹp là gì, xấu là gì? Nghệ thuật là gì? Socrates
Thời kỳ triết học Hy lạp cổ đại, năm vấn đề cơ bản trên tương ứng với năm nhánh
của triết học là
siêu hình học, lôgic, nhận thức luận, luân lý học, và mỹ học. Tuy
nhiên đối tượng của triết học còn mở rộng đến
chính trị học, vật lý học, địa chất
học, sinh học, khí tượng học, và thiên văn học. Bắt đầu từ Socrates, các nhà triết
học Hy Lạp đã phát triển
triết học phân tích, tức là, phân chia vật thể thành các
thành phần nhỏ hơn để nghiên cứu. Triết học cổ Hy Lạp thường được coi là cơ sở
của
René Descartes
"Chủ nghĩa duy lý" nhấn mạnh vai trò của lý trí con người. Chủ nghĩa duy lý cực
đoan tìm mọi cách để gán tất cả kiến thức con người lên nền tảng độc nhất là lý trí.
Kiểu lý luận điển hình của chủ nghĩa duy lý bắt đầu bằng những tiên đề không thể
chối cãi rành rọt được, để từ đó, bằng các bước logic, diễn dịch ra mọi đối tượng
kiến thức có thể có.
Parmenides (sinh năm 510 TCN) được cho là nhà triết học duy lý đầu tiên, người
đã tranh luận rằng việc suy nghĩ thực sự có xảy ra là không thể hồ nghi, mà việc
suy nghĩ phải có đối tượng suy nghĩ, do đó, một sự vật phải thật sự tồn tại.
Parmenides diễn dịch rằng những gì thật sự tồn tại phải có những tính chất nhất
định– thí dụ như, nó không thể bắt đầu tồn tại hoặc chấm dứt tồn tại, nó là một
chỉnh thể trọn vẹn, nó giữ nguyên bản chất vĩnh viễn (đúng hơn là tồn tại hoàn
toàn bên ngoài thời gian).
Zeno (sinh năm 489 TCN) là học trò của Parmenides, đã
tranh luận rằng sự vận động là bất khả thi, và chứa đựng sự mâu thuẫn.
Plato (427-347) cũng bị ảnh hưởng bởi Parmenides, nhưng ông đã kết hợp
chủ
nghĩa duy lý với một dạng của chủ nghĩa hiện thực. Triết gia này đã cất công xem
xét sự tồn tại và bản chất của sự vật. Ông kết luận đặc tính của những bản chất sự
vật là chúng mang tính chung trên toàn cầu. Bản chất của một con người, của một
hình tam giác, của một cái cây có thể áp dụng cho tất cả con người, tất cả hình tam
giác và tất cả các loại cây. Plato tranh luận rằng những bản chất này là những hình
thái không phụ thuộc vào trí não, rằng con người có thể biết đến chúng bằng lý trí
và bằng cách làm ngơ trước những thứ làm phân tâm do giác quan gây ra.
Chủ nghĩa duy lý hiện đại bắt đầu với
Réne Descartes(1596-1690). Nghiền ngẫm
về bản chất của trải nghiệm tri giác, cũng như những khám phá khoa học trong
sinh lý học và quang học, Descartes (và cả
Human Understanding vào năm 1689, phát triển một dạng tự nhiên chủ nghĩa và
kinh nghiệm chủ nghĩa trên cơ sở các nguyên tắc gần như khoa học.
Trong suốt kỷ nguyên này, những ý tưởng tôn giáo đóng vai trò hỗn hợp trong
những nỗ lực của triết học thế tục. Bài phản bác nổi tiếng của giám mục Berkeley
bài xích
Isaac Newton theo cách của chủ nghĩa lý tưởng là một thí dụ về một triết
gia trong
trào lưu Khai Sáng, (một giai đoạn trong lịch sử). Họ đúc kết khá nhiều
từ những ý tưởng tôn giáo. Các triết gia tôn giáo có sức ảnh hưởng khác gồm có
Blaise Pascal, Joseph Butler và Jonathan Edwards. Những triết gia lớn khác như
Jean-Jacques Rousseau và Edmund Burke, đã chọn con đường hơi khác. Việc
nhiều triết gia thời bấy giờ chỉ tập trung quan tâm những vấn đề được giới hạn đã
dự báo cho sự phân chia ra và chuyên môn hoá nhiều lĩnh vực triết học trong thế
kỷ 20.
Chủ nghĩa hoài nghi
Bài chi tiết: Chủ nghĩa hoài nghi
Chủ nghĩa hoài nghi là một quan điểm triết học nghi vấn khả năng đạt được "bất
kì" một loại kiến thức nào. Nó được phổ biến bởi
Pyrrho, người tin rằng tất cả mọi
thứ đều có thể bị nghi ngờ ngoại trừ "vẻ bề ngoài".
Sextus Empirius (thế kỉ 1)
miêu tả chủ nghĩa hoài nghi như là một "khả năng đưa ra một phản đề, trong bất kì
cách thức nào, về vẻ ngoài và các đánh giá, và do đó để đến một trạng thái
không còn đánh giá thứ gì nữa và sau đó là sự bình an của tinh thần"
[1]
. Chủ nghĩa
hoài nghi hiểu theo cách như vậy không chỉ đơn thuần là việc sử dụng sự hoài
nghi, mà là việc sử dụng tính hoài nghi cho một mục đích đặc biệt: một sự bình an
của tâm hồn, hay là ataraxia. Chủ nghĩa hoài nghi là một thách thức cho chủ nghĩa
giáo điều, hay là cho những người nghĩ rằng họ đã tìm ra sự thật
Nhiều triết gia đã nghi vấn các lập luận hoài nghi như vậy. Câu hỏi liệu là chúng ta
có thể đạt được kiến thức, tức là "kiến thức của thế giới bên ngoài", là dựa trên
dựa trên một tiêu chuẩn cao thế nào mà chúng ta muốn đánh giá. Nếu chúng ta đặt
ra một tiêu chuẩn cao, thì chỉ những điều không còn nghi ngờ gì được và những
điều không sai lầm mới đưa lại kiến thức. Nếu chúng ta đặt tiêu chuẩn quá thấp,
thì chúng ta chấp nhận những điều điên rồ và những ảo tưởng trở thành những
"kiến thức" của chúng ta. Tuy nhiên, ngay cả khi những vấn đề này đã được giải
quyết, trong mọi trường hợp, chúng ta phải hợp thức hóa các tiêu chuẩn cho việc
hợp thức hóa, dẫn đến việc thoái lui vô hạn (được biết đến như là "chủ nghĩa hoài
nghi thoái lui")
[4]
.
Chủ nghĩa lý tưởng
Bài chi tiết: Chủ nghĩa lý tưởngImmanuel Kant
"Chủ nghĩa lý tưởng" là một học thuyết cho rằng hiện thực là hoàn toàn giới hạn
bởi đầu óc của chúng ta. Mặc dù nó phụ thuộc vào quan điểm của
Réne Descartes
rằng những gì có trong đầu chúng ta được biết trước những điều được biết thông
qua các giác quan, chủ nghĩa lý tưởng bắt đầu chính thức bởi
George Berkeley.
Berkeley lý luận
[5]
rằng không có những khác biệt về bản chất giữa các trạng thái
tinh thần, như là cảm thấy đau đớn, và những gợi ý từ các giác quan. Không có
một thứ gì có thể phân biệt được, ví dụ, giữa độ nóng của một đống lửa, và nỗi đau
nó tạo ra cho chúng ta. "Trạng thái" chúng ta cảm nhận chứa trong đó tính chất
"được cảm nhận" của nó (esse của nó là percipi), và ý kiến "phổ biến một cách lạ
Hiện tượng Tinh thần). Trong tác phẩm này,
Hegel khẳng định rằng mục đích của triết học là chỉ ra những mâu thuẫn hiển
nhiên trong kinh nghiệm sống của loài người (xảy ra, chẳng hạn như, từ việc nhận
thức được rằng mỗi bản thân là vừa là cá nhân chủ động vừa là một người chứng
kiến thụ động những gì có trong thế giới) và phải làm xóa bỏ đi những mâu thuẫn
đó bằng cách làm cho chúng tương thích lẫn nhau. Quá trình này được gọi là
"Hegelian
dialectic". Các triết gia theo truyền thống của Hegel bao gồm Ludwig
Andreas Feuerbach, Karl Marx, Friedrich Engels và đôi khi những người Anh theo
chủ nghĩa lý tưởng.
Đa số triết lý của thế kỉ 20, bao gồm cả chủ nghĩa hiện tượng lục địa (Continental
phenomenology) và trường phái
triết học phân tích của Anh-Mỳ, có liên quan đến
việc phủ nhận chủ nghĩa lý tưởng, và những giả thuyết của Descartes ẩn dưới đó.
Chủ nghĩa thực dụng
Bài chi tiết: Chủ nghĩa thực dụngWilliam James
Vào cuối thế kỷ 19, hai triết gia Mỹ, Charles Peirce và William James, đã đồng
sáng lập ra học thuyết "
chủ nghĩa thực dụng" (pragmatism). Về sau học thuyết này
được
John Dewey phát triển thành thuyết công cụ (instrumentalism). Những người
theo chủ nghĩa thực dụng cho rằng chân lý của đức tin không nằm trong sự tương
hợp của họ với thực tại mà nằm ở sự hữu ích và hiệu quả. Bởi lẽ, sự hữu ích của
bất kỳ đức tin nào, trong bất kỳ thời điểm nào, có thể phụ thuộc vào hoàn cảnh.
Peirce và James đã khái niệm hóa chân lý cuối cùng là cái chỉ được thiết lập trong
tương lai, tức cái được đúc kết bởi tất cả các quan điểm. Những nhà phê bình buộc
tội chủ nghĩa thực dụng là sự sai lầm của tư duy, vì cách nghĩ này đã quá tin vào
đó tất cả các ngành của kiến thức loài người, trong một cấu trúc nhận thức của một
cá nhân (ego) lý tưởng, siêu việt. Sau đó, ông cố gắng sắp xếp quan điểm siêu việt
của ông và thừa nhận là thế giới liên quan lẫn nhau mà trong đó các đối tượng cá
nhân tương tác với nhau. Husserl chỉ xuất bản vài cuốn sách trong cuộc đời mình,
xem hiện tượng học như là những từ ngữ trừu tượng, nhưng để lại nhiều phân tích
cụ thể chưa được xuất bản.
Các tác phẩm của Husserl đã có ảnh hưởng ngay lập tức ở Đức, với sự hình thành
các trường phái về hiện tượng học ở
München và Göttingen. Hiện tượng học sau
này đã nổi tiếng thế giới nhờ vào công của các triết gia như là
Martin Heidegger,
trước đây là trợ lý nghiên cứu của Husserl,
Maurice Merleau-Ponty và Jean-Paul
Sartre. Heidegger đã phát triển việc nghiên cứu hiện tượng học để minh họa một
hermeneutic. Hermeneutic là một phương pháp diễn đạt sách vở bằng cách lấy ra ý
nghĩa của cuốn sách trong hoàn cảnh nó được viết ra. Heidegger đã nhấn mạnh hai
yếu tố mới của triết lý hermeneutic: rằng người đọc đem nghĩa của cuốn sách
trong thời điểm hiện tại, và rằng các công cụ của hermeneutic có thể được sử dụng
để diễn đạt những thứ ngoài sách vở
[9]
. Các tên tuổi gắn với sự phát triển của
hermeneutic bao gồm
Hans-Georg Gadamer và Paul Ricoeur. Cũng thông qua các
tác phẩm của Heidegger, và Sartre, chúng ta thấy tập trung của Husserl trên các
kinh nghiệm chủ quan đã ảnh hưởng đến các khía cạnh của
chủ nghĩa hiện sinh.
Chủ nghĩa hiện sinhSøren Kierkegaard
người (Dasein), phải được phân tích theo các thể loại của chủ nghĩa hiện sinh
(existentiale), đã làm nhiều bình luận viên xem ông như là một nhân vật quan
trọng trong phong trào chủ nghĩa hiện sinh.
Chắc chắn là ông đã ảnh hưởng lên
Jean-Paul Sartre người mà, cùng với Albert
Camus và Simone de Beauvoir, có lẽ đã trở thành những người ủng hộ nổi tiếng
nhất cho chủ nghĩa hiện sinh, khai phá nó không chỉ trong những tác phẩm mang
tính lý thuyết như magnum opus của ông
Tồn tại và sự trống rỗng (L'Être et le
Néant), mà còn trong các vở kịch và các cuốn tiểu thuyết. Sartre, Camus và de
Beauvoir tất cả đều đại diện cho một nhánh vô thần của chủ nghĩa hiện sinh, mà
bây giờ có liên hệ gần hơn với những ý tưởng của họ về
nausea, contingency,
niềm tin xấu và lố bịch hơn là những ý tưởng mang tính tôn giáo angst của
Kierkegaard. Tuy nhiên, sự tập trung vào cá nhân con người, chịu trách nhiệm
trước vũ trụ cho sự chân thực của sự tồn tại của anh/cô ta, là điểm chung của tất cả
các triết gia.
Truyền thống triết học phân tích
Triết học phân tích được phát triển để chỉ trích Hegel và những theo triết lý của
ông. Vào năm
1921, Ludwig Wittgenstein xuất bản cuốn sách Tractatus Logico-
Philosophicus, đưa ra một hệ thống logic vững chắc về các vấn đề của ngôn ngữ
và triết học. Vào thời gian đó, ông đã hiểu rằng đa số các vấn đề của triết học chỉ
là những bài toán đố của ngôn ngữ, mà có thể giải thích được dễ dàng bởi các suy
nghĩ rõ ràng. Nhiều năm sau đó ông đã đảo ngược lại nhiều lập trường của ông
được đưa ra trong cuốn Tractatus, như là được viết ra trong cuốn sách thứ hai của
ông Philosophical Investigations (1953) (Khảo sát về triết học). Investigations đã
khuyến khích sự phát triển của "triết học ngôn ngữ bình dân", được phát triển bởi
Gilbert Ryle, J. L. Austin, và một số người khác. Những người theo "triết học bình
dân" có cùng cách nhìn với nhiều triết gia xưa hơn (
Socrates
Có thể phân chia triết học Hy Lạp cổ đại thành
thời kỳ tiền Socrates, thời kỳ
Socrates và thời kỳ hậu Aristotle. Thời kỳ tiền Socrates có đặc trưng là các suy
đoán
siêu hình học, thường dưới hình thức của các mệnh đề tổng quát có ý nghĩa
bao hàm lớn, chẳng hạn "Tất cả đều là lửa", hay "Tất cả đều biến đổi". Các triết
gia tiền Socrates quan trọng gồm có
Thales, Anaximander, Anaximenes,
Democritus, Parmenides và Heraclitus. Thời kỳ Socrates được đặt tên để vinh
danh nhân vật nổi bật nhất của
triết học phương Tây, Socrates, người đã cùng với
Plato, học trò của mình,
cách mạng hóa triết học qua việc sử dụng phương pháp
Socrates, nhờ đó đã phát triển những phương pháp rất tổng quát cho việc định
nghĩa, phân tích và tổng hợp. Tuy bản thân Socrates không viết gì, nhưng ảnh
hưởng của ông đã được truyền bá qua các tác phẩm của Plato. Các tác phẩm của
Plato thường được xem là các tài liệu cơ bản của triết học, vì chúng đã định nghĩa
các
vấn đề nền tảng của triết học cho các thế hệ sau. Các vấn đề này và các vấn đề
khác đã được Aristotle tiếp thụ, ông là người đã học tại
Hàn lâm viện (trường của
Plato), ông thường bất đồng quan điểm với những gì Plato đã viết. Thời kỳ hậu
Aristotle đã mở đầu bởi những triết gia như
Euclid, Epicurus, Chrysippus, triết gia
Yếm thế Hipparchia, Pyrrho và Sextus Empiricus.
Triết học thời Trung cổ
René Descartes
Triết học hiện đại thường được xem là được khởi đầu từ nghiên cứu của René
Descartes. Nghiên cứu của ông đã chịu ảnh hưởng lớn từ các trao đổi của ông với
các nhà triết học khác. Ví dụ, sự thúc giục của
Pierre Gassendi và Công chúa
Elizabeth xứ Bohemia đã làm Descartes cố gắng thiết lập các câu trả lời có sức
thuyết phục hơn cho
vấn đề tâm-thân (mind-body problem)
[15]
.
Triết học thời Trung cổ đã quan tâm chủ yếu tới các
luận cứ từ giai cấp thống trị,
và việc phân tích các kinh sách cổ bằng lôgic của Aristotle. Thời
Phục hưng đã
thấy một dòng chảy các quan niệm mới, các quan niệm này đòi hỏi xem xét lại
quyền lực. Roger Bacon (1214–1294?) là một trong các tác giả đầu tiên kêu gọi
việc đưa các quyền lực hiện tại ra xem xét bằng thực nghiệm và lý tính.
Niccolò
Machiavelli (1469–1527) đã thách thức các quan niệm truyền thống về đạo đức.
Francis Bacon (1561–1626) đã viết các nội dung ủng hộ các phương pháp khoa
học trong phát kiến triết học.
Triết học phân tích và triết học lục địa
Bài chi tiết: Triết học phân tích và triết học lục địa
Trong giai đoạn hiện đại của triết học, bắt đầu vào cuối thế kỉ 19 và kéo dài đến
những năm 1950, đã được đánh dấu bởi hố sâu ngăn cách giữa truyền thống "Lục
địa" và truyền thống phân tích có liên quan đến nhiều nước nói tiếng Anh.
Những thứ nằm bên dưới truyền thống phân tích, đặc biệt là giai đoạn ban đầu của
truyền thống này, là quan điểm (nguyên là được bảo vệ bởi Ockham) rằng các lỗi
lầm trong triết học là phát sinh từ những hiểu lầm trong ngôn ngữ. Theo một số
triết gia phân tích, ý nghĩa thật sự của các câu bình thường được "ẩn bởi dạng ngữ
ngôn ngữ như là điểm bắt đầu và phân tích ngôn ngữ như là phương pháp chính
của triết học, hiện tượng học lấy trải nghiệm nhận thức làm điểm bắt đầu và phân
tích chi tiết của những trải nghiệm đó - đó là, "phân tích hiện tượng" - như là
phương pháp của nó. Một vài nhân vật quan trọng trong truyền thống triết học
phân tích như là Wilfrid Sellars và Hector-Neri Castaneda đã lý luận rằng phân
tích ngôn ngữ thật ra là một dạng nghiên cứu hiện tượng bởi vì nó sử dụng trải
nghiệm của chúng ta như là những người dùng ngôn ngữ để trả lời các câu hỏi triết
học. Thực vậy, họ đã lý luận rằng triết học phân tích chỉ là một dạng của hiện
tượng học, và hiệu quả là triết học phân tích có thể bỏ qua truyền thống bắt đầu
với hiện tượng học chỉ làm tổn hại chính nó mà thôi.
Đạo đức học và triết học chính trị ở phương Tây
Bản chất con người và tính hợp pháp chính trịThomas Hobbes
Từ thời cổ đại, và xa xưa hơn nữa, nguồn gốc của tính hợp pháp của các thế lực
chính trị là không thể nào tránh khỏi mối liên hệ chặt chẽ với bản chất con người.
Trong The Republic (Cộng hòa)
Plato đã tuyên bố rằng xã hội lý tưởng phải được
điều hành bởi một hội đồng của các
vua-triết gia, bởi vì những người giỏi triết học
thường là có khả năng nhận thức được điều tốt đúng đắn nhất. Tuy nhiên, ngay cả
Plato cũng yêu cầu các triết gia phải gia nhập và tự khẳng định mình trong xã hội
nhiều năm trước khi bắt đầu công việc trị vì vào tuổi năm mươi. Đối với
Aristotle,
con người là động vật chính trị (nghĩa là động vật xã hội), và nhà nước được thiết
lập để theo đuổi điều tốt cho cộng đồng. Aristotle lý luận rằng, bởi vì nhà nước
(polis) là dạng cao nhất của cộng đồng, nó có mục đích theo đuổi điều tốt đẹp
nhất. Aristotle xem rằng quyền lực chính trị như là kết quả của các bất bình đẳng
tự nhiên trong tài năng và đạo đức. Bởi vì những sự khác biệt này, ông ta ủng hộ
bằng cách thiết lập một
chính quyền, nó được trao quyền cai quản toàn bộ cộng
đồng, và có khả năng làm cho người khác phải kính sợ.
Nhiều người trong thời đại Khai sáng đã không thỏa mãn với những học thuyết
đang có trong triết học chính trị, các học thuyết làm giảm đi hay không chú trọng
đến khả năng của một
nước dân chủ. Jean-Jacques Rousseau là một trong những
người cố gắng lật đổ những học thuyết này: ông đáp lại Hobbes bằng tuyên bố
rằng con người về bản chất tự nhiên là một dạng "
noble savage", và rằng xã hội và
những thỏa thuận xã hội đã làm hỏng đi bản chất tự nhiên đó. Một người chỉ trích
khác là John Locke. Trong
Second Treatise on Government ông đồng ý với
Hobbes rằng quốc gia-nhà nước là một công cụ hiệu quả để đưa con người ra khỏi
trạng thái đáng ghét đó, nhưng ông lý luận rằng the sovereign might become an
abominable institution compared to the relatively benign unmodulated state of
nature
[16]
.
Chủ nghĩa nhân quả, đạo nghĩa luận, và đức hạnh học
Bài chi tiết: Chủ nghĩa nhân quả, đạo nghĩa luận, và đức hạnh họcJeremy Bentham
Triết học phương Đông
Bài chi tiết: Triết học phương Đông
Triết học phương Đông kế thừa các truyền thống lớn bắt nguồn từ hoặc đã phổ
biến tại
Ấn Độ và Trung Quốc cổ. Các nhà triết học phương Đông chính yếu gồm
Kapila, Yajnavalkya, Thích Ca Mâu Ni, Akshapada Gotama, Nagarjuna, Khổng
different interactions with the
Old Iranian philosophy, the Greek philosophy and
with the development of
Islamic philosophy. The Illumination School and the
Transcendent Philosophy are regarded as two of the main philosophical traditions
of that era in Persia.
[sửa] Triết học Ấn Độ
Trong lịch sử của tiểu lục địa Ấn Độ, theo sau sự thiết lập của nền văn hóa
Aryan/Vedic, sự phát triển của các tư tưởng triết học và tôn giáo đã phát triển
trong một giai đoạn trên 2 thiên niên kỉ đã đưa đến sự phát triển của 6 trường phái
của triết học Hindu aastika (chính thống). Những trường phái này được xem là
đồng nghĩa với
Ấn Độ giáo, là một phát triển của Tôn giáo Veda lịch sử.
Triết học Hindu đã làm nên một phần của văn hóa của Nam Á, ảnh hưởng đến tận
miền
Đông Nam Á.
[sửa] Triết học Trung Quốc
Bài chi tiết: Triết học Trung QuốcKhổng Tử, minh hoạ trong Myths & Legends of China,
1922, của E.T.C. Werner
Triết học có ảnh hưởng rất sâu rộng đến nền văn minh Trung Hoa, và cả Đông Á.
Nhiều
trường phái triết học đã được hình thành trong thời kỳ Xuân Thu và Chiến
Quốc, và được biết với tên gọi Bách gia chư tử. Bốn trào lưu có ảnh hưởng nhất là
Nho gia, Đạo gia, Mặc gia và Pháp gia. Sau này, vào thời nhà Đường, Phật giáo từ
Ấn độ cũng trở thành một trào lưu tôn giáo và triết học. (Cũng nên lưu ý là trong
tư tưởng phương Đông, không giống với Tây phương, giữa triết học và
tôn giáo
học tìm hiểu về sự hiểu biết, bằng chứng cụ thể và sự thật thoả đáng. Hai thí dụ
của nhận thức luận và
logic áp dụng trong thực tế hằng ngày là tin tức báo chí và
các cuộc điều tra của cảnh sát. Nhận xét, suy diễn logic chung chung có khả năng
rất kỳ diệu, giúp cho công dân có thể phán xét khi nghe, đọc tin tức hay bài bình
luận, thảo luận. Triết lý trong khoa học tìm hiểu vá giải thích về những khúc mắc
trong phương pháp khoa học.
Mỹ học giúp diễn đạt về nghệ thuật. Ngay cả bản thể
học, một ngành triết rất trừu tượng và có vẻ ít có áp dụng nào thực tiễn, lại góp
phần quan trọng trong
suy luận logic của ngành khoa học máy tính.
Nói chung, nhiều loại "luận lý" (như "luận lý về luật") có khả năng giúp người
trong chuyên môn hiểu thấu đáo hơn về lý thuyết và khái niệm trong ngành của
mình.
Thường thì triết học được xem là một nghiên cứu một lĩnh vực chưa được hiểu đủ
để có thể trở thành nhánh tri thức của riêng mình. Những gì ngày xưa từng chỉ là
các chủ đề triết học thì đến thời hiện đại đã trở thành các ngành riêng, chẳng hạn
tâm lý học, xã hội học, ngôn ngữ học, và kinh tế học. Khoa học máy tính, khoa
học nhận thức và trí tuệ nhân tạo là các lĩnh vực nghiên cứu hiện đại mà triết học
đã từng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển.
Moreover, a burgeoning profession devoted to applying philosophy to the
problems of ordinary life has recently developed, called
philosophical counseling.
Many Eastern philosophies can and do help millions of people with anxiety
problems through their emphasis on meditation for calming the mind and the
connection between the health of the body and the health of the soul.